Vấn đề công bố thông tin kế toán các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán VN - Pdf 37

MỞ ĐẦU

-

***

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, sau hơn hai mươi hai năm
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường, nhất là trong
khoảng hơn mười năm trở lại đây với mức tăng trưởng bình quân 7%, năm năm gần
đây bình quân 7,5%, riêng năm 2007 là 8,5% (nguồn: gso.gov.vn), xu thế phát triển
kinh tế ngày càng mạnh mẽ đã làm sức bật cho thị trường tài chính phát triển một
cách nhanh chóng, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng tăng trong toàn nền kinh tế.
Yêu cầu về vốn thúc đẩy thị trường vốn không ngừng phát triển, từ đó dẫn đến
sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, khi mà các tổ chức tài chính trung
gian đã có trước đây, không thể đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Thi trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, hoạt động của thị trường có
những yêu cầu rất khác biệt so với các thị trường truyền thống như thị trường hàng
hoá, dịch vụ, thị trường lao động …, hàng hoá lưu thông, mua, bán trên thị trường
là chứng khoán, đây là các công cụ chu chuyển vốn của nền kinh tế, những hoạt
động kinh doanh trên TTCK dựa vào thông tin là chính, lấy niềm tin làm cơ sở cho
sự tồn tại và phát triển của thị trường.
Trong các loại thông tin được cung cấp trên thị trường thì TTKT được cung
cấp đưới dạng các báo cáo tài chính quý, năm là những thông tin có vai trò quan
trọng đặc biệt, nó có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ cung – cầu chứng khoán, là
động lực cho quyết định mua vào, bán ra của nhà đầu tư trên thị trường sau khi
phân tích các BCTC được công bố. Mặt khác đứng trên phương diện vĩ mô nền
kinh tế, những TTKT của các DNNY cũng phần nào nói lên tình hình chung của
toàn nền kinh tế, tình hình sức khoẻ tài chính quốc gia.
Vietluanvanonline.com

củng cố niềm tin của các chủ thể kinh doanh. Về phía Nhà nước nhằm thực hiện
điều này, đã ban hành Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành vào

Vietluanvanonline.com

Page 2


đầu năm 2007. Đối với TTCK Việt Nam, đây là lần đầu tiên có một hệ thống luật
pháp hoàn chỉnh. Để có thể phần nào đó nhận định đúng thị trường, chúng tôi đã
chọn ra ba năm 2006 – 2007 – 2008 để nghiên cứu, đánh giá, vì các lý do sau:
- Năm 2006 là năm có mức tăng đột biến về số lượng cũng như giá trị cổ phiều
các công ty đăng ký và niêm yết nhiều nhất trên TTCK kể từ ngày mới thành lập
cho đến nay (SGDCK Tp HCM: năm 2005: 35 công ty; năm 2006: 106 công ty).
- Năm 2007 là năm lần đầu tiên Quốc hội ban hành Luật Chứng khoán, Chính
phủ và Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hoàn chỉnh hệ
thống luật pháp về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Năm 2008 là năm thứ hai các báo cáo tài chính, nhất là báo cáo tài chính năm
được thực hiện và công bố trong điều kiện có một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh
trên TTCK.
- Một lý do quan trọng nữa là cũng trong những năm này, hiện tượng đầu tư tràn
lan vào thị trường chứng khoán. Từ nửa cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, có
khoảng 10 tỷ Đô la Mỹ và 300 ngàn tỷ đồng của nhà đầu tư nước ngoài và các tổ
chức cá nhân trong nước bơm vào TTCK và thị trường bất động sản 1, ngay lập tức
đã tạo ra giai đoạn thị trường bong bóng ( đầu năm 2006 VNIndex trong khoảng
trên 300 điểm, đã tăng mạnh vào cuối năm 2006 và đầu năm 2007, đạt đỉnh vào
ngày 12/3/2007: 1.170 điểm, và trở lại trong khoảng trên 300 điểm vào cuối năm
2008) , đây cũng là nguyên nhân gây nên tình hình lạm phát cao khiến Chính phủ
phải sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ.
- Mặt khác trong giai đoạn này cũng tồn tại nhiều bất cập trong điều hành vĩ mô

những ý kiến kiến nghị đối với các chủ thể hoạt động trên thị trường với mục đích
sao cho thông tin kế toán công bố trên thị trường ngày càng trung thực, hợp lý,
chính xác, kip thời và minh bạch.

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian, khả năng nghiên cứu và các lý do bất khả kháng
khác, trong luận văn chỉ đề cập đến báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên
TTCK, và cũng chỉ dùng tư liệu là báo cáo tài chính thường niên của các doanh
nghiệp niêm yết trên SGDCK TpHCM (HOSE) trong ba năm : 2006 – 2007 –

Vietluanvanonline.com

Page 4


2008, kết hợp với phần khảo sát, thống kê thực tế, để phân tích, đánh giá đưa ra
định hướng và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT trên TTCK mà
thôi.

Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như chọn mẫu nghiên cứu, điều
tra, khảo sát, thống kê mô tả, phân tích và các dữ liệu quá khứ đã tập hợp được
thông qua các biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số phân tích …, kết hợp so sánh, đối chiếu
với hệ thống luật pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến các lĩnh
vực mà đề tài nghiên cứu, từ đó đánh giá tình hình thực tế, đưa ra một số giải pháp
kiến nghị đối với các chủ thể có liên quan trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc khoa
học và đảm bảo tính khách quan trong các giải pháp trình bày.

Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, và phụ lục, đề tài được chia làm ba phần chính

những kiến thức, tư liệu lịch sử để lại là các tài liệu được ghi chép dưới dạng văn tự
cổ xưa, trong đó các nhà khảo cổ đã tìm thấy những tài liệu có liên quan đến kinh
tế, cổ vật đã được tìm thấy đầu tiên là các bản khắc axít bằng đất nung cách đây
hơn 3.300 năm trước công nguyên, hồ sơ ghi chép bằng chữ tượng hình các khoản
thuế của người Ai Cập cổ đại 2.
Công việc ghi chép lại các sự kiện có liên quan đến các hoạt động kinh tế
trong xã hội luôn là những vấn đề thực tiễn được con người quan tâm hàng đầu,
trong suốt con đường hoạt động cho mục đích tồn tại và phát triển của cộng đồng
người, trước khi nó chính thức trở thành một môn khoa học với một hệ thống các lý
thuyết, giải thích dựa trên những cơ sở khoa học có sự hỗ trợ của các môn học khác
như toán học, triết học, logic học…, và có tên gọi là hạch toán kế toán như bây
giờ.
Tuy nhiên, công việc ghi chép cũng có tính chất vận động riêng của nó, ở giai
đoạn đầu việc ghi chép chỉ mang tính chất phản ảnh, sao chép, ghi lại các sự kiện
hiện thực trong đời sống kinh tế, chỉ từ khi con người phát minh ra chữ viết và số,
cùng với sự ra đời của toán học dựa trên các chữ số và ký hiệu đã đem lại cho công
việc ghi chép các sự kiện kinh tế giá trị thực sự của nó, hạch toán kế toán và thông
tin kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình hoạt
động kinh tế của con người nhất là vào giai đoạn hiện nay.

Vietluanvanonline.com

Page 6


Với mục đích đạt được hiệu quả kinh tế cao trong các hoạt động kinh tế, thông
tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác, và trên tất cả mọi mặt. Trong
bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, các hoạt động kinh tế rất đa dạng, có nhiều lĩnh
vực khác nhau, nhưng dù ở trong lĩnh vực nào đi nữa thì thông tin kế toán luôn
mang tính chất quan trọng và không thể thiếu, qua đó cho phép chúng ta hiểu rõ về

vì thế thông qua số liệu thống kê người ta có thể rút ra các quy luật vận động, xu
thế phát triển của sự vật hiện tượng.
- Hạch toán kế toán là việc phản ảnh một cách thường xuyên, tổng hợp, liên
tục và có hệ thống các sự kiện kinh tế phát sinh trong một đơn vị kinh tế cần xem
xét, theo dõi. Việc phản ảnh các sự kiện kinh tế này thông qua các thước đo là tiền,
hiên vật và thời gian lao động.
“Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” 3.
Mục đích của kế toán là cung cấp thông tin, thông tin được cung cấp cho
nhiều đối tượng khác nhau, và với các yêu cầu khác nhau, vì thế kế toán được chia
thành hai phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Kế toán tài chính cung cấp những thông tin tổng hợp tình hình dịch chuyển
các nguồn lực tài chính trong, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt
động khác trong doanh nghiệp…, nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng bên
trong và bên ngoài, chủ yếu là các đối tượng ngoài doanh nghiệp. Thông tin của kế
toán tài chính là những thông tin quá khứ (đã xảy ra rồi), được ghi chép lại vì vậy
đòi hỏi phải chính xác, độ tin cậy cao, mặt khác việc quan trọng nhất của báo cáo
tài chính là nó mang tính quyết định cuối cùng.
“Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông
tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng
thông tin của đơn vị kế toán” 4 .
Kế toán quản trị cũng cung cấp những thông tin kế toán có liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh như chi phí, thu nhập, của từng bộ phận, sản phẩm cụ thể

Vietluanvanonline.com

Page 8


cũng như của từng khâu, từng loại sản phẩm, các thông tin này nhằm mục đích



trường hàng hoá, thị trường tài chính – tiền tệ, quyết định
- điều tiết, hoạch định
chính sách vĩ mô của các cơ quan quản lý.
Mặt khác thông tin kế toán đó là các báo cáo tài chính thường kỳ, còn phản ảnh
thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ các báo cáo này nhà quản lý có thể đánh
giá một cách đúng đắn và toàn diện hoạt động kinh doanh mà mình đang quản lý,
hiệu quả thực tế trong công tác điều hành, khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề
ra và quan trọng hơn cả là từ các thông tin này giúp cho hoạt động sản xuất kinh
doanh ngày càng mang lại hiệu quả cao hơn.
Vấn đề công bố thông tin kế toán trên TTCK.
Các nước có TTCK trên thế giới, nhìn chung đều yêu cầu các công ty niêm yết
trên thị trường phải công bố TTKT theo quy định của các tổ chức quản lý, điều
hành thị trường. Công bố BCTC thường kỳ trên thị trường chứng khoán là cung cấp
thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết về: tình hình tài sản, nguồn vốn,
kết quả sản xuất kinh doanh, mức cổ tức được chia …, sở dĩ vấn đề công bố TTKT
được đặt ra vì các lý do sau:
- Nhằm mục đích công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính của doanh
nghiệp niêm yết, phục vụ yêu cầu của tất cả cổ đông trong công ty, cũng như các
chủ thể khác có nhu cầu.
- Thị trường chứng khoán là nơi tập trung phần lớn nguồn vốn đầu tư cho toàn
bộ nền kinh tế, hàng hoá của thị trường này chủ yếu là cổ phiếu của các công ty
niêm yết, chất lượng của hàng hoá chính là hiệu quả kinh tế hiện tại, giá trị ước tính
trong tương lai của doanh nghiệp, và chỉ BCTC mới có thể cung cấp cho nhà đầu tư
tình hình tài chính theo yêu cầu, và cơ sở dữ liệu này được dùng để nhà đầu tư phân
tích tài chính doanh nghiệp, đồng thời ra quyết định đầu tư.
- Trên TTCK công việc kinh doanh chủ yếu dựa vào các thông tin được cung
cấp trên thị trường, vì thế yêu cầu của thị trường là thông tin phải được cung cấp


Trong quá trình phát triển của nền KTTT, nhu cầu về vốn cung ứng cho nền
kinh tế ngày càng cao, tốc độ giao dịch trong sản xuất, thương mại ngày càng phát

Vietluanvanonline.com

Page 11


triển, vòng quay vốn trong lưu thông hàng hoá tăng lên cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, song song với tình hình phát triển tài chính – tiền tệ, các
công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng nhanh chóng phát
triển, từ đó nảy sinh các quan hệ mua, bán các loại công cụ tài chính này, đặc biệt
là các loại chứng khoán được luật pháp cho phép lưu thông, mua bán trên thị
trường. Chính sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã hình thành nên thị trường
tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán các chứng khoán (bao gồm cả hai
loại ngắn và dài hạn), với mục đích giải quyết các nhu cầu về vốn đầu tư.
Mặt khác sự thay đổi về mô hình hoạt động của doanh nghiệp, dưới hình thức
vốn tự có của công ty được chia thành nhiều cổ phần có mệnh giá bằng nhau và
được gọi là công ty cổ phần, quan trọng hơn cả là việc luật pháp cho phép mua bán
các loại cổ phần trong công ty cổ phần, đi đôi với việc phát hành cổ phiếu huy động
vốn trong công chúng để phục vụ cho mục đích tái sản xuất mở rộng của doanh
nghiệp.
Sự phát triển lớn mạnh của thị trường tài chính, cùng với yêu cầu thực hiện cơ
chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang tổ chức phát hành mà không thông qua
định chế trung gian nào, hay nói khác đi đó là đáp ứng yêu cầu chu chuyển vốn đầu
tư có chi phí thấp, yêu cầu này đã hình thành nên một loại thị trường cao cấp đó là
TTCK, việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn là chứng khoán vốn và
chứng khoán nợ, được diễn ra tập trung tại TTCK, trên hệ thống giao dịch điện tử
của Sở giao dịch chứng khoán và các hệ thống giao dịch không tập trung khác có
liên thông với nhau, nhằm mục đích kết nối giữa tổ chức phát hành và các nhà đầu

- Mục đích của đợt phát hành, kế hoạch sử dụng vốn.
- Thông tin về các nhà quản lý cấp cao của doanh nghiệp.
- Tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông lớn (theo quy định riêng).
- Các hình thức bảo lãnh (nếu có).
- Các yêu cầu khác …

Vietluanvanonline.com

Page 13


Đặc trưng của thị trường sơ cấp đó là kênh đầu tư giai đoạn một của các nhà
đầu tư trong và ngoài nước, nguồn vốn giao dịch tại đây sẽ cung ứng trực tiếp cho
những hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức phát hành.
Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã qua giao dịch lần
đầu trên thị trường sơ cấp, và đây chính là hàng hoá của thị trường. trên thị trường
thứ cấp, hoạt động mua đi bán lại diễn ra giữa các chủ thể tham gia thị trường mà
không làm tăng thêm quy mô về vốn đầu tư, không tạo ra nguồn tài chính mới cho
các tổ chức phát hành, các khoản thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các
nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên giữa hai thị trường này
luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau.
Việc mua bán trên thị trường thứ cấp dựa vào:
- Quan hệ cung cầu trên thị trường.
- Các giá trị của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường như: giá trị hiện tại, giá
trị tương lai, xu thế phát triển …
- Tâm lý của nhà đầu tư.
- Các thông tin có liên quan đến tình hình kinh tế - tài chính quốc gia, thế giới
và tình hình hoạt động của các DNNY.
Thị trường sơ cấp là cơ sở, nơi cung cấp hàng hoá cho thị trường thứ cấp, thị

thuận lợi, công bằng, minh bạch và đúng pháp luật cho các chứng khoán của các tổ
chức đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch.
Thị trường phi tập trung (Over The Counter Market – Thị trường OTC).
Bên cạnh thị trường giao dịch tập trung, thị trường chứng khoán còn có thị
trường giao dịch phi tập trung, tại đây dành cho những công ty chưa đủ điều kiện
giao dịch tại Sở giao dịch, việc giao dịch chủ yếu thông qua yết giá và thương
lượng trực tiếp giữa người mua và người bán về các chứng khoán mà họ sở hữu,
điều kiện giao dịch trên thị trường này tương đối đơn giản, chỉ cần không vi phạm
luật pháp trong quan hệ mua bán.
Ngoài hai thị trường chính thức này, trong các quốc gia có TTCK luôn tồn tại
một thị trường thứ ba, đó là các hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán

Vietluanvanonline.com

Page 15


theo những hợp đồng miệng hoặc trao tay, các hoạt động mua bán này căn cứ vào
sự tín nhiệm lẫn nhau của các nhà đầu tư.
Để quản lý thị trường OTC, ở một số nước thành lập Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán quốc gia, Hiệp hội này ban hành quy chế thị trường, kết nạp và khai
trừ thành viên, giám sát việc thực hiện quy chế của các chủ thể tham gia thị trường.
Cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán
Điều hành và giám sát thị trường
Thông lệ chung trên thế giới, điều hành, giám sát TTCK là các cơ quan quản
lý của Chính phủ, chịu trách nhiệm chính là Ủy ban Chứng khoán (Commission of
Securities Market), đây là cơ quan chức năng chuyên ngành của Nhà nước trong
lĩnh vực chứng khoán, chỉ thực hiện công việc quản lý chung chứ không trực tiếp
điều hành, giám sát thị trường.
Ủy ban chứng khoán có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh hoạt

tham gia thị trường này phải đăng ký với Hiệp hội, và phải chấp hành các quy định
do Hiệp hội đề ra.
- Theo dõi việc thực hiện giao dịch giữa khách hàng và các công ty chứng
khoán thành viên, điều tra và xử lý các vi phạm nếu có.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đưa ra các đề xuất và gợi ý với cơ
quan quản lý, điều hành của Nhà nước về các vấn đề vĩ mô của thị trường chứng
khoán.
Các chủ thể khác
Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn trên thị trường sơ cấp,
gồm chính quyền các cấp, các công ty và các tổ chức tài chính với mục đích chuyển
dịch nguồn lực tài chính trực tiếp giữa nhà đầu tư và tổ chức huy động, nhằm mục
đích phục vụ các hoạt động kinh tế.
Hàng hoá của các tổ chức này gồm có: Trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa
phương, trái phiếu công ty, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư …
Nhà đầu tư:

Vietluanvanonline.com

Page 17


Nhà đầu tư là những chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng khoán, nhà đầu
tư có thể chia thành 2 nhóm: các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư là tổ chức.
- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
- Nhà đầu tư là tổ chức: hay còn gọi là định chế đầu tư, thường xuyên mua
bán chứng khoán với số lượng lớn, công việc đầu tư được thực hiện do một bộ
phận gồm những chuyên gia có kinh nghiệm về thị trường.
Đầu tư thông qua các tổ chức có ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mục

quan hệ cung cầu quyết định, mua và bán chứng khoán được thực hiện theo phương
thức đấu giá và tự do cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường với nhau.
- Nguyên tắc công khai
Chất lượng của hàng hoá chứng khoán không thể kiểm tra như các loại hàng
hoá thông thường khác mà phải dựa trên những thông tin có liên quan. Vì vậy luật
pháp quy định việc công bố thông tin là một nghĩa vụ của các tổ chức niêm yết và
phát hành chứng khoán, thông tin phải được công bố qua các phương tiện thông tin
đại chúng. Sở giao dịch, CTCK và các tổ chức có liên quan khác.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị
trường, mọi người đều phải tuân thủ những quy định chung, được chia sẻ thông tin
cũng như chịu trách nhiệm nếu vi phạm các quy định đó.
Nguyên tắc này để bảo vệ nhà đầu tư, tuy nhiên nó cũng hàm chứa ý nghĩa nhà
đầu tư phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình khi đã được
cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác theo đúng quy định.
Các hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán
Thị trường nào cũng có những kẻ lợi dụng kẽ hở luật pháp để trục lợi một cách
phi pháp, TTCK cũng vậy, các hành vi khá phổ biến trên thi trường gồm có:
- Đầu cơ chứng khoán, lũng đoạn thị trường
Công việc được thực hiện từ một nhóm nhà đầu tư cấu kết với nhau để mua hoặc
bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo, làm cho giá cả cổ
phiếu tăng hoặc giảm đột ngột, lũng đoạn thị trường.
- Mua bán nội gián

Vietluanvanonline.com

Page 19


Là hành vi của kẻ lợi dụng quyền hành hay sự ưu- tiên trong việc có được các
thông tin nội bộ của công ty, từ đó mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty đó trên

Niêm yết lần đầu là sau khi được phép của SGDCK, cổ phiếu của công ty cổ
phần lần đầu tiên được giao dịch trên TTCK.
Niêm yết bổ sung gồm các dạng sau:
- Tăng vốn bằng cách phát hành chứng quyền, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu.
- Trả cổ tức bằng cổ phiếu.
- Phát hành cổ phiếu thưởng.
Thay đổi niêm yết được dùng trong trường hợp:
- Thay đổi tên của tổ chức niêm yết.
- Tách, gộp cổ phiếu
Niêm yết lại được áp dụng cho:
- Chứng khoán của công ty đã bị hủy niêm yết
- Chia, tách, sáp nhập các công ty niêm yết và chưa niêm yết hoặc các công ty
niêm yết với nhau.
Hủy niêm yết trong các trường hợp:
- Hủy niêm yết tự nguyện
- Hủy niêm yết bắt buộc
Các tiêu chuẩn niêm yết:
- Tiêu chuẩn định lượng bao gồm các tiêu chuẩn thời gian hoạt động, tổng vốn
cổ phần, doanh thu, lợi nhuận, cơ cấu, số lượng cổ đông công ty.
- Tiêu chuẩn định tính thường liên quan đến chất lượng hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty, được xác định thông qua báo cáo kiểm toán của tổ chức
kiểm toán có kèm báo cáo tài chính đã kiểm toán của DN, các vấn đề có liên quan
đến tranh chấp trong kinh doanh, các khoản nợ phải trả, nợ phải thu, các khoản liên
doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con, tình hình nhân sự quản lý cấp cao của công
ty, các cổ đông lớn, các cổ đông nắm quyền kiểm soát công ty …

Vietluanvanonline.com

Page 21



Page 22


Thông tin được công bố trên thị trường được thực hiện theo quy định của các cơ
quan quản lý thị trường trực tiếp và gián tiếp. Tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin
là yêu cầu quan trọng và là điều kiện bắt buộc khi các tổ chức muốn được niêm yết
trên Sở giao dịch.
Căn cứ vào thời điểm công bố, thông tin được chia làm 3 loại:
Thông tin định kỳ
Gồm các BCTC của các tổ chức niêm yết theo quy định như BCTC quý, BCTC
năm, trong đó BCTC năm phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán, và các thông
tin mà các DNNY phải công bố khác theo yêu cầu của Sở giao dịch chứng khoán.
Thông tin bất thường
Các vấn đề có liên quan đến tình hình hoạt động của tổ chức như: các thay đổi
về nhân sự, thay đổi về nguồn vốn, tài sản, các sự kiện có liên quan đến tình hình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các vấn đề tranh chấp và các vấn đề có
liên quan khác.
Thông tin công bố theo yêu cầu
Các tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của các cơ
quan quản lý, điều hành trực tiếp và gián tiếp trên TTCK, nội dung thông tin công
bố phải nêu ra sự kiện được các cơ quan quản lý yêu cầu, nguyên nhân, mức độ xác
thực, các giải pháp xử lý (nếu có).
Thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ
Nhân sự cấp cao và những người có liên quan trong tổ chức niêm yết, có thực
hiện giao dịch cổ phiếu, trái phiếu mà mình sở hữu, thì phải được công bố thông tin
trước và sau khi thực hiện giao dịch, kể cả giao dịch không thông qua hệ thống giao
dịch như cho, tặng, thừa kế …, nếu đã thông báo thông tin giao dịch mà không thực
hiện cũng phải công bố thông tin, đồng thời nêu rõ lý do.


Các cơ quan quản lý điều hành trực tiếp và gián tiếp thị trường quy định thực
hiện việc CBTT của các tổ chức niêm yết, trước hết tạo sự ổn định cho môi trường

Vietluanvanonline.com

Page 24


hoạt động kinh doanh của thị trường về mặt pháp lý, thúc đẩy sự phát triển của thị
trường, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào nền kinh tế.
Các tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ trên thị trường, ngoài việc cung cấp
dịch vụ cho các nhà đầu tư họ cũng là các nhà đầu tư, như vậy ảnh hưởng của thông
tin kế toán của các tổ chức niêm yết có tầm quan trọng nhiều mặt đối với hoạt động
kinh doanh của họ, nhất là khoản doanh thu dịch vụ và chứng khoán tự doanh, về
phía các nhà đầu tư, ảnh hưởng của công bố thông tin cũng tác động rất lớn đến
tâm lý của họ trên thị trường.
Ngoài ra TTCK cũng là phong vũ biểu của nền kinh tế (nếu bây giờ chưa thì sau
này sẽ), vì thông thường các DNNY là những công ty có hiệu quả kinh doanh cao
hàng đầu trong các lĩnh vực ngành nghề mà các tổ chức này tham gia trong nền
kinh tế đất nước, vì vậy thông qua những diễn biến trên thị trường, các nhà quản lý,
điều hành vĩ mô có thể nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh chung toàn nền
kinh tế, từ đó có những bước đi thích hợp nhằm phát triển kinh tế quốc gia.
Việc công bố TTKT nói riêng và việc công bố thông tin nói chung cũng chính
là yêu cầu bức thiết trong việc thực hiện thị trường tự do cạnh tranh, bình đẳng,
hiệu quả và lành mạnh.
1.2.4 Các yêu cầu về chất lượng thông tin và CBTT.
Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán, đều có yêu cầu công bố thông
tin phải kịp thời, chính xác theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy yêu cầu về
chất lượng thông tin công bố phải được đặt lên hàng đầu, bởi vì nguồn vốn của các
tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán thực sự là sở hữu của nhiều nhà đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status