DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
Giới thiệu tổng quan quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc
áp dụng và hiệu lực thi hành văn bản quy phạm pháp luật
Ts Vũ Đức Long
Hiệu lực và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
Trong thực tế, để sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật, chúng ta
cần phải xác định rõ hiệu lực của chúng. Hiệu lực của văn bản quy phạm
pháp luật là giá trị tác động của văn bản quy phạm pháp luật lên các quan
hệ xã hội được xác định trong phạm vi thời gian (khi nào), không gian (ở
đâu) và đối tượng tác động nhất định (đối với ai). Trong đó, hiệu lực về
không gian của văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu được xác định theo cơ
quan ban hành văn bản; hiệu lực về đối tượng phụ thuộc vào nội dung của
các quy phạm được đưa ra nhằm điều chỉnh hành vi của chủ thể nào; hiệu
lực về thời gian tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… mà
trong đó các quy phạm pháp luật tồn tại và phát huy tác dụng.
1. Các nguyên tắc liên quan đến hiệu lực của văn bản
Khi nói đến hiệu lực của văn bản, người ta thường nói đến hiệu lực
về không gian, về thời gian (thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản và
thời điểm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật), hiệu lực về
đối tượng áp dụng; hiệu lực về thứ bậc giá trị pháp lý của văn bản.
1.1. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy
phạm pháp luật
1
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là
giá trị tác động của văn bản được xác định trong phạm vi lãnh thổ, vùng
trừ trường hợp văn bản bị giới hạn bởi nhu cầu điều chỉnh pháp luật không
phải đối với toàn bộ, mà chỉ một phần lãnh thổ.
1.1.2. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp
a) Hiệu lực về không gian
Theo Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (Luật năm 2004) thì: “Văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phải quy định hiệu lực
về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng”, theo đó, để cụ thể hóa điều
này, Điều 49 của Luật này đã quy định rõ hiệu lực về không gian, đối
tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân:
“1. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân của đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị
hành chính đó.
2. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi nhất định của địa
phương thì phải được xác định ngay trong văn bản đó.
3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân có hiệu lực áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham
gia các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật đó điều chỉnh”.
Nếu như các cơ quan nhà nước trung ương được thiết lập ở tầm quốc
gia thì các cơ quan chính quyền địa phương lại được tổ chức ở các đơn vị
hành chính - lãnh thổ. Thẩm quyền và phạm vi quản lý của Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ giới hạn trong khuôn khổ một địa bàn
lãnh thổ nhất định. Vì vậy, văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
3
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
Trong trường hợp nhiều đơn vị hành chính được sáp nhập thành một
đơn vị hành chính mới thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân của đơn vị hành chính được sáp nhập có hiệu lực đối
với đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế.
Ví dụ: Xã A, xã B và xã C được sáp nhập thành xã D thì văn bản của
các xã A, B và C vẫn còn có hiệu lực cho đến khi Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân xã D ban hành văn bản mới thay thế.
- Trường hợp sáp nhập một phần đơn vị hành chính lãnh thổ:
Trong trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành
chính này được sáp nhập về một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân của đơn vị hành
chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận và bộ phận dân cư
được sáp nhập.
Ví dụ: Xã A thuộc huyện B được sáp nhập vào xã C thuộc huyện D
thì văn bản của các xã C có hiệu lực đối với dân cư của xã A. Hoặc ví dụ
khác: Thôn K thuộc xã M được sáp nhập vào xã N thì văn bản của xã N có
hiệu lực đối với dân cư thôn K của xã M.
b) Hiệu lực về đối tượng áp dụng
Hiệu lực về đối tượng áp dụng liên quan mật thiết đến hiệu lực theo
lãnh thổ của văn bản quy phạm pháp luật. Tương ứng với mỗi chủ thể quản
lý có một nhóm đối tượng chịu quản lý. Nhìn chung, đối tượng áp dụng văn
bản quy phạm pháp luật là những cá nhân, tổ chức. Bên cạnh các cá nhân,
tổ chức nêu trên, còn có những đối tượng chịu sự quản lý của một địa
phương, song lại đang ở trên một địa bàn thuộc quyền quản lý của một địa
phương khác. Kết hợp giữa nguyên tắc xác định hiệu lực theo không gian
5
6
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
Giai đoạn
01/01/1997 -
27/12/2002 -
27/12/2002
01/01/2009
(Luật BHVBQPPL
(Luật BHVBQPPL
1996)
2002)
Loại VB
Có hiệu lực kể từ
Do QH và
UBTVQH
ban hành
2008)
Có hiệu lực kể từ
Do
01/01/2009 – nay
văn bản đó quy định văn bản đó quy định
ngày có hiệu lực ngày có hiệu lực
khác.
khác.
mươi lăm ngày, kể
từ ngày công bố
hoặc ký ban hành.
- Văn bản quy phạm
pháp luật phải được
đăng Công báo; văn
Có hiệu lực sau Có hiệu lực sau bản quy phạm pháp
mười lăm ngày, kể mười lăm ngày, kể luật không đăng
từ ngày ký văn bản từ ngày đăng Công Công báo thì không
Các vb còn
hoặc có hiệu lực báo hoặc có hiệu có hiệu lực thi hành.
lại
muộn hơn nếu được lực muộn hơn nếu
quy định tại văn bản được quy định tại
đó.
tình trạng khẩn cấp, đăng
Công
báo.
thì văn bản có thể - Văn bản có nội
quy định ngày có dung thuộc bí thộc bí
hiệu lực sớm hơn so mật nhà nước không
với các văn bản cần đăng Công báo
thường.
vẫn có hiệu lực.
Luật ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân (01/04/2005 – nay)
VBQPPL cấp tỉnh có hiệu lực sau mười ngày và phải được
đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày
HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành, trừ
trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn.
của VB quy định các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề phát
HĐND và sinh đột xuất, khẩn cấp có thể quy định ngày có hiệu lực sớm
VB
UBND
hơn.
VBQPPL cấp huyện có hiệu lực sau mười ngày và phải
được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày
HĐND thông qua hoặc Chủ tịch UBND ký ban hành, trừ
định đó.
9
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
- Cần có thời gian để các chủ thể chuẩn bị cho việc triển khai văn
bản và để các cơ quan cấp dưới có thời gian chuẩn bị, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, ví dụ: để bỏ
chế độ luật sư kiêm nhiệm thì phải có thời gian để xây dựng đội ngũ luật sư
chuyên trách.
- Có thời gian để chuẩn bị cho việc đưa văn bản vào cuộc sống.
a) Về thời điểm (bắt đầu) có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước ở trung ương
Điều 78 của Luật năm 2008 quy định thời điểm có hiệu lực của văn
bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương như sau:
“1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy
định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày
công bố hoặc ký ban hành.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi
hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng
yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày
công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin
điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông
tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất sau hai ngày làm việc, kể từ
ngày công bố hoặc ký ban hành.
2. Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản
quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành.”
Tuy nhiên, đối với quy định này, trên thực tế, qua kết quả khảo sát tại một số Bộ, ngành và địa
phương thì nhiều ý kiến cho rằng: Điều 78 Luật BH VBQPPL năm 2008 quy định về thời điểm có hiệu
lực của VBQPPL tối thiểu là 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. Việc quy định cụ thể thời hạn
tối thiểu này đôi khi cũng gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện của các bộ ngành.
Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy có nhiều ý kiến cho rằng nên xem xét, rút ngắn thời
điểm có hiệu lực đối với một số các văn bản, ví dụ những trong ngành tài chính như thuế xuất nhập khẩu,
giá hay như những văn bản cần xây dựng hàng năm như hạn ngạch thuế quan, hiệp định…. Kết quả thu
được từ bảng hỏi cũng cho thấy tỷ lệ ít hơn cán bộ soạn thảo VBQPPL cho rằng nên quy định cứng thời
hạn tối thiểu có hiệu lực của VBQPPL so với ý kiến cho rằng chỉ nên quy định chung chung hoặc không
quy định cứng thời hạn tối thiểu có hiệu lực VBQPPL (tỷ lệ lần lượt là 40% và 57%) - theo Báo cáo kết
quả khảo sát 2 Luật BHVBQPPL của DEPOCEN.
11
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
theo quy định tại Điều 75 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2002:
"1. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ
trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.
2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ
ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực
khác.
3. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch có hiệu lực
sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo hoặc có hiệu lực muộn hơn
nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của
trên Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin
trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất sau hai
ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành”.
2
Về thời điểm có hiệu lực của văn bản, một số ý kiến của chuyên gia cho rằng cần tiếp tục đổi
mới cách thiết kế thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL: Việc thiết kế thời điểm có hiệu lực của văn
bản QPPL hiện nay còn khá cứng nhắc và máy móc. Thông thường, với các đạo luật, thời điểm có hiệu
lực so với thời điểm thông qua tuy đã có khoảng thời gian tương đối dài (khoảng 7-8 tháng), nhưng nhiều
đạo luật vẫn rơi vào tình trạng đạo luật có hiệu lực rồi nhưng các văn bản hướng dẫn vẫn chưa kịp thời
ban hành. Đối với các văn bản dưới luật, pháp lệnh, thời điểm phát sinh hiệu lực thường khá ngắn so với
thời điểm ban hành. Thêm vào đó, điều đáng nói nữa là thời điểm có hiệu lực của các quy định trong cùng
văn bản thường được quy định đồng nhất nhau. Điều này trên thực tế đã không tạo điều kiện thuận lợi cho
các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp có những điều chỉnh cần thiết để thay đổi hành vi.
Chúng tôi cho rằng, tới đây, khi quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL, Luật Ban hành văn
bản QPPL cần có quy định linh hoạt hơn về khoảng cách giữa thời điểm phát sinh hiệu lực với thời điểm
ban hành, rất nên cho phép quy định trong một văn bản QPPL có thể có những bộ phận hoặc quy định
khác nhau thì có thời điểm phát sinh hiệu lực khác nhau. Có như thế, yêu cầu đảm bảo tính khả thi của
văn bản QPPL sẽ tốt hơn - TS. Nguyễn Văn Cương – Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư
pháp: Một số giải pháp tăng cường tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.
13
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
Một nguyên tắc cần lưu ý là việc đăng Công báo văn bản quy phạm
như không áp dụng được3, ví dụ: trong quá trình soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật thuộc Bộ Tài chính, nhiều văn bản được ban hành để thực
hiện một số cam kết quốc tế về thuế, chính sách hỗ trợ tài chính đã có quy
định thời điểm hiệu lực trước; văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài
chính ban hành để triển khai việc thực hiện một số cam kết của Việt Nam
liên quan đến thuế, chính sách tài chính tại các Điều ước quốc tế đã ký kết,
gia nhập và đã có quy định rõ hiệu lực. Tại các Điều ước quốc tế ghi rõ thời
điểm phải thực hiện cam kết (ví dụ: trong thời gian qua Bộ Tài chính đã
ban hành các Quyết định về điều chỉnh thuế suất nhập khẩu đối với một số
mặt hàng để thực hiện theo lộ trình cắt giảm thuế suất nhập khẩu đối với
một số mặt hàng theo lộ trình cắt giảm thuế suất của Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỳ, điều chỉnh thuế suất đối với mặt hàng rượu để thực
hiện thỏa thuận giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Cộng đồng châu Âu về tiếp cận thị trường…, trình Chính phủ ban hành
các Nghị định điều chỉnh thuế suất CEPT theo lộ trình cam kết trong
ASEAN), nhiều trường hợp cần thiết phải áp dụng quy định hiệu lực trở về
trước của văn bản. Tuy nhiên, do chưa có quy định cụ thể và quy trình áp
dụng nên đã gặp một số vướng mắc trong quá trình đăng Công báo văn bản
quy phạm pháp luật.
b) Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
3
Theo kết quả khảo sát về Luật BHVBQPPL do DEPOCEN thực hiện thì việc quy định về hiệu
lực hồi tố chưa được thực hiện trên thực tế, số lượng văn bản quy định hiệu lực hồi tố cũng rất ít và phần
lớn cũng không thực hiện được. Do đó cần cân nhắc, xem xét những quy định những hiệu lực hồi tố có lợi
cho người dân và cách thức tổ chức cụ thể để đảm bảo tính khả thi của quy định.
15
16
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
lượt đối với cấp tỉnh, huyện, xã) ngày kể từ ngày Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
ký ban hành thì văn bản có thể có hiệu lực ngay sau khi ký.
Đối với việc áp dụng quy định về hiệu lực sớm hơn, văn bản được
áp dụng là quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã.
Điều cần lưu ý là chỉ văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành và trong
trường hợp để giải quyết các vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp trong
phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự.
Mặc dù có quy định của Điều 51 năm 2004 nhưng trong thực tiễn áp
dụng, vẫn có nhiều người hiểu rằng văn bản sẽ có hiệu lực ngay sau 10
ngày đối với văn bản của cấp tỉnh, sau 7 ngày đối với văn bản của cấp
huyện và sau 5 ngày đối với văn bản của cấp xã và ít chú ý tới quy định
“trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn”.
Điều cần được nhấn mạnh ở đây là văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cần phải quy định rõ trong chính văn
bản thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản. ví dụ: thay vì quy định
“Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân ký ban hành" thì nên quy định “Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày
… tháng … năm…”. Ngoài ra, cũng cần chú ý quy định thời điểm khi có
sự cân nhắc về khoảng thời gian cần thiết để dành cho công tác tuyên
truyền, phổ biến nội dung của văn bản đến đối tượng thi hành hoặc để
chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức thực hiện văn bản đó.
Với bất cứ một văn bản quy phạm pháp luật nào, nếu như người dân
không được biết vì không thể biết thì họ không có nghĩa vụ phải thi hành.
Đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cũng vậy,
nếu như người dân không biết hoặc có biết mà không thể hiểu được thì văn
hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại quyết định đình chỉ việc thi
hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
18
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
- Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy
phạm pháp luật phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
Như vây, một văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp
luật có thể bị tạm thời “ngưng hiệu lực” để xem xét tính hợp hiến, hợp
pháp, tính thống nhất của văn bản. Kể từ thời điểm nó bị tạm đình chỉ thi
hành cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền là khoảng
thời gian văn bản bị tạm ngưng hiệu lực. Văn bản đó có thể tiếp tục có hiệu
lực hay bị hủy bỏ là do quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
1.3.2. Ngưng hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân
Tương tự như việc ngưng hiệu lực của văn bản do cơ quan nhà nước
ở trung ương ban hành, Điều 52 của Luật năm 2004 quy định văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngưng hiệu lực
trong các trường hợp sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý
của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền; trường hợp không bị hủy
bỏ, bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực; trường hợp bị hủy bỏ, bãi bỏ thì
văn bản hết hiệu lực.
- Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực hoặc hết hiệu lực
của văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định rõ tại văn bản đình chỉ
quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, hủy bỏ. Hoặc trưởng hợp văn bản
được quy định chi tiết đã có hiệu lực nhưng văn bản quy định chi tiết chưa
được ban hành dẫn tới trường hợp nhiều quy định không thể thực thi do
chưa có văn bản hướng dẫn. Qua thực tiễn công tác xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật trong thời gian qua cho thấy, việc các văn bản quy định chi
20
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP QUỐC GIA (NLD)
tiết để hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh luôn chậm, không đảm bảo có
hiệu lực cùng thời điểm với văn bản được quy định chi tiết4. Đây cũng là
một bất cập mà trong thời gian quan có rất nhiều ý kiến phản ánh.
Trước đây, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 2002 thì : "văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản
hết hiệu lực thì cũng đồng thời hết hiệu lực cùng với văn bản đó, trừ trường
hợp được giữ lại toàn bộ hoặc một phần vì còn phù hợp với các quy định
của văn bản quy phạm pháp luật mới".
Quy định này được hiểu là khi văn bản gốc - văn bản được quy định
chi tiết, hướng dẫn thi hành- hết hiệu lực thì các văn bản quy định chi tiết,
4
Trong số 46 luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua từ đầu
nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, tính đến nay, có 37 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực thi hành và 09 luật, pháp
lệnh chuẩn bị có hiệu lực thi hành. Tính đến ngày 15/10/2013, kết quả quy định chi tiết, hướng dẫn thi
hành 46 luật, pháp lệnh như sau:
- Đối với 37 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực:
+ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 73/131 văn bản (55,7%) quy định chi tiết, hướng
dẫn 85/154 nội dung được giao;
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã ban hành 25/69 văn bản (36,2%) quy định chi tiết,
(Điều 4) quy định: “văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày công chứng
viên ký và đóng dấu…”. Trong khi đó, Điều 692 Luật Dân sự 2005 quy
định “hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng
ký quyền sử dụng theo quy định của Luật Đất đai”; còn Điều 188 Luật Đất
đai 2013 quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “có hiệu
lực từ thời điểm được đăng ký vào sổ địa chính”. Như vậy, thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của
Luật công chứng và Luật đất đai là khác nhau. Trong khi đó, theo tinh thần
của Bộ luật dân sự thì hướng giải quyết trường hợp mâu thuẫn giữa các luật
là ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành (trong trường hợp này là áp dụng
Luật Đất đai 2013), nhưng theo quy định của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật 2008 thì nếu cùng một cơ quan ban hành văn bản nhưng có
mâu thuẫn thì áp dụng văn bản ban hành sau (trong trường hợp này là áp
dụng Luật Công chứng). Từ đó, dẫn tới trên thực tế khi áp dụng có những
điểm “vênh” nhau, các cơ quan quản lý nhà nước vẫn áp dụng các quy định
có lợi cho ngành mình. Điều này có thể dẫn đến việc áp dụng tùy tiện pháp
luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.
Trường hợp đối với các Thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ ban hành, nếu có mâu thuẫn thì rất khó để xác định văn bản nào
25