sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp giúp học sinh khiếm thính lớp 1b thực hiện phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số : ...........................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH LỚP 1B THỰC HIỆN
PHÉP TRỪ TRONG PHẠM VI 100 (TRỪ KHÔNG NHỚ)

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
Giáo dục khuyết tật- Môn Toán
Có đính kèm:
Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Hiện vật khác

Năm học 2012 – 2013

------------------

1


SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

2


MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH LỚP 1B
THỰC HIỆN PHÉP TRỪ KHÔNG NHỚ TRONG PHẠM VI 100
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong cuộc sống toán học được ứng dụng rộng rãi và có vai trò quan trọng.
Nó giúp chúng ta có thể trao đổi trong mua bán và làm giàu cho nền kinh tế. Chính
vì thế môn toán được chọn là môn học bắt buộc trong tất cả các trường từ bậc học
thấp đến bậc học cao.
Toán là môn học chính cho nên không phân biệt học sinh ở cấp bậc nào hay
các em ở hoàn cảnh nào, ở dạng tật đặc biệt nào – tất cả đều được học những kiến
thức cơ bản nhất. Đối với học sinh lớp 1, sau khi hoàn thành chương trình môn
toán các em có thể thực hiện các phép tính cộng trừ (không nhớ) trong phạm vi 100
cùng với một số bài toán đơn giản và làm quen với các dạng hình học cơ bản cũng
như một số đơn vị đo đại lượng.
Cũng như vậy, các học sinh khiếm thính cũng được học như các bạn bình
thường khác. Các em được làm quen với toán học cơ bản cho đến những phép tính
và bài toán phức tạp hơn. Lớp 1 là lớp nền tảng cho các lớp khác về tất cả các môn
học trong đó có toán. Các em sẽ được học từ các khái niệm nhiều hơn, ít hơn, bằng
nhau cho đến làm quen với số đếm và số lượng; sau đó là đến các phép tính cộng
trừ trong phạm vi 10, 20; ...;.. các phép tính cộng trừ (không nhớ) trong phạm vi
100. Do bị khiếm khuyết về khả năng thính giác cho nên học sinh khiếm thính
cũng gặp nhiều khó khăn trong việc học các môn học, nhất là môn toán. Nếu học
sinh bình thường nghe giảng và thực hành là hiểu bài, nhưng học sinh khiếm thính
nghe giảng thông qua ngôn ngữ kí hiệu và thực hành là chưa đủ. Các em phải được
dạy với nhiều phương pháp và biện pháp phù hợp với dạng tật của mình và của
từng em thì các em mới tiếp thu bài một cách tốt nhất.
Là giáo viên dạy học sinh khiếm thính lớp 1B nhiều năm, tôi nhận thấy các
em gặp nhiều khó khăn trong việc học toán nhất là thực hiện phép trừ (không nhớ)

trẻ khuyết tật Đồng Nai như sau: Các lớp học theo chương trình sách giáo khoa của
Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện hành, Trung tâm đã điều chỉnh chương cho phù hợp
với học sinh khiếm thính thực hiện trong 6 năm. Trong đó chương trình lớp 1 học
trong 2 năm, năm đầu là lớp 1A, năm sau là lớp 1B. Lớp 1A học theo chương trình
học kì I của lớp 1 theo quy định của Bộ, lớp 1B học theo chương trình học kì II của
lớp 1 theo quy định của Bộ. Còn các lớp từ lớp 2 đến lớp 5, mỗi lớp học 1 năm.
Do vậy môn toán của lớp 1B tại Trung tâm học theo chương trình học kỳ II
của lớp 1 theo quy định của Bộ. Tức là các em sẽ học các kiến thức: Các số trong
phạm vi 100; đo độ dài; giải bài toán; phép cộng, phép trừ trong phạm vi 100; đo
thời gian.
Một tuần các em sẽ học 6 tiết, một bài sẽ học trong 2 tiết, nội dung bài học sẽ
được kéo dãn và các em sẽ có nhiều thời gian thực hành để có thể nắm vững được
kiến thức cơ bản.
1.3. Việc thực hiện phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 của học sinh
khiếm thính lớp 1B tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai.
Theo phân bố chương trình, các em học sinh lớp 1B tại Trung tâm sẽ học hai
phần trong sách giáo khoa môn Toán lớp 1 là phần 3 và phần 4: Phần 3 gồm các số
trong phạm vi 100, đo dộ dài, giải bài toán; phần 4gồm: phép cộng, phép trừ trong
phạm vi 100, đo thời gian.
Như chúng ta đã biết, do bị hạn chế về khả năng nghe hoặc không còn nghe
thấy âm thanh mà ngôn ngữ của trẻ khiếm thính không giống với trẻ bình thường.
Để trao đổi, giao tiếp với xung quanh các em sử dụng rất nhiều cách khác nhau.
Như:Ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ tự nhiên, ngôn ngữ kí hiệu, ngôn ngữ chữ cái ngón
tay, ngôn ngữ hình miệng, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói... Những ngôn ngữ này xét
về một mặt nào đó cũng chưa thể giúp học sinh khiếm thính có thể hiểu hết những
khái niệm sự vật hiện tượng xung quanh các em cũng như diễn đạt ý nghĩ của mình
cho người khác hiểu.
Trong quá trình học môn toán các em thực sự gặp khó khăn khi chuyển từ
phép cộng sang phép trừ. Những lỗi các em thường mắc phải đó là:
- Nhầm lẫn giữa phép cộng và phép trừ. Khi mới chuyển sang học tính trừ các

hành các bài tập trong sách giáo khoa, đó là cả một quá trình từ việc chuẩn bị của
giáo viên, việc chuẩn bị của học sinh, việc thay đổi nội dung hình thức các bài tập,
đến việc kích thích sự hứng thú của học sinh trong môn toán. Tất cả kết hợp với
nhau một cách chọn lọc mới đem lại hiệu quả cao nhất cho học sinh. Sau đây là
quá trình tôi thực hiện các giải pháp giúp học sinh khiếm thính học tốt môn toán.
2.1. Chuẩn bị của giáo viên:
Khi dạy một bài mới thì sự chuẩn bị của giáo viên rất quan trọng. Người
giáo viên sẽ phải lên kế hoạch cho bài dạy với những hoạt động phù hợp nhằm
giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách tốt nhất. Ở phần này giáo viên phải
nắm được những học sinh có điểm mạnh điểm yếu nào để có những điều chỉnh phù
hợp khi đưa ra yêu cầu hay giảm tải nội dung bài học. Ngoài ra người giáo viên
còn đưa ra cho học sinh yêu cầu về nhà chuẩn bị trước cho những bài tiếp theo.
Ví dụ: Bài “Phép trừ trong phạm vi 100 (trừ không nhớ) sách giáo khoa,
trang 158.Các bước chuẩn bị của giáo viên như sau:
- Đầu tiên sẽ yêu cầu học sinh về nhà đọc trước bài sẽ học, tìm hiểu nội dung
của bài học. Điều này sẽ giúp các em biết được tiết sau mình học gì, bài học như
thế nào và có tâm thế sẵn sàng lĩnh hội kiến thức. Các em khá giỏi có thể sẽ nắm
được một phần kiến thức sắp học. Như bài học này là chuyển từ phép cộng không
nhớ sang phép trừ không nhớ, chắc chắn các em đọc trước sẽ thấy có sự khác biệt
và sẽ chú ý vào bài học hơn.

5


- Trong phần chuẩn bị giáo án: giáo viên sẽ hình thành bài này mình dạy
trong 4 hoạt động. Mỗi hoạt động sẽ hình thành cách thức tổ chức khác nhau để
học sinh có thể tiếp thu kiến thức tốt nhất và hứng thú nhất. Cụ thể:
+ Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ: Giáo viên phát phiếu học tập để kiểm tra
kiến thức bài trước là ôn tập lại phép cộng không nhớ trong phạm vi 100. Hình
thức này giúp giáo viên bao quát được cả lớp có nắm được những kiến thức mình

phép cộng, đơn giản nhất là dấu “+”, dấu “-” khác nhau, kết quả cũng khác nhau.
2.3. Sử dụng trò chơi vào việc học toán.
Học mà chơi, chơi mà học, việc tổ chức các trò chơi vào trong học toán là
rất cần thiết. Khi tham gia trò chơi các em sẽ có hứng thú với môn học mà không
cảm thấy sợ hay ngại. Từ việc hứng thú học tập sẽ là động lực để các em tích cực
trong việc nắm bắt các kiến thức mới, nhất là những kiến thức khó hoặc hay bị
nhầm lẫn. Ngoài ra trong trò chơi còn có tính cạnh tranh để giành thắng thua, sẽ
thúc đẩy các em phải làm sao để giành chiến thắng trong cuộc chơi đó. Trong trò
chơi các em khá giỏi sẽ hỗ trợ các em yếu cũng như rèn kỹ năng làm việc theo
6


nhóm, để giúp nhóm thắng lợi thì tất cả các thanh viên phải hoạt động tích cực. Trò
chơi lôi kéo được tất cả các học sinh cùng tham gia đầy hào hứng. Ngoài ra đối với
học sinh khiếm thính, trò chơi là minh họa cụ thể dễ hiểu nhất các yêu cầu, nội
dung cần học với các em. Vì không nghe thấy hoặc nghe không rõ các lời giảng
của giáo viên nên không phải em nào cũng hiểu được, nhưng khi được minh họa
bằng trò chơi, các em nhìn thấy, các em được thực hành thì các em lại nắm bài rất
nhanh.
Một số trò chơi thường được sử dụng trong môn toán:
- Trò chơi tiếp sức: Trò chơi này thường là những bài tập điền kết quả hoặc
điền số, áp dụng cho những bài có yêu cầu “tính”. Trò chơi này mang tính thi đua
cao, phải nhanh và đúng thì mới thắng. Trò chơi này giúp các em thích thú với việc
tính toán. Yêu cầu nhanh đúng sẽ kích thích các em phải nhớ cách tính đúng, ra kết
quả đúng để thi đua với các bạn. Điều này sẽ giúp các em phân biệt phép cộng với
phép trừ, thực hiện đúng cách tính và ghi nhớ được bảng cộng trừ trong phạm vi
10. Ngoài ra trò chơi giúp các em thể hiện tinh thần đoàn kết trong nhóm, nêu cao
tính tập thể.
Ví dụ: Bài 1/ trang 158/ SGK Toán 1.
Tổ chức trò chơi tiếp sức: giáo viên chia 2 nhóm, mỗi nhóm được ghi các

Để làm được bài tập này thì học sinh phải nắm được quy tắc đặt tính và tính;
đặt tính xong phải trừ cho đúng tức là thuộc bảng cộng trừ trong phạm vi 10; từ đó
mới biết mình nên điền đúng hay sai.
Ví dụ 2: Bài 5/ trang 160/ SGK Toán 1.
Tổ chức trò chơi “ ai nhanh ai đúng”: Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm. Mỗi
nhóm được phát một thẻ số 54, 71, 32. Yêu cầu trong 30 giây các nhóm phải lên
bảng và lấy vềcác thẻ phép tính có kết quả tương ứng với thẻ số mình có. Nhóm
nào lấy nhanh và chính xác thì nhóm đó thắng. Các nhóm nhận xét lẫn nhau, giáo
viên nhận xét chung, khen thưởng nhóm nhanh và đúng.
Để làm được bài này thì học sinh phải sử dụng kĩ năng tính toán để có đáp
án đúng và tìm ra đúng phép tính tương ứng với số mà nhóm đang có. Điều này
củng cố cách tính và ghi nhớ bảng cộng trừ trong phạm vi 10, ngoài ra các em khá
giỏi sẽ hỗ trợ các bạn yếu trong nhóm của mình. Một điều quan trọng nữa là các
em hứng thú với bài tập vì được vận động và cảm thấy không bị áp lực trong khi
tính toán.
- Trò chơi “ tìm nhà”: Áp dụng trò chơi này để học sinh phân biệt được
phép cộng, phép trừ, hoặc điền dấu (<, >, =) hoặc tìm đúng kết quả của phép tính
mình đang có như các em tìm đúng nhà của mình.
Ví dụ 1: Bài 1/ trang 169/ SGK Toán 1.
Tổ chức “trò chơi tìm nhà”: Giáo viên cho đặt mô hình 3 nóc nhà tương ứng
với các dấu “<”, “>”, “=” trên bảng. Mỗi học sinh được phát một thẻ có ghi 1 biểu
thức có trong bài tập. Trong thời gian 30 giây các học sinh phải về đúng nóc nhà
tương ứng ở trên bảng bằng việc gắn thẻ của mình dưới nóc nhà đó. Học sinh nào
chọn sai nhà sẽ bị phạt và các bạn còn lại sẽ giúp bạn tìm về đúng nhà của mình.
Với trò chơi này sẽ giúp các em độc lập trong tính toán, các em hứng thú với
bài tập hơn là việc giáo viên ra yêu cầu và bắt học sinh làm bài tập trong sách giáo
khoa. Những em chậm trong việc tính toán sẽ được các bạn giúp đỡ, lớp học sẽ rất
sinh động và vui vẻ.Tự bản thân các học sinh yếu sẽ nhận ra là mình làm sai ở
phần nào và phải sửa như thế nào để có kết quả đúng và về đúng nhà mình.
Ví dụ 2: Bài 5/ trang 160/ SGK Toán 1.


2.5. Thay đổi hình thức một số bài tập trong sách giáo khoa.
đôi các học sinh khiếm thính thì việcNhóm
Để việc học đơn giản Nhóm
hơn với
thay đôi
đổi
hình thức một số các bài tập trong sách giáo khoa sẽ giúp các em dễ hiểu và giảm
áp lực học tập. Việc thay đổi hình thức này thường áp dụng cho những em yếu
kém để các em dễ tiếp cận với kiến thức và đơn giản nội dung học tập mà vẫn
không thay đổi mục tiêu cần đạt. Một số hình thức thay đổi như sau:
 Dạng 1: Bài tập phân biệt phép cộng, phép trừ.
Đây là dạng bài tập giúp các em phân biệt đúng phép cộng và phép trừ để
làm bài cho đúng khi mà các em mới chuyển từ phép cộng sang phép trừ. Học sinh
khiếm thính thường học tập theo thói quen, cho nên đang học phép cộng mà
chuyển sang phép trừ các em vẫn chưa hình thành được kiến thức mới để làm tính
đúng.
9


Bài 1: Điền dấu “+” hoặc dấu “-”Bài tập này giúp các em hình thành trong đầu
khái niệm về dấu cộng (+) và dấu trừ (-) khác nhau:
Ví dụ: Bài 2/ trang 160/ SGK Toán 1.
Thay yêu cầu tính nhẩm bằng yêu cầu điền “+”, “-” với những con số có sẵn
trong bài và ra kết quả, thêm một số phép tính có kết quả là điền phép cộng để cho
học sinh củng cố sự khác nhau giữa cộng và trừ.
Bài 2: Chuyển các phép tính thành các bài toán có lời văn sử dụng “thêm vào”
hoặc “bớt đi”
Bài tập này giúp các em dễ dàng tiếp thu được khái niệm “thêm vào” thì làm
tính cộng, “bớt đi” thì làm tính trừ vì ngôn ngữ kí hiệu của hai khái niệm này rất rõ

nhưng để giúp các học sinh khiếm thínhhọc tốt thì giáo viên có thể thay đổi một số
bài tập thành dạng điền đúng hay sai để giúp các em luyện tập phân biệt được cách
đặt tính và tính đúng.
Ví dụ: Bài 3/ trang 176/ SGK Toán 1.
Yêu cầu của bài là đặt tính rồi tính thì có thể thay bằng yêu cầu điền đúng,
sai sau khi chuyển các phép tính hàng ngang thành cột dọc và tính ra kết quả; có
những kết quả đúng do đặt tính và tính đúng, có kết quả sai do đặt tính và tính sai.
Học sinh phải biết thực hành đúng để điền đúng với những kết quả cho trước.
10


63
+
25

94
34

87
14

62
62

31
+
56

55
33

Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động cho học sinh thì người giáo viên cũng phải có
những hình thức khen thưởng khích lệ kịp thời để khuyến khích các em tích cực
trong việc học của mình. Có thể thưởng điểm hoặc bằng các trò chơi, đồ vật đơn
giản gần gũi với các em để các em có hứng thú với môn học.
Song song với việc khen thưởng và tổ chức hoạt động thì giáo viên cũng cần
chuẩn bị các đồ dùng học tập phong phú và những phiếu ghi lại các phép tính treo
trong lớp giúp học sinh ôn tập và ghi nhớ bảng cộng trừ trong phạm vi 10, các số
từ 1 đến 100. Việc treo hợp lý sẽ giúp cho học sinh ghi nhớ các kiến thức đã học và
làm cho lớp học trở nên sinh động và lôi cuốn học sinh tích cực học tập. Bởi học
sinh khiếm thính là những em có khả năng quan sát và ghi nhớ bằng hình ảnh
nhanh nhẹn, những sự vật hình ảnh luôn xuất hiện trước mắt sẽ in sâu vào trí não
các em, để các em có thể vận dụng vào việc học tập của mình.
2.7. Kết hợp với phụ huynh và người chăm sóc:
Việc phối hợp với phụ huynh rất quan trọng, giúp cho giáo viên và cả người
chăm sóc trẻ nắm được tình hình học tập và sự tiến bộ của trẻ, từ đó có kế hoạch cụ
thể để giúp các em có những tiến bộ trong việc học toán nói riêng và trong học tập
nói chung. Ngoài ra, thời gian học ở lớp cũng không nhiều bằng việc trẻ ở gia đình,
cha mẹ, người chăm sóc trẻ có thể kèm thêm cho trẻ.
Hướng dẫn phụ huynh cách học cùng con mình ở nhà vì đa số phụ huynh
đều hạn chế trong vấn đề giao tiếp bằng kí hiệu ngôn ngữ với đứa con bị khuyết tật
thính giác của mình.
Phối hợp với giáo viên bộ môn để nhắc nhở, uốn nắn nhằm giúp các em có ý
thức học tập tốt hơn.
Trên đây chỉ là một số biện pháp được sử dụng phổ biến để giúp các em
khiếm thính thực hiện đúng phép trừ trong phạm vi 100( trừ không nhớ) khi học
môn toán tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai. Để rèn cho các em kĩ
năng thực hiện đúng thì không nhất thiết phải áp dụng theo một biện pháp cụ thể
nào mà có thể kết hợp nhiều biện pháp với nhau để đem lại hiệu quả tốt nhất. Điều
quan trọng khi rèn kĩ năng là phải kiên trì và được rèn luyện thực hành trong một
thời gian dài.

2. Kết quả sau khi áp dụng các giải pháp và bài tập thay thế về thực hiện
phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 cho học sinh khiếm thính lớp 1B tại
Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai.
Từ những thực trạng trên,sau một thời gian thực hiện các giải pháp và các bài
tập thay thế của đề tài đã đề ra, kết quả đạt được như sau:
Bảng thống kê học sinh khiếm thính lớp 1B thực hiện
phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 với các bài tập thay thế
Đặt tính và tính Nhớ bảng cộng trừ trong
đúng
phạm vi 10
Năm học
Sĩ số
Số lượng
%
Số lượng
%
2011 - 2012
10
9
90.0
8
80.0
2012 - 2013
12
10
83.33
11
91.67
Có được kết quả trên là do:
- Sự kiên trì, tích cực của giáo viên.

- Không ngừng học hỏi để nâng cao kiến thức, kĩ năng dạy trẻ khiếm thính.
2. Đối với học sinh:
- Cần ý thức được việc học tập của mình.
- Có tinh thần học tập tự giác cao.
- Ngoan ngoãn vâng lời thầy, cô giáo và người chăm sóc.
3. Đối với Ban Giám đốc Trung tâm:
- Tăng cường phương tiện dạy học phù hợp với học sinh khuyết tật nói
chung và với học sinh khiếm thính nói riêng.
- Tổ chức nhiều hơn các cuộc giao lưu, trao đổi học tập kinh nghiệm với các
trường bạn.
4. Đối với gia đình và cộng đồng:
- Phát hiện sớm và cho các em học sinh khiếm thính được tham gia can thiệp
sớm đúng độ tuổi.
- Hỗ trợ máy trợ thính đầy đủ, chất lượng.
- Kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường trong việc giáo dục
học sinh.
- Quan tâm, hỗ trợđúng mức về mọi mặt cho sự tiến bộ của học sinh.
Kết luận:
Hiện nay, chúng ta đang cố gắng nâng cao chất lượng dạy và học nhất là
trong việc giáo dục trẻ khuyết tật có thể hòa nhập với xã hội sau này. Việc đưa ra
các giải pháp giúp học sinh khiếm thính thực hiện đúng các phép tính trong môn
toán là rất quan trọng, nó không chỉ giúp các em có một kết quả học tập cao mà
còn giúp các em trong cuộc sống trao đổi với thế giới xung quanh. Học toán tốt
giúp cho khả năng tư duy logic của các em nâng cao, phản ứng nhanh nhẹn với các
tính huống thực tế hàng ngày.
Để đạt được điều này trước hết là có sự quan tâm của Ban Giám đốc về cơ
sở vật chất, sự chỉ đạo sâu sát của tổ chuyên môn. Hơn hết, là tinh thần trách nhiệm
cao của người giáo viên, có tâm với nghề, tận tụy, yêu thương trẻ khuyết tật cũng
như không ngại khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp làm thế nào cho trẻ
khiếm thính có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả nhất. Quan trọng nhất là bản


PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012 – 2013
Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
KHIẾM THÍNH LỚP 1B THỰC HIỆN PHÉP TRỪ TRONG PHẠM VI 100
(TRỪ KHÔNG NHỚ)
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Nam, nữ: Nữ
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
- Giáo dục khuyết tật- Môn Toán
- Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị
Trong Ngành
1. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
tại đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc vạch định đường lối, chính sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và dễ đi vào cuộc sống: Tốt
Khá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status