BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----------
VƯƠNG THỊ XUÂN
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG THPT VIỆT ĐỨC – HÀ NỘI NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa 2009 - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
----------
VƯƠNG THỊ XUÂN
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VIỆT ĐỨC – HÀ NỘI NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa 2009 - 2013
Vương Thị Xuân
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
Phòng đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội.
Bộ môn Sức khỏe Môi trường – Viện đào tạo y Học dự phòng và
Y tế công cộng – trường Đại học Y Hà Nội.
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Em là sinh viên Vương Thị Xuân – tổ 42 – lớp Y4N – Y tế công cộng – Viện
đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng – trường Đại học Y Hà Nội. Em
xin cam đoan đây là nghiên cứu mà em đã tham gia.Các số liệu trong khóa
luận này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được đăng tải trên
bất kỳ tạp chí hay công trình nghiên cứu khoa học nào.
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2013
Tác giả
Vương Thị Xuân
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTV
Điều tra viên
CS
Chăm sóc
SDQ
Strength and Difficulties Questionnaire (Bộ câu hỏi sàng lọc vấn
đề sức khoẻ tâm trí)
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây vấn đề sức khỏe tâm trí (SKTT) đang là một trong
những vấn đề nổi cộm và dành được nhiều sự quan tâm của cộng đồng, đặc
biệt là SKTT trẻ em và vị thành niên (VTN).Mọi trẻ em từ khi sinh ra đều có
quyền được hưởng chăm sóc (CS) y tế toàn diện cả về thể chất lẫn tinh
thần.Chăm sóc sức khỏe (CSSK) thể chất tạo điều kiện cho trẻ phát triển thể
lực, chiều cao, cân nặng, hoàn thiện dần các chức năng của cơ thể, giảm khả
năng mắc bệnh tật và tránh được nguy cơ tử vong do bệnh tật. CSSK tinh thần
lại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển khả năng trí tuệ, phát triển mặt
thể có ý định tự tử và thực hiện hành vi tự tử. VĐ SKTT cũng ảnh hưởng lớn
tới mối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè; ảnh
hưởng đến kết quả học tập tại trường; năng suất lao động cũng như sự phát
triển cá nhân nói chung. Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn, xác định rõ ràng
VĐ SKTT và phòng ngừa, chăm sóc, điều trị sức khoẻ tâm thần cho trẻ VTN
có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn.
Trong những năm gần đây, nước ta đã có một sốnghiên cứu đánh giá về
vấn đề SKTTnhưngnghiên cứu về SKTT của học sinh Trung học phổ thông
(THPT) còn hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này tại
trường THPT Việt Đức – Hà Nội. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh tại trường trung học phổ
thông Việt Đức – Hà Nội năm 2012” với hai mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh tại trường THPT Việt
Đức – Hà Nội năm 2012.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm trí của học sinh tại
trường THPT Việt Đức – Hà Nội năm 2012.
11
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Sức khỏe
Tuyên ngôn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1982 tại Alma Ata đã
đưa ra khái niệm về sức khỏe: “Sức khỏe là một trạng tháihoàn toàn thoải mái
về mặt thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hay
thương tật” [17].
1.1.2. Sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần
- Sức khỏe tâm thần là trạng thái không chỉ không có các rối loạn và dị
ra ở một cá nhân và liên quan đến những stress tiêu cực hoặc liên quan đến
việc làm mất năng lực cá nhân hoặc làm tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá
nhân qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực (như ám ảnh về cái
chết, sự đau khổ, sự mất năng lực) hoặc sự mất mát đáng kể sự tự do của cá
nhân [4].
1.1.4.2. Những biểu hiện rối nhiễu tâm trí[4]
- Không có khả năng tiếp xúc lâu dài với người khác.
- Bỏ bê các hoạt động ở trường.
- Miễn cưỡng đến trường hay tham gia các hoạt động khác.
- Hiếu động, không ngồi yên một chỗ, đôi khi xung động, rối loạn
-
khả năng tập trung.
Không vâng lời, bướng bỉnh.
Thiếu năng lượng và động lực hoạt động.
Dễ nổi cáu.
Cách ly xã hội.
Khóc quá nhiều.
Cảm giác thất vọng, vô dụng.
Ý tưởng hoặc hành vi kỳ quặc.
1.1.4.3. Các rối nhiễu tâm trí thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên
1.1.4.3.1. Rối loạn cảm xúc [4]
- Rối loạn trầm cảm:
13
+ Định nghĩa trầm cảm: là một chứng rối loạn thuộc nhóm rối
loạn khí sắc, thể hiện sự ức chế của cảm xúc, tư duy và vận động,
+ Gặp khó khăn trong việc quyết định đến trường.
14
+ Thường quên đồ dùng học tập và thường đến trường muộn.
+ Ghét đi học.
+ Thường ở nhà vì “ốm đi học” và khỏe ra vào sáng hôm sau.
+ Đau đầu.
+ Bám bố mẹ.
+ Đau bụng thời gian dài.
+ Lo lắng mình hoặc người thân sẽ bị thương.
+ Ác mộng.
+ Nổi khùng khi bị ép đến trường.
+ Hay dỗi, cáu kỉnh.
+ Trốn học.
+ Cảm thấy mệt mỏi.
1.1.4.3.2. Rối loạn tăng động – giảm chú ý [4]
- Định nghĩa: trẻ biểu hiện hành vi hiếu động và kém tập trung ở
mức trầm trọng, nó tác động tới trẻ khi ở nhà, lúc tới trường và
nơi công cộng.
- Dấu hiệu:
• Hiếu động
• Cáu giận, dễ bùng nổ vì những lý do không đáng kể.
• Nghịch ngợm, nói chuyện và ngắt lời người khác.
• Khả năng chú ý giảm, hay đãng trí, kém tập trung, thiếu bền
bỉ.
• Thường bỏ dở công việc đang làm, không hoàn thành các nhiệm
vụ.
• Có tính bốc đồng.
- Dấu hiệu:
+ Thất vọng.
+ Giảm sút năng lực học tập, khả năng chăm sóc.
+ Viết hoặc làm các việc liên quan đến cái chết hoặc tự tử.
+ Cảm giác vô vọng.
+ Không tham gia nhóm bạn bè.
1.2. Đặc điểm của lứa tuổi vị thành niên (VTN).
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vị thành niên nằm trong độ tuổi từ
10 đến 19, cũng có một số nước coi VTN là từ 13 – 20 hoặc 15 – 24 tuổi
[17].Đây là giai đoạn đặc biệt duy nhất của con người được đánh dấu bằng
những thay đổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp, bao
gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ
xã hội nhằm đáp ứng các nhiệm vụ phát triển. Đây cũng là giai đoạn nảy sinh
nhiều RNTT nhất so với các lứa tuổi khác.
16
Ở giai đoạn này trẻ có những biến đổi cả về thể chất và tâm lý xã
hội.Những biến đổi về thể chất quan trọng nhất là quá trình dậy thì. Các công
trình nghiên cứu ở lứa tuổi này cho thấy đa số các em bước vào tuổi dậy thì
không có khủng hoảng phát triển, chỉ có khoảng 20% trẻ em độ tuổi này có
khó khăn trong sự phát triển tâm lý [17]. VTN là giai đoạn có nhiều trạng thái
căng thẳng đối với mọi người, trẻ rất quan tâm đến hình ảnh của cơ thể mình
và các mối quan hệ với gia đình và bạn bè. Sự bối rối, xấu hổ, mối quan tâm
và lo lắng của trẻ ảnh hưởng đến cảm giác về giá trị bản thân.
Do các đặc điểm của hệ thần kinh và nội tiết đang phát triển nên VTN
dễ mất cân bằng về tâm lý và cảm xúc, các biểu hiện và nhịptim đập nhanh,
huyết áp tăng, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, dễ nổi nóng. Đôi khi trẻ cảm thấy
khó khăn trong việc tự kiềm chế khi bị kích động và gây nên những phản ứng
tật do bệnh tâm thần và thần kinh sẽ tăng lên với tốc độ cao hơn so với bệnh
tim mạch và chiếm khoảng 15% vào năm 2020 [34].
Theo báo cáo năm 2001 của WHO, tổn thương tinh thần chiếm tỷ lệ
khoảng 12% trên tổng số bệnh. Những năm gần đây, các quốc gia trên thế
giới đều lo ngại tỷ lệ này tăng lên, đặc biệt là số lượng những trẻ em và VTN
trải nghiệm những khó khăn, có những biểu hiện có vấn đề ở mặt SKTT trong
quá trình phát triển, trong quá trình học tập và trong cuộc sống nói chung. Ở
Mỹ vào năm 1999, tỷ lệ trẻ em từ 9 – 17 tuổi có vấn đề SKTT là 21%, ở
Canada trẻ từ 1 – 16 tuổi là 18% (năm 1989), ở Nhật Bản trẻ từ 12 – 15 tuổi là
15% (năm 1993) và ở Ấn Độ trẻ từ 1- 16 tuổi là 12,8% (năm 1999) [2]. Tỷ lệ
này được dự báo là sẽ đặc biệt tăng ở các nước đang phát triển như Việt Nam
bởi vì Việt Nam đang phải đối mặt với các vấn đề đô thị hóa nhanh chóng
(dẫn đến ô nhiễm môi trường, thay đổi cơ cấu gia đình, số lượng lớn gia cư
không ổn định…), những thay đổi kinh tế vĩ mô (thay đổi cơ cấu việc làm,
thất nghiệp…) kéo theo các xung đột văn hóa, xã hội (phân hóa giàu nghèo,
xung đột giá trị, chuẩn mực…). Chính vì vậy WHO đã khuyến cáo chính phủ
18
các nước đang phát triển về việc chăm sóc SKTT trẻ em và VTN trong giai
đoạn mới.
Theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Mỹ (NIMH), khoảng 26%
người Mỹ trưởng thành trên 18 tuổi bị một số loại rối loạn tâm thần. Năm
1994 nghiên cứu khảo sát trên toàn quốc gia (NCS) cho biết 30% số người
được hỏi đã từng có biểu hiện triệu chứng của rối nhiễu tâm lý ít nhất một
năm trước. Cuộc khảo sát cũng chỉ ra rằng gần một nửa số người lớn đã từng
trải qua một vài loại rối nhiễu tâm lý tại một số thời điểm trong cuộc sống
của họ. Theo kết quả một cuộc điều tra của nhóm nghiên cứu tại trường Đại
học Hokkaiddo Nhật Bản, tình trạng học sinh nước này mắc chứng trầm
Nghiên cứu cũng chỉ ra có 15,94% trẻ có rối nhiễu về tâm lý trong tổng số
học sinh các cấp học, lạm dụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng.
Trong số các ca tự sát thì 10% ở độ tuổi 10 – 17. Nghiên cứu 21960 thanh thiếu
niên Hà Nội phát hiện 3,7% trẻ có rối loạn hành vi. Lứa tuổi từ 10-11 có tỷ lệ 4246% gặp khó khăn về ứng xử. Đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về khó khăn trong
ứng xử giữa học sinh nam (84,60%) và học sinh nữ (15,40%). Theo khảo sát của
dự án, quận Hai Bà Trưng có tỷ lệ học sinh gặp khó khăn về ứng xử cao nhất với
44,2%, so với các quận còn lại là Hoàng Mai (28,8%), Từ Liêm (26,9%). Điều
này cho thấy ảnh hưởng của điều kiện sống, môi trường sống tác động đến hành
vi ứng xử của các em [38].
Theo kết quả nghiên cứu do trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát
triển Cộng đồng tiến hành trên 1000 trẻ trong độ tuổi từ 8 - 17 ở 31 xã thuộc 5
tỉnh Lào Cai, Hưng Yên, Đà Nẵng, Phú Yên, Bến Tre từ năm 2001 đến năm
2005 cho thấy: Cứ 10 trẻ thì có 2 trẻ bị rối nhiễu tâm trí. Một khảo sát khác
cũng của trung tâm này trong năm 2008 với nhóm phụ nữ mang thai 3 tháng
cuối hoặc mới sinh con trong vòng 2 tháng tại Hà Nội và Hà Nam cho thấy, tỷ
lệ chị em bị rỗi nhiễu tâm trí tương ứng với mỗi tỉnh là 22% và 33%. Một
20
nghiên cứu khác tương tự của Ananda và Thuấn năm 2007 trên hai tỉnh miền
Trung cho kết quả tỷ lệtrẻ mắc các vấn đề SKTT là 9% [9].
Bác sĩ Trần Tuấn - Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng
đồng vừa cho biết qua điều tra về sức khỏe tâm thần thanh thiếu niên 8-17
tuổi tại hai địa phương Đà Nẵng và Khánh Hòa, tỷ lệ bị rối nhiễu tâm trí là
11-22% [8]. Tỷ lệ mắc nói trên cho thấy rối nhiễu tâm trí thật sự là vấn đề y tế
công cộng ở Việt Nam với mức độ tương ứng với nhiều nước trên thế giới.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra các số liệu tương tự về tỷ lệ học sinh ở bậc trung học
phổ thông có rối nhiễu tâm trí như: Tại trường THPT Xuân Đỉnh - Hà Nội
(niên khóa 2004-2005) có 17-19% số học sinh mắc stress và rối loạn lo âu; có
trẻ mắc các vấn đề lo âu/trầm cảm là thấp nhất (2,6%). Và nếu xét theo giới
thì trong tổng số những trẻ thuộc nhóm nguy cơ, nam chiếm tỷ lệ ít hơn nữ
(nam là 46,4% và nữ là 53,6%) [6].
Tại hội nghị “Triển khai đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng
cho người tâm thần, người RNTT dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2012”
tại Đà Nẵng ngày 27 tháng 11 năm 2012 vừa qua, WHO đã công bố số người
bị tâm thần và rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam chiếm 10% dân số (khoảng 9 triệu
người), trong đó có 200 nghìn người bị tâm thần phân liệt và hơn 2,4 triệu
người mắc các chứng rối loạn tâm thần nghiêm trọng, còn lại là những người
mắc các chứng rối loạn thường gây hậu quả về sức khỏe tâm thần như chứng
động kinh, khuyết tật thần kinh, tổn thương não…[7].Một nghiên cứu khác
của Nguyễn Văn Siêm tại một phường của Thành phố Đà Nẵng, khảo sát toàn
bộ các hộ trong phường với tổng số hộ dân là 23758 cho kết quả: Tỷ lệ mắc
chung là 0,52 – 0,61% dân số; tỷ lệ mắc điểm là 0,49 – 0,53%. Một số nghiên
cứu khác về trầm cảm như của Nguyễn Văn Siêm (2010) cho biết tỷ lệ mắc
bệnh trầm cảm của một làng ven sông Hồng là 8,35%[15].Bùi Hồng Tâm và
Cao Tiến Đức khảo sát tại Quảng Ninh cho biết tỷ lệ mắc tâm thần phân liệt
22
là 0,21%; động kinh là 0,12%; chậm phát triển tâm thần là 0,15%; nghiện rượu là
0,25%; sa sút trí tuệ là 0,05% [14]. Nghiên cứu của Mckelvey và cộng sự về tỷ lệ
của các vấn đề hành vi, cảm xúc và các điểm mạnh của trẻ từ độ tuổi 4 đến 18 tuổi
sống tại Hà Nội cho thấy: Nếu dựa trên điểm tiêu chuẩn của Mỹ, từ độ tuổi 4-11
có 5,3% trẻ nam và 7,7% ở trẻ nữ; độ tuổi từ 12-18 có 9,5% trẻ nam và 10,1% trẻ
nữ được coi là mắc các RLTT [26]. Nghiên cứu của Amstadter đánh giá mức độ
các RLTT ở thanh thiếu niên Việt Nam cho kết quả có 9,1% thanh thiếu niên
được cho là mắc phải các vấn đề về tâm thần [21].
Kết quả nghiên cứu “Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố
nguy cơ trong khi đó sự gắn kết với nhà trường, chăm sóc của mẹ là yếu tố
bảo vệ (p = 0,01). Đối với học sinh nam thì số lượng anh/chị em, hiện tại sống
với ai, nghề nghiệp của mẹ và chứng kiến cha mẹ cãi nhau cũng có mối liên
quan với vấn đề trầm cảm.Nam học sinh không có anh/chị em có điểm trầm
cảm cao hơn nhóm có anh/chị em.Tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ
trầm cảm giữa nhóm có 1 anh/chị em với nhóm có từ 2 anh/chị em trở
lên.Nam học sinh sống với cha và/hoặc mẹ có điểm trầm cảm thấp hơn một
cách có ý nghĩa thống kế với điểm của nam học sinh không sống với cha/mẹ
đẻ. Nam học sinh có mẹ là cán bộ nhà nước cũng có điểm trầm cảm thấp hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm nam học sinh có mẹ làm các nghề khác. Các
em nam chứng kiến cha/mẹ cãi nhau ở mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên
có mức độ trầm cảm cao hơn so với nhóm còn lại.Đối với học sinh nữ thì địa
bàn trường học và kết quả học tập có liên quan với vấn đề trầm cảm.Nữ sinh
ở nội thành có mức độ trầm cảm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ sinh ở
ngoại thành (điểm trầm cảm trung bình là 18,259 so với 14,736).Nữ sinh có
mức học trung bình và kém có mức độ trầm cảm cao hơn các em có lực học
khá và giỏi.Cũng có sự khác biệt về các yếu tố liên quan đến lo âu ở nam và
nữ trong nghiên cứu này.Với học sinh nữ thì bị trêu ghẹo/bắt nạt ở trường và
24
mẹ bảo vệ quá mức là yếu tố nguy cơ đối với lo âu ở học sinh nữ.Ngược lại
sự gắn kết với nhà trường lại là yếu tố bảo vệ.Những em sống với cả cha lẫn
mẹ có mức độ lo âu thấp hơn so với các em không sống với cả cha lẫn mẹ
hoặc chỉ sống với cha hoặc mẹ đẻ.Các em chưa bao giờ chứng kiến cha mẹ
cãi nhau hoặc không có mâu thuẫn với anh/chị em có mức độ lo âu thấp hơn
so với các em khác [6].