BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VƯƠNG THỊ XUÂN
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG THPT VIỆT ĐỨC – HÀ NỘI NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội– 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VƯƠNG THỊ XUÂN
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG THPT VIỆT ĐỨC – HÀ NỘI NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ ĐÀO TẠO:………….
Người hướng dẫn khóa luận:
ThS.BS. TRẦN QUỲNH ANH
Hà Nội – 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, ủng hộ, chỉ dạy và giúp đỡ của các
thầy cô, các anh chị, các bạn và người thân.
Với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành em xin được gửi lời
cảm ơn sâu sắc tới:
TS.BS Trần Quỳnh Anh – giảng viên bộ môn Sức khỏe Môi trường –
Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng - trường Đại học Y Hà Nội,
người cô trực tiếp hướng dẫn, chỉ bạo tận tình, chu đáo giúp em trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em cũng chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Sức khỏe Môi
trình nghiên cứu khoa học nào.
Tác giả
Vương Thị Xuân
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mô tả thực trạng SKTT chung của học sinh
Biểu đồ 3.2: Mô tả thực trạng SKTT của học sinh theo lớp
Biểu đồ 3.3: Mô tả thực trạng SKTT của học sinh theo giới
Biểu đồ 3.4: Mô tả thực trạng SKTT của học sinh theo các nhóm vấn đề.
9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe (SK) là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã
hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật. Ngày
nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì con người cũng ngày càng quan tâm
hơn đến việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình và xã hội. Vấn đề chăm
sóc sức khỏe tâm trí (SKTT) ngày càng được quan tâm và đầu tư hơn ở trên thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong những năm gần đây, vấn đề SKTT đang là một trong những vấn đề
nổi cộm và dành được nhiều sự quan tâm của người dân, đặc biệt là vấn đề
SKTT trẻ em và vị thành niên. Mọi trẻ em từ khi sinh ra đều có quyền được
hưởng chăm sóc y tế toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Chăm sóc sức khỏe
(CSSK) thể chất tạo điều kiện cho trẻ em phát triển thể lực, chiều cao, cân nặng,
hoàn thiện dần các chức năng của cơ thể, giảm khả năng mắc bệnh tật và tránh
được nguy cơ tử vong do bệnh tật. CSSK tinh thần lại đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển khả năng trí tuệ, phát triển mặt xã hội, tạo ra một sự cân bằng
về tâm lý tình cảm, phát triển tính tự lập, sự tự tin, tình yêu cuộc sống và các giá
trị đạo đức căn bản nhất của con người, giúp xây dựng và hình thành một nhân
hưởng đến kết quả học tập tại trường, năng suất lao động cũng như sự phát triển
cá nhân nói chung. Vì vậy việc nhận thức đúng đắn, xác định rõ ràng vấn đề sức
11
khoẻ tâm thần và phòng ngừa, chăm sóc, điều trị sức khoẻ tâm thần cho lứa tuổi
học sinh có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn.
Đã có một số nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần của trẻ em Việt Nam.
Mặc dù kết quả không hoàn toàn nhất quán nhưng các nghiên cứu cho thấy một
xu hướng rõ ràng rẳng tỷ lệ trẻ em Việt Nam gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần
là đáng kể. Điển hình là nghiên cứu của bệnh viện tâm thần Mai Hương năm
2005 cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề SKTT của học sinh trong các quận nội thành
là 19,46% [36], Hoàng Cẩm Tú và Đặng Hoàng Minh năm 2010 nghiên cứu trên
học sinh 2 trường trung học phổ thông (THPT) Nguyễn Trãi (Hà Nội) và Vân
Tảo (Hà Tây) cho thấy trẻ mắc các vấn đề SKTT chiếm 22,55% [6]. Trong
những năm gần đây ở nước ta đã có một số nghiên cứu đánh giá về vấn đề SKTT
nhưng những nghiên cứu về vấn đề SKTT của học sinh THPT còn hạn chế, mới
chỉ có 1 số nghiên cứu với quy mô nhỏ. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh tại trường trung học phổ thông
Việt Đức – Hà Nội năm 2012” với hai mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh tại trường THPT Việt Đức
– Hà Nội năm 2012.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm trí của học sinh tại
trường THPT Việt Đức – Hà Nội năm 2012.
12
Chương 1
TỔNG QUAN
1. Một số khái niện cơ bản
1.1. Sức khỏe
Tuyên ngôn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1982 tại Alma Ata đã
đưa ra khái niệm về sức khỏe: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái
về mặt thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hay
về tinh thần chưa chắc đã được coi là sức khỏe tinh thần [1].
Có một cách để nhận xét sức khỏe tinh thần là xem xem một người thể
hiện chức năng của mình thành công tới mức nào. Cảm thấy có đủ khả năng tự
tin, có thể đối mặt với những mức tình trạng căng thẳng ở bình thường, luôn giữ
được các mỗi quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập, và dễ hồi
phục sau những tình huống khó khăn đều được coi là các dấu hiệu của một sức
khỏe tinh thần.
1.5. Rối nhiễu tâm trí (RNTT)
1.5.1. Định nghĩa
Rỗi nhiễu tâm trí là một trong những triệu chứng bất thường về tâm lý
(hoặc mẫu hành vi ứng xử bất thường) có ý nghĩa về mặt lâm sàng, chúng xảy ra
ở một cá nhân và liên quan đến những stress tiêu cực hoặc liên quan đến việc
làm mất năng lực cá nhân hoặc làm tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân qua
14
việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực ( như ám ảnh về cái chết, sự đau
khổ, sự mất năng lực) hoặc sự mất mát đáng kể sự tự do của cá nhân [9].
1.5.2. Những biểu hiện rối nhiễu tâm trí
- Không có khả năng tiếp xúc lâu dài với người khác.
- Bỏ bê các hoạt động ở trường.
- Miễn cưỡng đến trường hay tham gia các hoạt động khác.
- Hiếu động, không ngồi yên một chỗ, đôi khi xung động, rối loạn
khả năng tập trung.
- Không vâng lời, bướng bỉnh.
- Thiếu năng lượng và động lực hoạt động.
- Dễ nổi cáu.
- Cách ly xã hội.
- Khóc quá nhiều.
- Cảm giác thất vọng, vô dụng.
- Ý tưởng hoặc hành vi kỳ quặc.
1.5.3. Các rối nhiễu tâm trí thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên
trung chú ý, ám ảnh sợ đơn thuần, ám ảnh sợ xã hội, ám ảnh sợ học
đường, không tham gia các hoạt động với các bạn cùng lứa tuổi.
- Lo âu học đường
Dấu hiệu:
+ Thường than phiền là đau bụng vào mỗi sáng thứ hai.
+ Gặp khó khăn trong việc quyết định đến trường.
+ Thường quên đồ dùng học tập và thường đến trường muộn.
+ Ghét đi học.
+ Thường ở nhà vì “ốm đi học” và khỏe ra vào sáng hôm sau.
+ Đau đầu.
+ Bám bố mẹ.
+ Đau bụng thời gian dài.
+ Lo lắng mình hoặc người thân sẽ bị thương.
+ Ác mộng.
+ Nổi khùng khi bị ép đến trường.
+ Hay dỗi, cáu kỉnh.
+ Trốn học.
+ Cảm thấy mệt mỏi.
1.5.3.2. Rối loạn tăng động – giảm chú ý
16
- Định nghĩa: trẻ biểu hiện hành vi hiếu động và kém tập trung ở mức
trầm trọng, nó tác động tới trẻ khi ở nhà, lúc tới trường và nơi công
cộng.
- Dấu hiệu:
• Hiếu động
• Cáu giận, dễ bùng nổ vì những lý do không đáng kể
• Nghịch ngợm, nói chuyện và ngắt lời người khác
• Khả năng chú ý giảm, hay đãng trí, kém tập trung, thiếu bền bỉ
• Thường bỏ dở công việc đang làm, không hoàn thành các nhiệm vụ
• Có tính bốc đồng
+ Giảm sút năng lực học tập, khả năng chăm sóc
+ Viết hoặc làm các việc liên quan đến cái chết hoặc tự tử
+ Cảm giác vô vọng
+ Không tham gia nhóm bạn bè
2. Đặc điểm của lứa tuổi vị thành niên (VTN).
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vị thành niên nằm trong độ tuổi từ 10
đến 19, cũng có một số nước coi VTN là từ 13 – 20 hoặc 15 – 24 tuổi [2]. Đây là
giai đoạn đặc biệt duy nhất của con người được đánh dấu bằng những thay đổi
đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp, bao gồm: sự chín muồi về
thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội nhằm đáp ứng các
nhiệm vụ phát triển. Đây cũng là giai đoạn nẩy sinh nhiều RNTT nhất so với các
lứa tuổi khác.
Ở giai đoạn này trẻ có những biến đổi cả về thể chất và tâm lý xã hội.
Những biến đổi về thể chất quan trọng nhất là quá trình dậy thì. Các công trình
nghiên cứu ở lứa tuổi này cho thấy đa số các em bước vào tuổi dậy thì không có
khủng hoảng phát triển, chỉ có khoảng 20% trẻ em độ tuổi này có khó khăn trong
sự phát triển tâm lý [2]. VTN là giai đoạn có nhiều trạng thái căng thẳng đối với
mọi người, họ rất quan tâm đến hình ảnh của cơ thể mình và các mối quan hệ với
gia đình và bạn bè. Sự bối rối, xấu hổ, mối quan tâm và lo lắng của họ ảnh
hưởng đến cảm giác về giá trị bản thân.
Do các đặc điểm của hệ thần kinh và nội tiết đang phát triển nên VTN dễ
mất cân bằng về tâm lý và cảm xúc, các biểu hiện và nhịptim đập nhanh, huyết
áp tăng, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, dễ nổi nóng. Đôi khi các em cảm thấy khó
khăn trong việc tự kiềm chế khi bị kích động và gây nên những phản ứng không
19
mong muốn. Đây cũng là giai đoạn trẻ muốn thử sức mình và khám phá cái mới
để khẳng định mình là người lớn; có xu hướng tư tưởng hóa vị tha (định hướng
vào cái tôi xã hội), quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển các kỹ năng giao tiếp,
cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường xã hội ngày
càng mở rộng.
Canada trẻ từ 1 – 16 tuổi là 18% (năm 1989), ở Nhật Bản trẻ từ 12 – 15 tuổi là
15% (năm 1993) và ở Ấn Độ trẻ từ 1- 16 tuổi là 12,8% (năm 1999) [12]. Tỷ lệ
này được dự báo là sẽ đặc biệt tăng ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Bởi vì Việt Nam đang phải đối mặt với các vấn đề đô thị hóa nhanh chóng (dẫn
đến ô nhiễm môi trường, thay đổi cơ cấu gia đình, số lượng lớn gia cư không ổn
định…), những thay đổi kinh tế vĩ mô (thay đổi cơ cấu việc làm, thất nghiệp…)
kéo theo các xung đột văn hóa, xã hội (phân hóa giàu nghèo, xung đột giá trị,
chuẩn mực…). Chính vì vậy Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo chính phủ các
nước đang phát triển về việc chăm sóc SKTT trẻ em và vị thành niên trong giai
đoạn mới.
Theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Mỹ (NIMH), khoảng 26%
người Mỹ trưởng thành trên 18 tuổi bị một số loại rối loạn tâm thần. Năm 1994
nghiên cứu khảo sát trên toàn quốc gia (NCS) cho biết 30% số người được hỏi đã
từng có biểu hiện triệu chứng của rối nhiễu tâm lý ít nhất một năm trước. Cuộc
khảo sát cũng chỉ ra rằng gần một nửa số người lớn đã từng trải qua một vài loại
rối nhiễu tâm lý tại một số thời điểm trong cuộc sống của họ. Theo kết quả một
21
cuộc điều tra của nhóm nghiên cứu tại trường Đại học Hokkaiddo, Nhật Bản,
tình trạng học sinh nước này mắc chứng trầm cảm đang ở mức báo động, với tỉ
lệ 1/10 [7].
Các nghiên cứu ở Anh năm 2000 chỉ ra tỉ lệ chung trẻ em và vị thành niên
từ 4 đến 18 tuổi trong cộng đồng có rối loạn tâm thần (mental disorders) vào
khoảng 15% trong khi đó, tỉ lệ trẻ từ 9 đến 17 tuổi ở Mỹ năm 2005 là 20,9%, ở
Puerto Rico năm 2004 là 19.8 % [6]. Các số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ
lệ vị thành niên có biểu hiện rối loạn tâm thần tại một số nước phát triển như Úc,
Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha đều trên 20% [34].
Tại Trung Quốc, các nhà nghiên cứu thấy rằng áp lực từ các kỳ thi chuyển
cấp và gánh nặng học tập có liên quan đến tình trạng sức khỏe tâm trí kém ở các
học sinh Trung Quốc [24], không những thế, áp lực học tập cao cũng có thể dẫn
đến bạo lực và các vấn đề phát triển [23].
Một nghiên cứu khác tương tự của Ananda và Thuấn (2007) trên hai tỉnh miền
Trung cho kết quả tỷ lệ trẻ mắc các vấn đề SKTT là 9% [10].
Kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm
2008 (SAVY 2) mới được công bố cho thấy, trong số hơn 10.000 thanh thiếu
niên có hơn 73% người từng có cảm giác buồn chán, hơn 4% từng nghĩ đến
chuyện tử tử. So với số liệu cuộc điều tra trước đó vào năm 2003 (SAVY 1), các
chuyên gia nhận thấy tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng
lên. Đặc biệt, cảm giác nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên khoảng 30% [7]. SAVY2
23
cho thấy thanh thiếu niên có cái nhìn lạc quan về cuộc sống trong tương lai,
không có sự khác biệt đáng kể về mức độ lạc quan giữa nam và nữ, giữa khu vực
thành thị và nông thôn, giữa các nhóm thanh niên có trình độ học vấn khác nhau,
cũng như giữa những người theo các tôn giáo khác nhau. Mặt khác, SAVY 2
cũng cho thấy có một tỷ lệ không nhỏ trong số họ còn có lúc có cảm giác tự ti
(29,9%), có cảm giác thất vọng, chán chường về tương lai (14,3%). Cuộc sống
gia đình, môi trường học tập, sự hài lòng với công việc, việc có hay không sử
dụng chất gây nghiện là những yếu tố có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của
thanh thiếu niên [35].
Bác sĩ Trần Tuấn - Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng
đồng vừa cho biết qua điều tra về sức khỏe tâm thần thanh thiếu niên 8-17 tuổi
tại hai địa phương Đà Nẵng và Khánh Hòa, tỉ lệ bị rối nhiễu tâm trí là 11-22%.
Tỉ lệ mắc nói trên cho thấy rối nhiễu tâm trí thật sự là vấn đề y tế công cộng ở
Việt Nam, với mức độ tương ứng với nhiều nước trên thế giới. Nhiều nghiên cứu
chỉ ra các số liệu tương tự về tỉ lệ học sinh ở bậc trung học phổ thông có rối
nhiễu tâm trí như: Tại trường THPT Xuân Đỉnh Hà Nội (niên khóa 2004-2005)
có 17-19% số học sinh mắc stress và rối loạn lo âu; có 22-25% số học sinh
trường THPT Chuyên Quảng Bình (niên khóa 2007-2008) có rối loạn lo âu [18].
Nghiên cứu của Nguyễn Cao Minh về “Tỷ lệ trẻ em và VTN miền Bắc có
các vấn đề SKTT năm 2012” cho thấy có 18% trẻ trong nghiên cứu có vấn đề
SKTT, trong đó vấn đề trầm cảm chiếm tỷ lệ lớn nhất với 6,6% còn vấn đề về
25
nữ được coi là mắc các RLTT [25]. Nghiên cứu của Amstadter đánh giá mức độ
các RLTT ở thanh thiếu niên Việt Nam cho kết quả có 9,1% thanh thiếu niên
được cho là mắc phải các vấn đề về tâm thần [20].
4. Địa điểm nghiên cứu
Nằm ở giữa trung tâm Thủ đô Hà Nội, trường THPT Việt Đức được thành
lập ngày 3/3/1955. Trải qua 58 năm xây dựng và phát triển, hiện nay trường có
tổng số hơn 120 cán bộ giáo viên, với khoảng 2200 học sinh. Trường Việt Đức
luôn là một trong những lá cờ đầu của ngành giáo dục Phổ thông tại Hà Nội.
Trong những năm qua trường đã đạt được 1 số thành tựu đáng khích lệ như: 80%
học sinh của trường được xếp loại khá giỏi, 99% có hạnh kiểm khá - tốt. Tỷ lệ
học sinh đỗ tốt nghiệp THPT đạt xấp xỉ 100% và trên 70% đỗ vào đại học. Nhiều
em đạt thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp thành phố và Quốc gia,
được nhiều tổ chức quốc tế của các nước như Đức, Anh, Nhật, Úc, Singapo
cấp học bổng. Trường có 12 thầy cô có trình độ Thạc sỹ, nhiều người đã đạt giải
cao trong các kỳ thi giáo viên giỏi cấp Thành phố.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Địa điểm nghiên cứu.