1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(Attention-Deficit Hyperactivity Disorder)
ADHD
HS
SKTT
Rối loạn tăng động thiếu chú ý
TB
Học sinh
Sức khỏe tâm thần
Trung bình
THCS
Trung học cơ sở
TTTT
Thu thập thông tin
Vị thành niên
VTN
hệ gia đình, bạn bè, xã hội. Hơn nữa chăm sóc sức khỏe tâm thần còn giúp tạo
cho trẻ phát triển tính tự lập, tự tin trong cuộc sống, phát triển nhân cách,
mang giá trị đạo đức căn bản của con người. Nếu sức khỏe tâm thần bị ảnh
hưởng, dẫn đến rối loạn hành vi, mất kiểm soát và có thể có những hành vi sai
lệch gây ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình và xã hội. Những năm gần đây tình
trạng học sinh có những hành vi tiêu cực như bỏ học, tự tử, nghiện hút, hoạt
động tình dục tập thể hay hành vi bạo lực với bạn bè và thầy cô đang gia tăng
tới mức báo động. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới năm 2011, những
rối loạn này chiếm khoảng 12% trên tổng số gánh nặng bệnh tật trên thế giới
[5].
Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy tỷ lệ tổn thương sức
khỏe tâm thần (SKTT) ở lứa tuổi trẻ em chiếm tỷ lệ khá cao từ 8-21% [4, 6].
5
Việt Nam đang trong quá trình phát triển hội nhập quốc tế, do đó kinh tế xã
hội có sự biến đổi nhanh chóng tác động mạnh mẽ đến lối sống của người
dân. Nhịp sống ngày càng gấp gáp hơn khiến các bậc phụ huynh không còn
nhiều thời gian để sum vầy với gia đình hay quan tâm chăm sóc con cái. Áp
lực công việc làm cho cha mẹ lơ là, không để ý đến tâm lý của trẻ, họ chỉ cố
gắng kiếm ra thật nhiều tiền đáp ứng tất cả các nhu cầu vật chất cho trẻ, điều
đó vô tình đã làm trẻ cảm thấy đơn độc, phải tự mình đối mặt với nhiều thách
thức trong cuộc sống trong khi còn chưa kịp trang bị những kiến thức, hành
trang để bước vào đời. Đối với lứa tuổi học sinh, khi mà thể chất và tinh thần
đều chưa ổn định dưới áp lực học tập, thi cử hay các mối quan hệ khác giới
khiến cho các em luôn bị căng thẳng, lo lắng nếu như không có sự quan tâm,
chia sẻ kịp thời từ bố mẹ và gia đình. Tất cả những điều trên đều ảnh hưởng
đến sức khỏe tâm thần của trẻ, đặc biệt là đối với lứa tuổi dậy thì, lứa tuổi
đang có những thay đổi tâm sinh lý đặc biệt.
Chương 1:
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm sức khỏe
tâm thần
Trong bản tuyên ngôn tại Alma Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế thế giới
định nghĩa: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh
thần, xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy sức khỏe toàn diện bao gồm 3 khía cạnh: thể
chất, tinh thần, xã hội. Trong đó sức khỏe tâm thần là một phần không thể
tách rời ra khỏi sức khỏe.
Tổ chức Y tế thế giới năm 2014 cũng đưa ra định nghĩa sức khỏe tâm
thần là một trạng thái của hạnh phúc trong đó mỗi cá nhân nhận ra tiềm năng
của mình hay có thể đối phó với những căng thẳng của cuộc sống bình
thường, có thể làm việc hiệu quả và có hiệu quả, và có thể đóng góp cho cộng
đồng của mình hoặc mình [7].
1.1.2.
Khái niệm tuổi vị thành niên
Vị thành niên (VTN) xuất phát từ tiếng La tinh - adolescere nghĩa là "lớn
lên" hay "phát triển đến sự chín muồi" trong độ tuổi 10 - 19 tuổi. Lứa tuổi vị
thành niên là giai đoạn con người trong quá trình chuyển tiếp từ trẻ em sang
người trưởng thành. Đây là giai đoạn phát triển và hoàn thiện về mặt tình dục
7
nhiều nhất là 14 – 15 tuổi, trung bình khoảng 6,23 kg/năm. Sự phát triển về
chiều cao và cân nặng chậm lại sau giai đoạn dậy thì và kết thúc tăng trưởng
chiều cao ở độ tuổi 20 – 25 [11]. Ngoài ra, hệ thống cơ bắp phát triển mạnh
8
mẽ nhất là cơ cánh tay, các cơ ở ngực phát triển nhiều tạo nên dáng vẻ một
-
thanh niên.
Về sinh dục: thay đổi đầu tiên là sự phát triển tinh hoàn, thường bắt đầu ở độ
tuổi 10 – 13,5 tuổi, hoàn thiện khi 14,5 – 18 tuổi. Dương vật phát triển, tăng
về kích thước và có hiện tượng xuất tinh sau khi tinh hoàn phát triển khoảng 1
năm (độ tuổi 14,5 – 15 tuổi), kèm theo sự phát triển các đặc tính sinh dục phụ
(lông mu, lông nách, râu…) [12]. Ở Việt Nam, tuổi xuất tinh lần đầu sớm nhất
-
là 12 tuổi, đến 17 tuổi 87,82% trẻ trai đã xảy ra hiện tượng này [11].
Phát triển tuyến bã và tăng tiết Androgen. Thay đổi giọng nói: giai đoạn này
trẻ trai vỡ giọng và dần trở nên trầm hơn do ảnh hưởng của testosteron,
hormon này khiến cho thanh quản của trẻ trai trở nên rộng hơn, dây thanh âm
trở nên dài và dày hơn [2].
Ở trẻ gái:
-
Tuổi dậy thì ở trẻ gái thường sớm hơn trẻ trai khoảng 2 năm. Ở Việt Nam,
tuổi tăng chiều cao mạnh nhất ở trẻ gái là 11 – 12 tuổi (7,68cm/năm) sau đó
có nhiều thay đổi về tâm lý. Các em thường dễ rơi vào trạng thái lo lắng về
những thay đổi trên cơ thể mình, bắt đầu tìm hiểu và đánh giá các sự kiện,
tình huống theo quan điểm của riêng mình, trẻ có khả năng trừu tượng một
các rõ rệt và thích tò mò về những hành vi liên quan tới tình dục [14-16].
Thậm chí ở các em có thể xảy ra sự mất cân bằng tạm thời về tâm lý. Sự quan
tâm quá mức về hình ảnh cơ thể, không hài lòng về một đặc điểm nào đó của
bản thân, bất bình trước các hiện tượng xã hội, căng thẳng trong học tập… có
thể là stress tiêu cực cho trẻ, làm nảy sinh lo âu, trầm cảm, thường xuyên căng
thẳng dễ xúc động, hoang mang gây ra những ý nghĩ tiêu cực, thậm chí là tự
sát [17]. Hành động bốc đồng, dao động, lúc hăng hái lúc thì chán nản, xa
lánh, dễ tập nhiễm các hành vi tiêu cực [18].
Những biến đổi sinh học, nhận thức đã thôi thúc các em quan tâm
nhiều hơn đến bạn bè và nảy sinh tình cảm với các bạn khác giới [14], kèm
theo đó xuất hiện các ham muốn tình dục, song lại bị ràng buộc bới các quy
định, truyền thống, tập quán… làm chi phối hành vi ứng xử tình dục một cách
bốc đồng và theo bản năng của các em – người đã chín muồi về chức năng
sinh lý song vẫn chưa chín chắn về mặt cảm xúc và xã hội [12].
Ở tuổi này, vị thành niên có khuynh hướng sống trong hai thế giới: thế
giới nội tâm và thế giới bên ngoài. Trẻ VTN bắt đầu muốn khẳng định mình,
tìm kiếm sự độc lập, bướng bỉnh và muốn tách khỏi sự kiểm soát của bố mẹ
cũng như các áp lực gia đình. Trẻ khẳng định mình là một cá thể độc lập, tự
mình quyết định sự việc chứ không phải nghe theo một ai khác cho dù là bố
mẹ [19]. Việc tự tự đánh giá và tự phê bình bắt đầu hình thành và xuất hiện
một đặc điểm tâm lý quan trọng là sự phát triển tự ý thức. Tự ý thức là một
loại đặc biệt đối với bản thân [18]. Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự
10
kiểm tra, tự đánh giá… về hành động và kết quả hành động của bản thân, về
mẹ hay giống bạn bè nhiều hơn. Thông thường, trẻ vị thành niên ngày càng ít
có thời gian ở nhà, trẻ dành nhiều thời gian với bạn bè, thông thường là bạn
học vì nhà trường là nơi diễn ra nhiều nhất các tác động qua lại về mặt xã hội
đối với trẻ, nhóm bạn này có thể gồm các thành viên cùng giới hay hỗn hợp,
có thể là nhóm bạn thân thiết. Thông qua các mối quan hệ mang tính xã hội
này, trẻ VTN hiểu biết rõ hơn về bản thân và những người khác [17].
1.3.
Tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe lứa tuổi VTN
Vị thành niên là một lực lượng to lớn và đóng vai trò nòng cốt của xã
hội. Ở những nước đang phát triển có cấu trúc dân số trẻ như Việt Nam thì lực
lượng vị thành niên chiếu gần một phần tư dân số, đây là nguồn nhân lực chủ
yếu cho đất nước trong tương lai [23].
Các vấn đề sức khỏe tâm thần ảnh hưởng tới khoảng 10-20% trẻ em
và thanh thiếu niên trên toàn thế giới [24]. Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần
cho trẻ em và trẻ vị thành niên là một trong ba chương trình lớn của chăm sóc
sức khỏe. Các tổn thương tâm thần luôn là một trong những gánh nặng bệnh
tật cho xã hội, chiếm khoảng 12% trên tổng số bệnh [5].
Đối với vị thành niên, các vấn đề về sức khỏe tâm thần là một trong
những nhân tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến cái chết, chẳng hạn như tự tử. Tổ
chức y tế thế giới (WHO) đã tổ chức các buổi tư vấn toàn cầu với sự tham gia
của chính trẻ VTN cho thấy sức khỏe tâm thần là vấn đề sức khỏe quan trọng
nhất đối với vị thành niên ngày nay. Chính bản thân trẻ nuốn được tiếp cận
nhiều hơn về mọi mặt để có thể tự chăm sóc sức khỏe tâm thần tốt hơn [25].
1.4. Các
công cụ đánh giá sức khỏe tâm thần
Hiện nay, các công cụ đánh giá sức khỏe tâm thần dựa trên các cấu
trúc của các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM IV và ICD 10 để xác định tỷ lệ
đoán của bộ câu hỏi SDQ25 phiên bản tiếng việt đạt từ 0,70 đến 0,79 tùy theo
đối tượng và phương pháp lấy thông tin, không khác nhau giữa tự điền và
phỏng vấn. Đồng thời kết quả cho thấy sử dụng bộ câu hỏi SDQ25, thầy cô
giáo là nguồn cung cấp thông tin đánh giá về rối nhiễm tâm trí của trẻ có độ
tin cậy ổn định hơn so với bố mẹ hoặc chính bản thân trẻ [27].
13
Do giới hạn về sức lực và thời gian, chúng tôi chọn thu thập số liệu từ
thầy cô giáo cho các thông tin vê sức khỏe thâm thần. Trong nghiên cứu này
chúng tôi lựa chọn sử dụng công cụ SDQ25 theo phương thức tự điền.
1.5. Tình
1.5.1.
hình sức khỏe tâm thần của lứa tuổi VTN trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề sức khỏe tâm thần có
xu hướng gia tăng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, trên 25% dân số
thế giới bị rối loạn tâm thần và hành vi tại một thời điểm nào đó trong cuộc
đời [5]. Nghiên cứu của Merikangas và cộng sự năm 2009 cho thấy khoảng
1/4 trẻ mắc một rối loạn tâm thần trong suốt năm qua và khoảng 1/3 số trẻ xảy
ra trong cả cuộc đời. Rối loạn lo âu là rối loạn thường gặp nhất, tiếp theo là
các rối loạn hành vi, rối loạn tâm thần và rối loạn sử dụng chất gây nghiện.
Tuy nhiên chỉ có dưới một nửa số trẻ bị rối loạn tâm thần hiện tại được điều
trị các chuyên khoa sức khỏe tâm thần [28].
Một nghiên cứu về rối loạn tâm thần trẻ em và trẻ vị thành niên trên
toàn cầu báo cáo rằng có đến 20% trẻ em và thanh thiếu niên măc bệnh tâm
thần. Kết quả cũng cho thấy tự tử là nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở trẻ vị
5,9% nữ thanh thiếu niên đã từng nghĩ đến chuyện tự tử. Tỷ lệ này cao gấp
hơn 2 lần so với nam thanh thiếu niên [33].
Không dưới 20% số người trẻ tuổi sẽ trải qua những rối loạn tinh thần
như phiền muộn, nhiễu loạn tâm lý, lạm dụng thân thể, hành động tự sát hay
chán ăn [13]. Để cải thiện vấn đề này, cần tăng cường việc chăm sóc sức khoẻ
cho vị thành niên và các dịch vụ tư vấn tại cộng đồng [12].
Dưới gánh nặng đáng kể của các vấn đề sức khỏe tâm thần, WHO đã
xây dựng Kế hoạch hành động Sức khỏe Tâm thần cho 2013-2020. Kế hoạch
này bao gồm các hành động đề nghị để cải thiện sức khỏe tâm thần của vị
thành niên [34].
1.6. Những yếu tố liên
1.6.1. Yếu tố cá nhân
quan đến sức khỏe tâm thần của lứa tuổi VTN
15
Nhân tố di truyền: Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến
một số rối nhiễu tâm thần nhưng không phải là tuyệt đối. Có khi các rối nhiễu
tâm thần phát sinh trong một thành viên của gia đình mà không thấy trong
các thành viên khác, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà con cháu vẫn
khỏe mạnh bình thường. Cũng có trường hợp nhân tố di truyền không tác
động vào thế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa.
Những nguyên nhân do quá trình sinh nở: trường hợp sinh khó để lại
di chứng trong sự phát triển của bộ não.
Những nguyên nhân do nuôi dưỡng: chế dộ ăn uống không hợp lý đẫn
đến suy dinh dưỡng, ảnh đến sức khỏe thể lực cũng như sức khỏe tâm thần
Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng, năng lực, tính cách, khí
chất…Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các
của trẻ.
Ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu thấy rằng áp lực từ các kỳ thi
chuyển cấp và gánh nặng học tập có liên quan đến tình trạng sức khỏe tâm
thần kém ở các học sinh Trung Quốc [36].
1.6.4.
Yếu tố xã hội
Bạo lực: Bạo lực bạn tình: Bạo lực trong các mối quan hệ thân mật là
phổ biến. Nó không chỉ dẫn đến chấn thương thể chất, mà còn dẫn đến chấn
thương về mặt tinh thần. Những chấn thương do bạo lực bởi bạn tình có thể
dẫn đến vấn đề sức khỏe tâm thần ngay lập tức hoặc kéo dài lặp đi lặp lại
trong suốt cuộc đời. Các cuộc điều tra trong trường học trong năm quốc gia có
thu nhập cao (Canada, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa
Kỳ) cho thấy dấu hiệu bạo lực bạn tình ở vị thành niên không sống chung
nhưng đang trong mối quan hệ yêu đương khoảng 10%. [37]. Tỷ lệ bạo lực
giữa các học sinh trong các trường học ở cả Bắc Mỹ và châu Âu cũng tương
tự.
Bắt nạt: là một chỉ số khác về bạo lực. Bị bắt nạt thường dẫn đến một
loạt các vấn đề tâm thần, tâm lý xã hội, nhận thức/giáo dục và y tế bao gồm cả
trầm cảm và tự tử, cũng như phản ứng đối phó kém với các vấn đề như nghiện
rượu và sử dụng ma túy khác. Tỷ lệ vị thành niên trẻ, những người cho biết họ
bị bắt nạt (trong vòng một hoặc hai tháng qua) dao động dưới 10% ở Ý và
17
African đến 50% hoặc cao hơn ở 17 quốc gia trong tổng số 106 quốc gia.
Trong khoảng một nửa số quốc gia, con trai bị bắt nạt nhiều hơn con gái [38].
Internet: Một số nghiên cứu cho thẩy 5-10% người dùng internet bị
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Tân Dân và thị trấn Khoái Châu đại
diện cho khu vực nông thôn và thành thị của huyện Khoái Châu.
Tiêu chuẩn chọn trường tham gia nghiên cứu:
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Đảm bảo đủ cỡ mẫu cho nghiên cứu.
2.2. Thời gian nghiên cứu
-
Nghiên cứu được thực hiện từ 06/2015 đến 06/2016
2.3. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh của các trường THCS được chọn trong huyện
- Giáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
-
Là học sinh/giáo viên của các trường được lựa chọn vào nghiên cứu
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
-
Những học sinh được xác định không đủ khả năng hiểu và trả lời bảng
hỏi
- Những học sinh/giáo viên không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Những học sinh/giáo viên vắng mặt trong thời gian nghiên cứu
2.4. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trong nghiên cứu này.
2.5. Cỡ
nghiên cứu, tổng cộng có 16 giáo viên.
2.6. Biến
số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu
Biến số
Thông tin Giới
chung
Dân tộc
Học lực
Hạnh kiểm
Khối học
MT1:
Thực trạng
Thực trạng chung
sức khỏe
Định nghĩa
Nam/nữ
Kinh/khác
Giỏi/Khá/TB/yếu/kém
Khá/tốt/TB/yếu/kém
Khối 6/7/8/9
SKTT Sử dụng thang đo
SDQ25 để chấm điểm
đưa ra tổng điểm cuối
Công cụ TTTT
Bộ câu hỏi tự điền
-
cùng xem trẻ có gặp chuẩn hóa.
khó khăn trong 1 vài
khía cạnh như cảm xúc,
sự tập trung, hành vi
hoặc khả năng hòa
nhập: bình thường/nghi
ngờ/có vấn đề SKTT.
Sử dụng thang đo Bộ
câu
hỏi
SDQ25 để chấm điểm SDQ25 được dịch
đưa ra tổng điểm cho sang tiếng việt đã
từng khía cạnh: cảm chuẩn hóa.
xúc, hành vi, sự hiếu
động, quan hệ bạn bè,
quan hệ xã hội.
MT2: Một Thông tin cá nhân Tuổi, giới, học lực, Bộ câu hỏi tự điền
số yếu tố của đối tượng nghiên hạnh kiểm
liên quan cứu
đến SKTT Thông tin gia đình
Nghề nghiệp bố mẹ, bố Bộ câu hỏi tự điền
của
học
mẹ xa nhà/đã mất, gia
sinh tại hai
đình có người bị
trường
bệnh/tàn tật, người
21
•
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, học lực,
•
hạnh kiểm, dân tộc, hoạt động thể dục thể thao, học thêm ....
Thông tin về gia đình: nghề nghiệp của bố mẹ, mỗi quan hệ trong
gia đình, tình cảm gia đình, kinh tế điều kiện sống của gia đình,
•
-
sức khỏe của thành viên trong gia đình ...
Thông tin về trường học: yêu thích trường học, mỗi quan hệ với
thầy cô bạn bè.
Bộ câu hỏi dành cho giáo viên: là bộ SDQ25 được dịch sang tiếng việt và
chuẩn hóa bao gồm 25 câu hỏi ứng với những cảm xúc và hành vi khác nhau.
Với mỗi mục, người trả lời đánh dấu vào 1 trong 3 ô để chỉ ra câu hỏi đó
không đúng, đúng một phần hay đúng hoàn toàn với học sinh. Bộ câu hỏi gồm
các thang đo để đo lường 5 khía cạnh:
• Biểu hiện cảm xúc: buồn rầu, thất vọng, cáu gắt, tức giận, suy
nhược, sợ hãi, lo lắng, mất quan tâm thích thú, ngại giao tiếp bạn
•
22
-
Tổng số điểm có từ các câu khoanh tròn (không tính các câu 1,4,9,17,20 là
những câu dành cho chẩn đoán khác) để có được tổng số, điểm phản ánh tình
trạng sức khoẻ tâm thần của trẻ. Ngưỡng để đánh giá một trẻ nghi ngờ bị
RNTT trong điều kiện của Việt Nam khi sử dụng bộ câu hỏi này như sau:
Bình thường
Nghi ngờ
Có vấn đề SKTT
SKTT chung
0 – 11 điểm
12 – 15 điểm
16 – 40 điểm
Vấn đề cảm xúc
0 – 4 điểm
5 điểm
5 điểm
0 – 4 diểm
2.8.2
Quy trình thu thập thông tin
Với bộ câu hỏi dành cho học sinh: đối tượng nghiên cứu được mời
ngồi trong lớp học của trường, giới thiệu về nghiên cứu, hướng dẫn các em
về các điền phiếu sau đó phát phiếu cho các em tự điền dưới sự hướng dẫn
và giám sát của nghiên cứu viên.
Với bộ câu hỏi dành cho giáo viên: các giáo viên sẽ được mời vào
phòng họp/giao ban của trường, hướng dẫn và tự điền vào bộ câu hỏi trong
vòng khoảng 5 phút/1 bảng hỏi.
23
2.8. Xử
lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập liệu bằng phần mềm epidata 3.1. Làm sạch, xử lý,
phân tích số liệu bằng STATA 12.
Thống kê mô tả bao gồm: tần số và tỷ lệ % cho biến định tính; trung
bình, trung vị và độ lệch chuẩn cho biến định lượng
Thống kê suy luận bao gồm: kiểm định t-test, ANOVA test đối với
biến định lượng phân phối chuẩn, Mann-Whitney test, Kruska wallis test đối
với biến định lượng phân phối không chuẩn được sử dụng để kiểm định sự
nhập liệu.
2.10.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích điều tra về SKTT của học sinh, không
ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như kinh tế của các em.
24
Nghiên cứu được phép của trường học nơi các em học tập, được thông
báo trước về mục đích, nội dung và quá trình nghiên cứu. Các học sinh trước
khi tham gia nghiên cứu sẽ được cho biết về nghiên cứu này, mục đích của
nghiên cứu và những quyền lợi được hưởng của các em.
Các thông tin thu thập được giữ bí mật hoàn toàn và chỉ phục vụ cho
mục đích nghiên cứu.
25
aChương 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thông
tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3. 1: Thông tin chung của học sinh
Đặc điểm
Dân tộc
n
%
n
%
221
0
100
0
306
2
99,4
0,6
527
2
99,6
0,4
74
88
55
1
73,8
18,6
7,2
0,4
276
27
4
1
89,6
8,8
1,3
0,3
439
68
20
2
83,0
12,9
3,8
0,4
180
41
35,7
64,3
127
94
X
12,6
57,5
42,5
SD
1,2
166
142
X
12,5
53,9
46,1
SD
1,1
293
236
X
12,6
55,4
44,6