NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM2011 - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NGUYỄN TRỌNG HIẾU NGHIÊN CỨU
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2011
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA

CẦN THƠ, 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NGUYỄN TRỌNG HIẾU

NGHIÊN CỨU
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN

Từ viết tắt Diễn giải
CES-D Center of Epidemiologic Studies Depression:
Thang đo trầm cảm của trung tâm nghiên cứu dịch tễ

ĐLC Độ lệch chuẩn
HIV/AIDS Human immunodeficiency virus/
Acquired Immune Deficiency Syndrome
Virus gây suy giảm miễn dịch người/
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
HS Học sinh
KTC Khoảng tin cậy
OR Odds ratio: Tỷ số chênh
SKTT Sức khỏe tâm thần
TB Trung bình
TH Tiểu học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
WHO World Health Organization: Tổ chức y tế thế giới MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN 3
1.1.1. Trầm cảm 3

3.3.1. Liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia
đình và môi trường trường học của học sinh 32
3.3.2. Liên quan giữa lo lắng với đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia
đình và trường học của học sinh 37
Chương 4 BÀN LUẬN 41
4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
CẦN THƠ 41
4.1.1. Đặc điểm nhân chủng học của học sinh 41
4.1.2. Đặc điểm môi trường gia đình của học sinh 42
4.1.3. Đặc điểm môi trường trường học của học sinh 44
4.2. THỰC TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ 44
4.2.1. Đặc điểm chung về sức khỏe tâm thần của học sinh 44
4.2.2. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo giới 45
4.2.3. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo trường 46
4.2.4. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo khối lớp 47
4.3. LIÊN QUAN GIỮA SỨC KHỎE TÂM THẦN VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM
NHÂN CHỦNG HỌC, MÔI TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG HỌC CỦA HỌC SINH 48
4.3.1. Liên quan giữa trầm cảm với các đặc điểm nhân chủng học, môi trường
gia đình và môi trường trường học của học sinh 48
4.3.2. Liên quan giữa lo lắng với các đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia
đình và môi trường trường học của học sinh 51
4.4. ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU 53
4.4.1. Ưu điểm của nghiên cứu 53
4.4.1. Khuyết điểm của nghiên cứu 53
KẾT LUẬN 55
KIẾN NGHỊ 57
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Bảng 3.27. Liên quan giữa lo lắng với môi trường sống trong gia đình 38
Bảng 3.28. Liên quan giữa lo lắng với kết quả học tập trong học kì trước 39
Bảng 3.29. Liên quan giữa lo lắng và áp lực học tập của học sinh 39
Bảng 3.30. Liên quan giữa lo lắng và mâu thuẫn với thầy cô của học sinh 40
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH

Hình 2.1. Sơ đồ biến số trong nghiên cứu 18
Biểu đồ 3.1. Thực trạng về trầm cảm và lo lắng của học sinh 31
1

ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe tâm thần là một yếu tố quyết định quan trọng của chất lượng cuộc
sống và sức khỏe tổng thể [7]. Sức khỏe tâm thần mô tả một cảm giác sức khỏe chủ
quan, khả năng sống trong một cách tích cực và hạnh phúc, có khả năng hồi phục để
đối phó với những thách thức cuộc sống hiện tại, kiểm soát được tình cảm, và có thể
chịu trách nhiệm [34]. Những người mắc rối loạn sức khỏe tâm thần có nguy cơ
bệnh tật cao và tử vong sớm [40]. Nhìn chung, họ có sức khỏe kém cũng như có
nguy cơ cao thực hiện vào những hành vi gây hại cho sức khỏe như uống rượu, hút
thuốc lá và ít vận động [28]. Các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có thể làm cho việc

đối tượng học sinh trung học phổ thông để tìm hiểu các vấn đề sức khỏe tâm thần và
các yếu tố có liên quan ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh trung học
phổ thông tại thành phố Cần Thơ.
Mục tiêu của đề tài:
- Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần và các yếu
tố liên quan của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm
2011.
- Mục tiêu chuyên biệt:
1. Xác định tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ
thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh
trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
SKTT được định nghĩa là một trạng thái của sự khỏe mạnh và hạnh phúc,
nhận thức được khả năng của chính mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình
thường của cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công, đóng góp cho cộng đồng
của họ [38].
SKTT và các rối loạn hành vi bao gồm một loạt các rối loạn tâm lý với các
triệu chứng khác nhau nhưng nói chung chúng được đặc trưng bởi sự kết hợp hành
vi bất thường của nhận thức, tình cảm và trạng thái tâm lý tiêu cực như trầm cảm, lo
lắng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người không chỉ về mặt sinh
học mà còn tác động lên tâm lý xã hội [38].
Cải thiện SKTT là một mục tiêu quan trọng, nó mang lại lợi ích đáng kể về
sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người và cộng đồng. Những lợi ích

xuân hoặc đầu mùa hè và kết thúc vào mùa thu [6].
- Trầm cảm tâm thần: các triệu chứng của trầm cảm sẽ đi kèm với các triệu
chứng của rối loạn tâm thần như ảo giác và ảo tưởng [6].
- Trầm cảm sau sinh: theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia của Hoa Kỳ,
trầm cảm sau sinh được chẩn đoán khi một người mẹ trải qua một giai đoạn trầm
cảm trong vòng một tháng sau khi sinh [6].
Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm: khí sắc trầm buồn, mất mọi quan
tâm và hứng thú, ăn mất ngon, rối loạn giấc ngủ, rối loạn tâm thần vận động, mất
sinh lực, mặc cảm tự ti và ý tưởng bị tội, thiếu quyết đoán và giảm tập trung, ý
tưởng tự sát, lo lắng, ảo giác, ảo tưởng, các triệu chứng thực thể như buồn nôn, táo
bón, thở sâu, đau ngực, chuột rút,… [5], [6].
Nguyên nhân của trầm cảm: trầm cảm là một căn bệnh vô cùng phức tạp,
có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến trầm cảm như mắc bệnh lý thực thể hoặc
5

thay đổi cuộc sống như sự di cư hoặc mất mát người thân yêu, trong gia đình có
người bệnh trầm cảm và có thể không tìm được nguyên nhân.
- Lạm dụng về thể chất, tình dục và tình cảm.
- Một số thuốc ví dụ thuốc điều trị tăng huyết áp.
- Mâu thuẫn hoặc tranh chấp với các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè.
- Cái chết hoặc sự mất mát.
- Di truyền học: gia đình có người bị trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ.
- Các sự kiện chính trong cuộc đời ngay cả những sự kiện như bắt đầu một
công việc mới, tốt nghiệp hoặc kết hôn có thể dẫn đến trầm cảm.
- Vấn đề cá nhân khác như sự cô lập và cách ly xã hội hoặc bị đuổi khỏi gia
đình có thể dẫn đến trầm cảm.
- Bệnh tật
- Lạm dụng chất kích thích, gần 30% những người lạm dụng chất gây nghiện
có nguy cơ trầm cảm nặng [6].
Trầm cảm là một vấn đề y tế công cộng quan trọng vì nó là tương đối phổ

thành thị và nông thông) ở Malaysia cho thấy rằng ngược đãi tình cảm có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê đối với trầm cảm, lo lắng, lòng tự trọng và tự tử ở HS
THPT [8].
1.1.2. Lo lắng
Lo lắng được mô tả như “một trong những cảm giác mà chúng ta trải qua khi
chúng ta chịu áp lực từ các vấn đề thể chất, xã hội, kinh tế và tâm lý” [36], [41]. Lo
lắng là một cảm xúc bình thường của con người mà tất cả mọi người đã từng trải
qua trong cuộc sống như khi phải đối mặt với các vấn đề khó khăn trong công việc,
trước khi tham gia một kì thi hoặc khi đưa ra một quyết định quan trọng. Tuy nhiên
rối loạn lo lắng thì khác biệt, chúng gây ra những căng thẳng về mặt tâm lý ảnh
hưởng và cản trở khả năng điều khiển cuộc sống bình thường của con người [6].
Rối loạn lo lắng là một bệnh lý tâm thần nghiêm trọng. Đối với những người
bị rối loạn lo lắng, sự lo âu và sợ hãi luôn xuất hiện, lấn át cuộc sống và làm tê liệt
họ. Có rất nhiều loại rối loạn lo lắng bao gồm:
7

- Rối loạn hoảng sợ: những người có tình trạng có cảm giác khiếp sợ xuất
hiện đột ngột và lặp lại mà không có bất cứ một cảnh báo nào [6].
- Rối loạn ám ảnh bắt buộc: những người này bị ảnh hưởng bởi những suy
nghĩ hoặc nỗi sợ hãi liên tục khiến họ làm những hành động hoặc có những thói
quen không bình thường, đây là những ám ảnh có tính bắt buộc. Ví dụ một người sợ
vi khuẩn một cách vô lý thì rửa tay của họ liên tục [6].
- Rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý: đây là một rối loạn có thể xuất
hiện sau một sang chấn tâm lý hoặc một sự kiện đáng sợ, chẳng hạn như sau khi bị
cưỡng hiếp, xâm hại thể chất, cái chết bất ngờ của một người thân yêu hoặc một
thảm họa tự nhiên [6].
- Rối loạn lo âu xã hội: còn được gọi là ám ảnh xã hội, liên quan đến việc lo
lắng quá nhiều và tự suy nghĩ về những tình huống xã hội hàng ngày. Những lo lắng
thường tập trung vào nỗi sợ hãi bị người khác đánh giá hoặc cư xử một cách nào đó
có thể gây bối rối hoặc bị mọi người chế giễu [6].

phát triển chung của những người trẻ tuổi. Đối với những người khác, nó có thể kéo
dài đến khi trưởng thành và trở thành lo lắng xã hội hay ám ảnh xã hội. Ở tuổi
trưởng thành, một nỗi sợ hãi người khác quá mức không phải là một giai đoạn phát
triển bình thường mà được gọi là lo lắng xã hội.
Điều quan trọng cần nhấn mạnh rằng sự lo lắng không chỉ bao gồm triệu
chứng thể chất mà còn bao gồm nhiều triệu chứng liên quan đến cảm xúc, chúng
bao gồm: "cảm giác lo lắng hoặc sợ hãi, khó tập trung, cảm giác căng thẳng hoặc
bồn chồn, dự đoán những điều tồi tệ nhất, cáu gắt, không được nghỉ ngơi, xem xét
(và chờ đợi) cho các dấu hiệu (hoặc các sự cố) hoặc sự nguy hiểm, và cảm giác
giống như tâm trí của bạn trống rỗng" [29]. Ngoài ra, "cơn ác mộng, ám ảnh về cảm
giác, một cảm giác bị mắc kẹt trong tâm trí của bạn và cảm giác giống như mọi thứ
đều đáng sợ".
1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN
Những rối loạn hành vi, thần kinh, tâm thần xảy ra trên toàn cầu và gây ra
hậu quả to lớn. Những người này thường bị xã hội cô lập, chất lượng cuộc sống trở
nên nghèo nàn và thường chết sớm [39]. Hàng trăm, hàng triệu người trên toàn thế
9

giới bị ảnh hưởng bởi những rối loạn tinh thần, hành vi, thần kinh và sử dụng chất
gây nghiện. Ví như các ước tính của WHO năm 2002 cho thấy rằng 154 triệu người
trên toàn cầu bị trầm cảm và 25 triệu người tâm thần phân liệt, 91 triệu người bị ảnh
hưởng bởi rối loạn sử dụng rượu, và 15 triệu người bị rối loạn do sử dụng ma túy
[39]. Ngoài ra, báo cáo về gánh nặng bệnh tật toàn cầu ghi nhận rằng 850000 người
chết do tự tử mỗi năm, 86% trong số đó ở các nước đang phát triển và có thu nhập
thấp và hơn nửa trong số đó có độ tuổi từ 15 đến 44 [40].
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng SKTT vẫn còn một sự ưu tiên thấp ở các
nước đang phát triển và thu nhập thấp. Các nước này có xu hướng ưu tiên kiểm soát
và loại trừ các bệnh truyền nhiễm và sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ hơn so với
SKTT [26]. Trung bình, cứ một trong bốn bệnh nhân đến một dịch vụ y tế tại bất kỳ
thời gian nào có ít nhất một bệnh nhân có rối loạn tâm thần, thần kinh hoặc hành vi

- Thực phẩm; dễ mua, chất lượng
- Nhà cửa: giá phù hợp, dễ tìm.
- Thu nhập: an toàn, dễ tìm việc, điều kiện
làm việc tốt.
- Linh hoạt và kĩ năng xã hội tốt.
- Sức khỏe tốt.
- Sự tôn trọng.
- Tham gia công tác xã hội: quan hệ tốt
mạng lưới nhóm và cộng đồng.
- Thể thao và giải trí: tham gia tốt.
- Phương tiện vận chuyển: dễ tiếp cận và
giá cả phù hợp.
- Dịch vụ: dễ tiếp cận.
- Đời sống tinh thần.
- Rượu và ma túy: tiếp cận và lạm dụng.
- Bất lợi xã hội và kinh tế
- Sự đổi chỗ: tị nạn và xin tị nạn.
- Khuyết tật.
- Sự phân biệt chủng tộc và sự sỉ nhục.
- Giáo dục: không tiếp cận được.
- Môi trường: không an toàn, đông đúc,
nghèo tài nguyên.
- Gia đình: tan vỡ, bất hòa, bỏ bê con
cái, trầm cảm sau sinh.
- Thực phẩm: không đủ, không mua
được.
- Bệnh di truyền, bệnh lý thực thể.
- Sự cô lập và cách ly: xã hội và địa lý.
- Thiên tai và thảm họa.
- Vô gia cư.

khó từng trải trầm cảm nhiều hơn các gia đình có thu nhập cao. Các nghiên cứu của
các tác giả trong nước cũng tìm thấy mối liên quan của giới tính với trầm cảm và lo
lắng [25], [35]. Hơn nữa, sống ở vùng nông thôn là một yếu tố dự đoán mạnh mẽ
của các rối loạn SKTT của thanh thiếu niên [23].
Đặc điểm môi trường gia đình
Trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ cũng có ảnh hưởng lên trầm
cảm ở lứa tuổi này. Ở Trung Quốc, HS từ các gia đình có trình độ học vấn của cha
mẹ thấp và làm những nghề bất lợi như nông dân hoặc thất nghiệp thì có mức độ
các triệu chứng trầm cảm cao hơn [30]. Các yếu tố cá nhân bao gồm lòng tự trọng,
hành động bắt chước tiêu cực, tiền sử bị lạm dụng và bỏ bê là yếu tố dự đoán mạnh
mẽ của trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác [20]. Các nghiên cứu tại Việt Nam
cũng cho thấy mối liên quan của các vấn đề SKTT với đặc điểm gia đình như trình
12

độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của mẹ [35], trong khi đó nghiên cứu của tác giả
Trần Bích Phương lại tìm thấy mối liên quan với việc sống chung cha mẹ của HS,
tình trạng hôn nhân của cha mẹ và nghề nghiệp của cha [25].
Liên quan đến môi trường gia đình, HS từ những gia đình tan vỡ có cha mẹ
ly dị, mối quan hệ trong gia đình kém dễ xảy ra các rối loạn về tâm thần hơn. Hơn
nữa, các nghiên cứu về mối quan hệ cha mẹ và con cái chỉ ra rằng con cái cãi nhau
liên tục với cha mẹ về các vấn đề nhỏ nhặt của cuộc sống gia đình như công việc
nhà, lựa chọn quần áo, bạn bè và bài tập về nhà có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn
so với HS khác [22].
Đặc điểm môi trường trường học
Nghiên cứu của Resknick và cộng sự (1997) cho thấy mối liên hệ với nhà
trường tốt thì HS ít có rối loạn về cảm xúc, suy nghĩ tự tử, bạo lực, lạm dụng thuốc
và hành vi tình dục. Các nghiên cứu SKTT tại Việt Nam đều cho thấy mối liên quan
của trầm cảm, lo lắng với thành tích học tập, thành tích học tập trong học kì trước
càng thấp thì HS có nguy cơ lo lắng và trầm cảm càng cao [25], [35]. Ngoài thành
tích học tập, áp lực học tập trong nhà trường cũng là vấn đề đáng lưu tâm nhất là

Thanh Trúc trong HS ở thành phố Hồ Chí Minh, 10,2% trong thanh thiếu niên
Malaysia [8], [9], [31], [35]. Hút thuốc được cho rằng có mối liên hệ chặt chẽ với
hành vi tự tử và các vấn đề SKTT cũng như khả năng học thuật [18].
Tại Việt Nam, một cuộc khảo sát năm 2010 khoảng 10044 thanh thiếu niên
(38% từ 14-17 tuổi) cho thấy rằng 59% người tham gia từng uống rượu – nam giới
nhiều hơn nữ giới và 20,4% người tham gia nghiên cứu từng hút thuốc lá (39,5%
nam và 0,6% nữ).
1.4. BỐI CẢNH VỀ CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở VIỆT NAM
Nước ta đã thay đổi một cách nhanh chóng trong hai thập kỷ qua. Sự phát
triển về mặt kinh tế và chính sách mở cửa đã thúc đẩy cả sự phát triển về mặt kinh
tế và sự thay đổi về mặt xã hội. Mặt trái của sự thay đổi đó là sự thay đổi về mô
hình bệnh tật. Các bệnh phổ biến của phần lớn các bộ phận dân số là những bệnh
liên quan đến nghèo đói trước đây không còn nữa, nhưng các bệnh lý được tìm thấy
phổ biến ở các xã hội có kinh tế phát triển đã bắt đầu tăng lên [2], [42]. Tuy nhiên,
14

không có nhiều nghiên cứu tập trung vào SKTT trong dân số Việt Nam. Trong một
nghiên cứu có giá trị để đánh giá vốn xã hội và SKTT ở Việt Nam xuất bản năm
2003, Trần Tuấn và cộng sự ghi nhận rằng "sự quan tâm đến SKTT ở Việt Nam là
chậm phát triển" [33].
Trong những năm gần đây (từ năm 2006 đến nay), nhiều vấn đề SKTT
trong HS như căng thẳng tâm lý, lo lắng, trầm cảm và vấn đề tự tử đã được cảnh
báo rất nhiều. Ước tính có khoảng 20% thanh thiếu niên và trẻ em Việt Nam có sức
khỏe tâm thần kém [14], [32]. Vào thời điểm đó, McKelvey nhấn mạnh các dịch vụ
SKTT cho trẻ em ở Việt Nam đặc biệt hạn chế do ưu tiên về các vấn đề sức khỏe
khác, chẳng hạn như các bệnh truyền nhiễm và suy dinh dưỡng.
Gần đây, các kết quả từ nghiên cứu luận văn thạc sỹ Trần Bích Phương
(2007) đối với SKTT của HS trung học ở Việt Nam cho rằng sự lạm dụng ma túy và
rượu của cha mẹ, nghèo đói, mối quan hệ bất hòa của cha mẹ và hôn nhân tan rã
trong suốt thời thơ ấu có liên quan với nguy cơ gia tăng các triệu chứng trầm cảm,

trong vòng 12 tháng trước. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự gắn kết của nhà trường,
sự quan tâm của cha mẹ là các yếu tố bảo vệ, trong khi đó bị bắt nạt ở trường và bảo
vệ quá mức của cha mẹ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, kinh tế gia đình, tình trạng
nghiện rượu của cha mẹ, có liên quan đến trầm cảm, lo lắng và hành vi tự tử của HS.
HS ở các trường thành thị có SKTT kém hơn HS ở vùng ngoại ô [25].
Trong một đề tài thạc sỹ của Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh năm 2009 – Khảo sát
sức khỏe tâm thần của sinh viên y tế công cộng và điều dưỡng tại thành phố Hồ Chí
Minh, cũng đã chứng minh rằng các yếu tố gia đình, trường học và xã hội có liên
quan đến SKTT của sinh viên [35].
Tương tự như nghiên cứu của tiến sỹ Nguyễn Thanh Hương, một nghiên cứu
cắt ngang – đề tài thạc sỹ của Nguyễn Tấn Đạt về ngược đãi trẻ em và sức khỏe tâm
thần của sinh viên năm thứ nhất của trường Đại Học Y Dược Cần Thơ năm 2009,
cho thấy tỷ lệ sinh viên có cảm giác buồn chán và tuyệt vọng mỗi ngày trong hai
tuần trong vòng 12 tháng trước nghiên cứu là rất cao 34%. Tỷ lệ sinh viên có ý định
tự tử và có hành vi tự tử trong vòng 12 tháng qua lần lượt là 6,6% và 1,2% [9].

Trích đoạn Đặc điểm chung về sức khỏe tâm thần của học sinh Liên quan giữa trầm cảm với các đặc điểm nhân chủng học, môi trường ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU Khuyết điểm của nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status