thực trạng bệnh răng miệng và các yếu tố liên quan của học sinh trường tiểu học tam hiệp – thanh trì - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng là bệnh phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, là những
bệnh dễ mắc từ rất sớm ngay từ khi mọc răng. Ở nước ta, theo số liệu điều tra
cơ bản của viện Răng – Hàm - Mặt Hà Nội (2001) tỷ lệ trẻ em bị sâu răng
khoảng 65%, viêm lợi, viêm quanh răng chiếm từ 95% đến 99,5%. đĐiều tra
sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh răng
miệng (RM) ở học sinh tiểu học cao đặt biệt từ (6- 102 tuổi) cao, tỷ lệ nàytrẻ
6 tuổi mắc là 83,7%, tỷ lệ trẻ 12 tuổi mắc là 56,6%[11].
Việt Nam là một nước đang phát triển điều kiện kinh tế còn nhiều khó
khăn, trang thiết bị và cán bộ răng hàm mặt còn thiếu trầm trọng, sự hiểu biết
về bệnh răng miệng trong cộng đồng còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ mắc các bệnh
răng miệng trong cộng đồng cao và có chiều hướng gia tăng, nhất là ở các
vùng nông thôn, miền núi - những nơi chưa có hoặc đã có chương trình nha
học đfường nhưng chưa hiệu quả.
Năm 1999-2001 Viện răng hàm mặt Hà Nội kết hợp với trường đại học
Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng trên toàn
quốc và kết quả là 83.7% trẻ em 6 tuổi sâu răng sữa; 56,6% trẻ em 12 tuổi sâu
răng vĩnh viễn; trẻ 6-8 tuổi 25,5% có cao răng, 42,7% có chảy máu lợi; trẻ 12-
14 tuổi 78,4% có cao răng, 71,4% có chảy máu lợi.Trong buổi tổng kết
chương trình Nha học đường năm 2005 vừa qua tại Hà Nội, GS.TS Trần Văn
Trường (Chủ tịch Hội RHM Việt Nam, Chủ nhiệm chương trình Nha học
đường toàn quốc) [.10.] đã đưa ra những số liệu thống kê về tình hình chăm
sóc răng miệng của Việt Nam với những con số đáng giật mình cùng với lời
khuyến cáo "nếu không chăm sóc dự phòng cho cộng đồng thì sâu răng sẽ là
một vấn đề lớn về bệnh tật của xã hội và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng
1
1
đồng". Theo báo cáo này thì tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ em đang ở tuổi đến
trường (từ 6 - 8 tuổi) là 85%. Theo kết quả điều tra, các em ở độ tuổi vào lớp
1, trong 10 em thì chỉ giỏi lắm là được 2 em không bị sâu răng. Bên cạnh đó,
tình hình các loại bệnh quanh răng cũng không sáng sủa gì hơn. Trẻ em từ 6 -

Bệnh RM ở học
sinh
Tiểu học cao
Nhận thức
chưa đầy đủ
về các bệnh
RM
Nguồn
nước thiếu
Fluor
Không
khám RM
định kỳ
Vệ sinh RM
kém
4
4
Chế độ ăn
và thói quen
xấu
1.1. Cấu tạo của răng:
Răng được tạo thành bởi thân răng và chân răng. Thân răng là phần lộ ra
trong khoang miệng, phần cắm trong xương máng răng gọi là chân răng.Bộ phận
giáp ranh giữa thân răng và chân răng gọi là cổ răng.Quan sát theo mặt ngang
răng gồm bốn bộ phận: Men răng, chất răng, xương răng và tuỷ răng [12].

- Men răng: Lớp cứng bao phủ trên thân răng có màu trắng sữa hoặc
màu vàng nhạt, màu sắc của men răng có liên quan tới độ khoáng chất có
trong men răng.
- Cement chân răng: phần cứng phủ trên bề mặt của chân răng.

dụng nghiền nát thức ăn.
pPhát âm: Răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát âm.Răng
nằm giữa môi và lưỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau không thể
thiếu bộ phận nào.Các răng phía trước có ảnh hưởng rất lớn đối với
ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt
các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất
đi sự hạn chế của răng trước cũng ảnh hưởng tới độ chính xác của
việc phát âm. Đối với trẻ nhỏ nếu răng sữa bị hỏng sớm, phải nhổ, trẻ
có thể nói ngọng. Hơn nữa răng còn có ảnh hưởng quan trọng đến vẻ
đẹp của khuôn mặt của mỗi người.
Thêm vào đó răng sữa có công dụng giúp răng vĩnh viễn mọc đều hơn, không
chen chúc. Thông thường, một răng sữa mọc lên và đứng trên cung hàm. Sau
vài năm, chân răng bắt đầu tiêu dần, chuẩn bị nhường chỗ cho một mầm răng
vĩnh viễn sẽ trồi lên ngay đúng vị trí đó. Nếu răng sữa bị hỏng và phải nhổ
sớm, mầm răng vĩnh viễn bên dưới chưa lớn kịp nên không mọc ngay được,
lỗ nhổ răng đó bị bít lại và cứng chắc. Mầm răng vĩnh viễn mọc âmlên sẽ gặp
khó khăn, mọc chậm và đôi khi mọc lệch. và thẩm mỹ.
1.4. Các bệnh về răng miệng
Các bệnh răng miệng phổ biến nhất là sâu răng, viêm tuỷ răng,
vviêm lợi., viêm quanh răng. Những bệnh này thường không nguy
7
7
hiểm đến tính mạng nhưng gây đau đớn khiến mất ăn, mất ngủ, ảnh
hưởng đến sức khỏe, sức lao động hoặc gây ảnh hưởng đến tâm lý
trong những trường hợp răng vẩu, răng bị lệch lạc
8
8
1.4.1 Bệnh sâu răng:
Sâu răng là bệnh đặc thù tại chỗ liên quan đến sự phá huỷ của mô răng
do các sản phẩm chuyển hoá từ vi khuẩn làm cho tổ chức cứng của răng bị

nguyên nhân nữa là do người dân thiếu hiểu biết về phòng bệnh răng
miệng, thiếu bác sỹ răng hàm mặt, nhiều tuyến huyện-xã còn “trắng”
về bác sĩ răng hàm mặt bên cạnh một thực trạng là nhận thức của mọi
người về vấn đề này còn quá đơn giản.
- Nhân tố kí chủ:1.4.1.3 Sinh bệnh học sâu răng:
10
10
∗+ Răng: hình thái, vị trí và kết cấu của răng có liên quan rất
nhiều đến sự phát sinh của bệnh sâu răng. Sâu răng dễ phát sinh ở
các khu vực dễ đóng mảnh vụn nhỏ của thức ăn như các chỗ lõm của
mặt trên của răng, phần cổ răng và các kẽ răng.
∗+ Nước bọt: có tác dụng tự làm sạch răng, khi lượng bài
tiết của nước bọt ít thì số lượng răng bị sâu tăng lên.
1.4.1.3 Sinh bệnh học sâu răng:
Người ta cho rằng sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi
khuẩn đóng vai trò quan trọng.Ngoài ra còn phải có các yếu tố thuận
lợi như chế độ ăn nhiều đường, VSRM kém, tình trạng sắp xếp của
răng khấp khểnh, chất lượng men răng kém và môi trường tự nhiên-
nhất là môi trường nước ăn có hàm lượng fluor thấp (hàm lượng fluor
tối ưu là 0,8-0,9 ppm/lit ) đã tạo điều kiện cho răng sâu phát triển.
Trước năm 1970, căn nguyên gây sâu răng được giải thích bằng
sơ đồ Key:11
11
Thức ăn Vi
khuẩn
Men
răng

Các yếu tố bảo vệ:
- Nước bọt
- Khả năng kháng axit của men răng
- Flour có ở bề mặt men răng
- Trắm bít hố rãnh
13
13
- Độ Ca
++
, NPO
4
quanh răng
- PH > 5,5
14
14
1.4.2. Viêm tủy răng :
Viêm tuỷ răng thường xẩy ra khi bị sâu răng mà không được
điều tri hợp lý, gồm:
∗- Tiền tủy viêm: Đau buốt khi ăn, uống chua nóng, lạnh, đau buốt
kéo dài khi đã ngừng ăn.
∗- Tủy viêm cấp: Đau buốt tự nhiên mặc dù không ăn uống gì, đau
dữ dội, đau liên tục, đau lan một nửa mặt, đau nửa đầu.
*- Tủy viêm mãn tính: Cơn đau không rõ liên tục kéo dài.
*- Tủy viêm hoại thư: Tủy đã chết, không đau, màu răng xám, mùi hôi
thối, nếu không được điều trị tích cực và đúng phương pháp sẽ dẫn
đến viêm cuống răng, viêm khớp răng và phải nhổ răng.
1.4.3 Bệnh viêm lợi::
Viêm lợi là bệnh viêm nhiễm xảy ra ở vùng xung quanh răng gây ra bởi
vi khuẩn tích tụ trong rãnh giữa chân răng và lợi, hình thành cao răng, chúng
tiết ra độc tố làm tổn thương lợi cuối cùng dẫn tới viêm lợi.

1.4.3.2 Nguyên nhân:
Có nhiều nguyên nhân đưa đến viêm lợi như: Bệnh về máu, bệnh đường
tiêu hoá, nhiễm độc, thiếu vitamin, thiếu sinh tố, sang chấn khớp cắn, vi
khuẩn và vệ sinh răng miệng kém.Nhưng nguyên nhân chính là do vi khuẩn
và vệ sinh răng miệng kém tạo mảng bám. Mảng bám răng được hình thành
và phát triển khi môi trường trong miệng giàu chất dinh dưỡng nhất là đường
Saccharose. Lúc đầu mảng bám vô khuẩn sau vi khuẩn xâm nhập và phát triển
tạo thành cao răng. Cao răng đầu tiên là cặn lắng của nước bọt bám vào cổ
răng dần dần tách lợi ra khỏi cổ răng gây viêm lợi thể nhẹ, nhìn thấy lợi cổ
răng có màu đỏ sẫm, chạm vào dễ chảy máu, máu chảy ra đọng lại ở cổ răng
để lại xác hồng cầu có chất sắt tạo thành cao răng có màu xám bám rất chắc
vào cổ răng, tách lợi ra càng nhanh tạo thành các túi mủ. Khi túi mủ nông, mủ
có thể thoát ra khỏi cổ răng nhưng khi túi mủ sâu mủ không thể thoát ra được
nên tạo thành các ổ mủ cạnh chân răng hoặc cuống răng gây đau nhức, khó
chịu, răng lung kay, đôi khi có cảm giác chồi lên nếu không được điều trị kịp
thời răng sẽ phải nhổ.
5.Thực trạng bệnh răng miệng ở Việt Nam và trên thế giới:
5.1 Thực trạng bệnh răng miệng trên thế giới:
5.1.1 Bệnh sâu răng
18
18
Ở các nước công nghiệp hoá cao: Từ năm 1940 đến 1960 tình hình sâu
răng ở trẻ em các nước này rất nghiêm trọng. Ở hầu hết các nước, chỉ số
DMFT ở mức rất cao (trong khoảng 7,4- 12) nghĩa là trung bình mỗi trẻ em
có từ 7,4- 12 chiếc răng sâu. Đến những năm 1979 đến 1982, chỉ số này đã
giảm xuống.
Bảng 1. Bảng chỉ số DMFT ở trẻ dưới 12 tuổi ở các nước công nghiệp
hoá cao
Tên
nước

Tên nước Điều tra lần 1 Điều tra lần 2
DMF
T
Năm DMFT Năm
Chi Lê 0,28 1960 6,3 1978
French
Polyneia
6,5 1966 10,7 1977
Iran 2,4 1974 4,9 1976
Mêhico 2,7 1972 5,3 1976
Marốc 2,6 1970 4,5 1980
Thái Lan 0,4 1960 2,7 1977
Zaize 0,1 1971 2,3 1982
Theo thông báo của WHO năm 1994 và 1997 hầu hết các nước trong khu
vực có trên 90% dân số bị sâu răng, chỉ số DMFT ở một số nước ở mức cao.
Bảng 3.Bảng chỉ số DMFT ở trẻ dưới 12 tuổi ở khu vực Đông Nam Á,
Thái Bình Dương năm 1994 và 2000-2003
Tên nước Năm
1994
Năm 2000-
2003
Trung
Quốc
0,7 1,03
Lào 2,4 4,4
Triều
Tiên
3,0 3,1
Brunei 4,9 1,8
20

thông – Giáo dục sức khỏe TP.HCM) cho biết: “Bên cạnh các yếu tố
khách quan như độ flour trong nước chỉ bằng một nửa tiêu chuẩn quốc
tế, mạng lưới bác sĩ nha khoa còn mỏng… không thể không nhắc tới một
yếu tố làm đau đầu: Ý thức vệ sinh răng miệng của người dân rất thấp.
Nhiều đợt khảo sát của viện Răng Hàm Mặt và Trung tâm Truyền thông
– Giáo dục sức khỏe đều mang đến kết quả: Trên 50% người dân không
hề biết đến thói quen đi khám răng định kỳ!”.
Năm 1989 tại thành phố Hồ Chí Minh, trẻ 12 tuổi bị sâu răng 79,9%;
chỉ số DMFT là 3,14 thì đến năm 1995 tỷ lệ này là 88,49% và chỉ số
DMFT là 2,09.
Năm 1992, Võ thế Quang thông báo tình trạng sâu răng qua điều tra sức
khoẻ răng miệng toàn quốc cho thấy sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em có xu
hướng tăng 12 tuổi 57,33%, 15 tuổi 60%. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng
theo tuổi và tăng theo năm.
22
22
Tại Cần Thơ năm 1995 tỷ lệ trẻ dưới 12 tuổi bị sâu răng là 83,4%,
chỉ số DMFT là 2,7. Ở đồng bằng sông Cửu Long trẻ dưới 6 tuổi bị sâu
răng chiếm 97,5%, chỉ số DMFT là 9,96; trẻ 12 tuổi bị sâu răng 64% và
chỉ số DMFT là 2,96.
Năm 1999 Đào Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Thắng, Bùi Sỹ Đông, Nguyễn
Thị Hương, Đỗ Thị Thuỳ đã thông báo kết quả điều tra răng miệng của
học sinh tiểu học các dân tộc Yên Bái, có 41,79% sâu răng, 51,87 mắc
bệnh viêm lợi [6]. Cũng trong năm này Nguyễn Lê Thanh đã thông báo
kết quả điều tra răng miệng của học sinh lứa tuổi 12 tại các trường trung
học cơ sở quận Cầu Giấy có 37,9% sâu răng, 77,9% bị bệnh quanh răng.
Theo số liệu điều tra cơ bản của viện Răng – Hàm - Mặt Hà Nội
(2001) tỷ lệ trẻ em bị sâu răng khoảng 65%; viêm lợi, viêm quanh răng
chiếm từ 95% đến 99,5%. Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm
2001 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh RM ở học sinh tiểu học cao đặc biệt từ

về lợi nguy cơ sinh con nhẹ cân hoặc suy dinh dưỡng bào thai tăng gấp 6-10
lần so với những người không bị bệnh này.
1.67. Điều trị các bệnh răng miệng:
1.67.1 Bệnh sâu răng, viêm tuỷ răng:
Sâu răng được chia làm 2 loại:
- Toàn thân: Tuỳ theo từng nguyên nhân điều trị theo cách khác nhau.
- Tại chỗ:
*+ Với sâu men, sâu ngà: Làm sạch lỗ sâu, khoan tạo lỗ hàn, sát khuẩn
và hàn bằng xi măng, nhựa hoá học, bột bạc.
*+ Với viêm tủy cấp giai đoạn đầu: Điều trị bảo tồn thử, nếu bệnh nhân
vẫn đau phải đặt thuốc diệt tủy, lấy tủy, làm sạch và hàn.
24
24
+ * Với tủy hoại thư phải điều trị để lấy hết tủy đã thối mủ, làm sạch
ống tủy, buồng tủy nhiều lần rồi hàn thử, hàn vĩnh viễn.
1.67.2 Bệnh viêm lợi:
Phải điều trị nguyên nhân: Lấy cao răng là chính, chỉ dùng kháng sinh
khi lợi đang viêm cấp hoặc có ổ áp xe cạnh chân răng.
Phải lấy cao răng triệt để, lấy cao răng bằng máy siêu âm và dụng cụ chuyên
khoa, cao răng dưới lợi là chính, có khi phải lấy cao răng 3- 4 lần, mỗi lần
cách nhau 3-5 ngày, sau khi lấy cao răng phải làm nhẵn xương để lợi bám trở
lại cổ răng.
1.78. Dự phòng bệnh răng miệng:
Bệnh răng miệng là bệnh có tỷ lệ mắc cao trên thế giới, chi phí để điều
trị rất tốn kém. Theo báo cáo của WHO 1978, hàng năm nước Mỹ tốn 9 tỷ
USD cho việc chữa răng và phí tổn hơn 10 USD cho 1 răng trẻ em. Tại Anh
chi phí cho điều trị răng 1 năm là 180 triệu bảng. Tại Pháp là 8 tỷ Franc và 25
giờ công lao động. Vì vậy ở các nước phát triển rất coi trọng công tác phòng
chống các bệnh răng miệng. Đối với các em học sinh lứa tuổi học đường, để
chuẩn bị cho các em có một hàm răng vĩnh viễn khỏe đẹp trong tương lai thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status