VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÂN LUỒNG HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
DÂN TỘC NỘI TRÚ
CNĐT : TRẦN THANH PHÚC 9254
8
2
Mục tiêu nghiên cứu
10
3
Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
10
4
Nội dung nghiên cứu
11
5
Cách tiếp cận nghiên cứu
11
5
Phương pháp nghiên cứu
11
6
Sản phẩm nghiên cứu
12
7
Đóng góp của đề tài
12
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN LUỒNG
HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
13
I
Tổng quan của vấn đề
13
Tình hình tổ chức thực hiện các biện pháp giáo dục HN-DN và PLHS ở
trường PTDTNT
38
2
2
Thực trạng phân luồng học sinh sau THCS ở các trường PTDTNT
47
3
Thực trạng phân luồng học sinh sau THPT ở các trường PTDTNT tỉnh
55
III
1
Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan
62
2
Nguyên nhân chủ quan
63
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÂN LUỒNG HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
65
I
Dự báo xu thế phân luồng học sinh sau THCS và THPT các trường phổ
thông dân tộc nội trú từ nay đến 2020
65
II
1
Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp.
91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
99
TÀI LIỆU THAM KHẢO
104
Phụ lục 1: Phiếu khảo sát
107
Phụ lục 2: Kết quả khảo sát
119
Phụ lục 3: Khảo nghiệm các giải pháp
141
Phụ lục 4: Bảng số liệu về tình hình PLHS các trường PTDTNT
144
Phụ lục 5: Biên bản Hội thảo
150
Phụ lục 6 : Thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học
159
3
Biểu đồ 6.3 - Dự báo qui mô học sinh THCS các trường PTDTNT huyện
đến năm 2020
Biểu đồ 7.3
Biểu đồ 8.3
- Dự báo phân luồng học sinh sau THCS dân tộc nội trú vào
TCCN, nghề.
- Dự báo quy mô học sinh THPT dân tộc nội trú
Biểu đồ 9.3
- Dự báo HS sau tốt nghiệp THPT vào Đại học, cao đẳng
Biểu đồ 10.3 - Dự báo PLHS sau THPT dân tộc nội trú vào TCCN, DN
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PTDTNT Phổ thông dân tộc nội trú
HS Học sinh
HSDT Học sinh dân tộc
GV Giáo viên
DTTS Dân tộc thiểu số
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HN-DN Hướng nghiệp- dạy nghề
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
GD Giáo dục
GDTX Giáo dục thường xuyên
PLHS Phân luồng học sinh
TVHN Tư vấn hướng nghiệp
triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc.
2. Nội dung chính
2.1. Hệ thống hóa những nội dung chủ yếu về cơ sở lý luận của công tác phân
luồng học sinh phổ thông nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo đội ngũ cán bộ DTTS và
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát tri
ển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.
2.2. Đánh giá thực trạng tình hình công tác phân luồng học sinh trong các trường
phổ thông dân tộc nội trú.
2.3. Đề xuất một số giải pháp phân luồng học sinh trong các trường PTDTNT
2.4. Khảo nghiệm một số giải pháp ( trên phạm vi 3 tỉnh), lấy ý kiến phản hồi và
điều chỉnh các giải pháp.
3. Kết quả đạt được
3.1. Báo cáo:
- Cơ sở lý luận của việc phân lu
ồng học sinh các trường PTDTNT.
- Tổng quan về cơ sở lý luận phân luồng học sinh các trường PTDTNT
6
- Các báo cáo khoa học về phân luồng học sinh và những vấn đề liên quan đến
phân luồng học sinh phổ thông nói chung và phân luồng học sinh các trường PTDTNT
nói riêng.
- Báo cáo khoa học trong các hội thảo về cơ sở lý luận
3.2. Thực trạng phân luồng học sinh các trường PTDTNT
- Bộ phiếu điều tra để đánh giá thực trạng phân luồng học sinh các trường
PTDTNT (4 bộ phiếu điều tra: CBQL và GV, HS lớp 9, Học sinh lớp 12 và, PHHS).
- Báo cáo thực trạng phân luồ
ng học sinh ở trường PTDTNT ở địa phương.
3.3. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
3.4. Báo cáo tóm tắt đề tài
3.5. Một số bài báo khoa học đăng trên tạp chí Giáo dục
schools.
- Overview on theoretical background for allocating students of ethnic minority
boarding schools.
- Scientific reports on allocating and related issues on allocation of student in
generals and ethnic minority boarding student in particular.
- Scientific workshop reports on theoretical background.
3.2. Situation of allocation of ethnic minority boarding students.
- Questionnaires to evaluate situation of allocating students of ethnic minority
boarding schools (4 sets of questionnaires: education managers, teacher, student grade 9,
student grade 2 and parents).
- Report on situation on allocating students of ethnic minority boarding schools in
localities.
3.3. Report on findings of the study.
3.4 Summary report.
3.5 A number of scientific articles on Education Magazine.
3.6 Report of proceedings on National Workshop on allocating of ethnic minority
boarding students. 8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
` Sau hơn hai thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới, chuyển dịch từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN làm cho nước
ta đã có thay đổi về nhiều mặt. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển cùng với áp lực hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải có m
ột đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực có
trình độ với cơ cấu hợp lý để cạnh tranh trên thị trường thế giới và trong khu vực. Vì
vậy, việc phân luồng học sinh (PLHS) phổ thông đang trở thành một nhu cầu cấp thiết ở
nước ta hiện nay.
những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có bước đi và giải pháp về phân luồng học
sinh. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông cũng nhấn mạnh đến yêu cầu giáo dục hướng nghiệp góp phần tích cực, có hiệu
quả vào việc PLHS. Trong hướng dẫn hoạ
t động giáo dục lao động cho HS trường
PTDTNT số 7393/LĐHN ngày 26 ngày 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã chỉ rõ: cần phải hướng nghiệp cho HS các trường PTDTNT vào các nghề nông-
lâm nghiệp, nhóm nghề trồng trọt, chăn nuôi; hướng cho HS vào sư phạm và y tế cộng
đồng. Trong Quyết định số 49/2008/QĐ - GDĐT ngày 25/8/2008 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo khoản 4 Điều 14
đã nêu rõ: “Căn cứ vào quy hoạch đào tạo và sử
dụng cán bộ của địa phương, trường có kế hoạch hướng nghiệp và phân luồng học sinh
trong quá trình đào tạo”.
Trường PTDTNT được hình thành từ cuối những năm 50 của thế kỉ XX với
những tên gọi khác nhau như trường Phổ thông Thiếu niên dân tộc, trường Thiếu nhi rẻo
cao Việt Bắc, trường Thanh niên lao động XHCN Hòa Bình…, đến năm 1985, loại
trường này nhằm tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có trình độ cho vùng dân
tộc, miền núi được mang tên thống nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT)
theo Quyết định số 661/GDĐT ngày 29/6/1985 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành
Quy định về tổ chức và hoạt động của các trường phổ thông dân tộc nội trú. Học sinh
của trường PTDTNT được Nhà nước nuôi dạy và bảo đảm các đi
ều kiện để phát triển.
Năm học 2009-2010, trường PTDTNT có ở 49 tỉnh và thành phố với 294 trường
PTDTNT, bao gồm 06 trường trực thuộc Bộ, 49 trường cấp tỉnh, 239 trường cấp huyện
và cụm xã, thu hút khoảng 70.000 học sinh. Tính trung bình, quy mô trường Trung ương
là 550 HS/trường, trường tỉnh 410 HS/trường, trường huyện và cụm xã: 290 HS/trường.
Đến nay, tất cả các DTTS đều có con em theo học tại trường PTDTNT. Học sinh
PTDTNT chiếm khoảng 6,03% số học sinh dân t
ộc thiểu số (DTTS) cấp trung học của
cả nước.
HS của hệ thống các trường PTDTNT với nguồn ngân sách rất l
ớn, nhưng hiệu quả đào
tạo còn chưa tương xứng. Việc tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực còn có sự
mất cân đối so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc. Vì thế, việc nghiên
cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp PLHS trong các trường phổ thông dân tộc
nội trú cấp THCS và THPT là rất cần thiết và cấp bách.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phân luồng học sinh các trường PTDTNT, đề
xuất một số giải pháp phân luồng HS trong các trường này nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc.
3. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu việc PLHS trong các trường PTDTNT huyện và tỉnh.
3.2. Phạm vi và địa bàn nghiên cứu.
11
- Phạm vi nghiên cứu: Một số trường PTDTNT tỉnh và huyện có tính chất điển
hình ở một số tỉnh vùng dân tộc và miền núi.
- Địa bàn nghiên cứu: Các vùng Đông Bắc, Duyên Hải Nam Trung Bộ và Đông
Nam Bộ. Ngoài ra, nhóm đề tài còn điều tra khảo sát thêm một số trường PTDTNT các
tỉnh Gia Lai (vùng Tây Nguyên), Hòa Bình (vùng Tây Bắc), Trà Vinh (Vùng Tây Nam
Bộ) làm cơ sở cho những nhận định về thực trạng PLHS các trường PTDTNT.
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên c
ứu cơ sở lý luận PLHS trong các trường PTDTNT.
- Đánh giá thực trạng PLHS trong các trường PTDTNT ( huyện, tỉnh).
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện PLHS các trường PTDTNT.
5. Cách tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận hệ thống: Trong tiếp cận hệ thống, PLHS được nghiên cứu với tư cách
là một phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân, có mối quan hệ tương tác với các phân
trong quá trình nghiên cứu.
7. Sản phẩm nghiên cứu
- Sản phẩm chính: Báo cáo tổng kết về kết quả của đề tài.
- Sản phẩm khác: Bộ phiếu điều tra, báo cáo sử lý kết quả điều tra, kỷ yếu Hội
thảo; các bài báo về PLHS các trường PTDTNT.
8. Đóng góp của đề tài
- Nêu lên được thực trạng của việc PLHS trong các trường PTDTNT, chỉ ra được
nguyên nhân, hạn chế về công tác PLHS trong mộ
t số trường PTDTNT.
- Đề xuất được một số giải pháp PLHS các trường phổ thông dân tộc nội trú làm
cơ sở cho việc hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương về công tác PLHS trong các trường
PTDTNT vào các năm tới có hiệu quả.
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho việc soạn thảo văn bản hướng dẫn cho các sở
giáo dục và đào tạo, các trường PTDTNT trong việc quả
n lý chỉ đạo công tác PLHS có
hiệu quả cho các trường PTDTNT trong những năm tới.
13
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN LUỒNG
Hiện nay, hầu hết các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển trên thế
giới đều đã có những cố gắng phổ cập giáo dục một cách triệt để và toàn diện. Các cấp
học phổ thông từ giáo dục Tiểu học (độ tuổi 6-11 tuổi) và giáo dục THCS (độ tuổi 11-
14
15 tuổi) đều đã được tiến hành phổ cập dưới nhiều hình thức. Từ sau cấp THCS, phân
luồng học sinh mới được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và năng lực của mỗi cá nhân.
Xu thế phân luồng học sinh sau THCS, nhiều nước đã tuyển HS tốt nghiệp THCS
vào đào tạo nghề và trong các chương trình
đào tạo được kết hợp với các kiến thức văn
hóa trình độ THPT cho những HS mới chỉ tốt nghiệp THCS. Với yêu cầu này đã xuất
hiện loại hình trường dạy nghề kết hợp với dạy văn hóa phổ thông mang nhiều tên gọi
khác nhau. Ở Cộng hòa Liên bang Nga có trường “Dạy nghề Trung học”, ở Úc có
trường TAFE (techni cal and Further Education), ở Singapore có trường Bách nghệ
(Ponitechnic).
Ở những nước phát triển có kho
ảng 80 đến 85% số học sinh THCS ở độ tuổi 15-
16 được tiếp tục học lên cấp THPT bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng được công
nhận có cùng trình độ học vấn trung học. Việc phát triển giáo dục trung học sau THCS
hiện nay ở một số nước trên thế giói thường có 3 luồng, mỗi luồng có những tính chất
và đặc điểm khác nhau:
- Luồng 1: Trung học phổ thông
- Luồng 2: Trung học kĩ thuậ
t và công nghệ
- Luồng 3: Trung học dạy nghề
Ở nước Anh, hệ thống trường dạy nghề rất được coi trọng, tạo điều kiện cho HS
học hết THCS được đi học trường nghề nếu không có điều kiện tiếp tục học lên hệ chính
quy. Hệ thống trường dạy nghề còn tạo điều kiện cho cả người lớn đi học
để có nghề
liên hệ giữa lớp học và thế giới việc làm được thúc đẩy bởi vi
ệc cung cấp cơ hội, việc
làm, thực tập và những hình thức khác của việc học tập dựa trên việc làm. Nhiều
chương trình cũng đã tạo ra sự liên thông giữa chương trình ở trường THPT với các
chương trình ở trường chuyên nghiệp 2 hoặc 4 năm. Mặc dù gọi là chương trình từ nhà
trường đến việc làm nhưng nói chung không được thiết kế để đào tạo HS cho việc làm
bước vào th
ị trường lao động ngay sau khi rời ghế nhà trường THPT mà thực ra để
chuẩn bị cho HS vào học trong các trường chuyên nghiệp sau trung học, đồng thời trang
bị cho HS những tri thức, kĩ năng gắn với việc làm.
Tóm lại, giáo dục nghề nghiệp trong trường phổ thông ở Hoa Kỳ với truyền
thống lịch sử là chuẩn bị cho người học những kiến thức và kĩ năng ở mức vào thị
trường lao động trong những nghề đòi hỏi trình độ thấp hơn trình độ đại học. Tích hợp
giáo dục văn hóa và giáo dục nghề đang là xu hướng chính hiện nay ở cấp học THPT.
Các mô hình giáo dục THPT ở Hoa Kỳ rất đa dạng nhằm làm cho quá trình giáo dục
hợp lí hơn với nhu cầu, khả năng cá nhân người học và lợi ích cộng đồng.
Ở Ấn Độ, bậc THPT kéo dài 4 năm chia làm 2 giai đ
oạn: THPT bậc thấp (từ lớp
9 đến lớp 10) và THPT bậc cao (từ lớp 11 đến lớp 12). Sau 2 năm đầu của giai đoạn
một, HS có thể nhận chứng chỉ THPT bậc thấp. Học sinh hoàn thành 2 năm học tiếp
theo sẽ thi tốt nghiệp lớp 12. Sau năm lớp 10 HS có thể được phân thành 2 luồng: hàn
lâm và nghề. Khi đã vào một trong 2 luồng trên, HS thường khó chuyển từ luồng hàn
lâm sang luồng nghề hoặ
c ngược lại.
16
Tại Hàn Quốc, các trường THPT được phân thành các loại trường THPT hàn
lâm, trung học nghề và các loại trường THPT khác. HS học trong những trường THPT
hàn lâm (academic high school) ở đó dạy các chương trình văn hóa nâng cao có thể
quá rộng, chưa đi sâu vào nghiên cứu PLHS ở loại hình trường PTDTNT có tính chuyên
biệt, đặc thù hoặc mới chỉ đánh giá thực trạng phân luồng HS tốt nghiệp THPT các
trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và một số khuyến nghị (Đề tài cấp cơ sở C5-2000
của Nguyễn Đình Thịnh).
17
Đề tài Nghiên cứu thực trạng và giải pháp PLHS các trường phổ thông dân tộc
nội trú, mã số B2008-37-54TĐ sẽ đánh giá thực trạng phân luồng trên phạm vi rộng và
sâu hơn. Đồng thời còn dự báo tình hình PLHS từ nay đến 2015 và tầm nhìn đến năm
2020. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp có thể tác động tích cực có hiệu quả đến
việc PLHS trong các trường PTDTNT.
II. Chủ trương của Đảng và Nhà nướ
c về phân luồng học sinh sau THCS, THPT
Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội về đổi mới Chương
trình giáo dục phổ thông (GDPT), yêu cầu chương trình GDPT phải đảm bảo thực hiện
phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân
lực, bảo đảm tính liên thông giữa giáo dục phổ thông (GDPT) với giáo dục nghề nghiệp,
giáo dục đại h
ọc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh:
“ Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho
thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong cả nước và từng địa phương”.
Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010),
Nghị quyết Đạ
i hội X của Đảng đã chỉ rõ: “ Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo
dục quốc dân; chú trọng phân luồng đào tạo sau trung học cơ sở; bảo đảm liên thông
giữa các cấp đào tạo”.
Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.
Về khái niêm hướng nghiệp có nhiều định nghĩa khác nhau:
- Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm bảo đảm sự phân bố tối ưu (có
chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động. giúp đỡ
lựa chọn hợp lí ngành nghề [46].
- Hướng nghiệp là khái niệm chung của một trong những lĩnh vực văn hoá xã
hội, được xuất hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề cho thế hệ đang lớn
lên, hỗ trợ và phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên
môn tác động đến con người trong việc tự xác định nghề nghiệp và lựa chọn hình thức
tối ưu để có việc làm, có tính
đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn
cảnh kinh tế-xã hội trong thị trường lao động (Qui chế về hướng nghiệp và trợ giúp tâm
lí dân cư tại Liên Bang Nga).
Theo Nghị định số 75/2005/NĐ- CP, ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ
thì: “Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài
nhà trường để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn ngh
ề
nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao
động của xã hội”.
2. Khái niệm về phân luồng
Có nhiều định nghĩa về phân luồng: Phân luồng là phân chia các phương tiện đi
lại theo tuyến nhất định, nhằm đảm bảo giao thông thông suốt, có trật tự [46].
19
Phân luồng học sinh là việc xác định các mục tiêu và tổ chức hệ thống giáo dục-
đào tạo phù hợp với yêu cầu, cơ cấu của lực lượng lao động xã hội nhằm đáp ứng chiến
lược phát triển cân đối, bền vững của mỗi quốc gia, trên cơ sở đó định hướng cho sự
phát triển giáo dục các ngành, các cấp học.
Phân luồng HS sau mỗi cấp học là giúp cho các em chủ
động lựa chọn con đường
tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó phù hợp với hoàn cảnh, năng
triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc.
3. Khái niệm định hướng nghề
20
Định hướng nghề cho HS phổ thông là khái niệm thuộc phạm trù giáo dục hướng
nghiệp (GDHN). Theo quan điểm mới, GDHN có 4 giai đoạn: định hướng nghề, tư vấn
nghề, tuyển chọn nghề và thích ứng nghề. Hai giai đoạn đầu diễn ra ở trường phổ thông,
hai giai đoạn cuối diễn ra ở các trường chuyên nghiệp và đại học. Định hướng nghề
được hiểu là quá trình cho HS làm quen với thế
giới nghề nghiệp, giúp các em hiểu
mình, hiểu yêu cầu của nghề, định hướng các em đi vào những nghề mà các thành phần
kinh tế đang cần nhân lực.
Định hướng nghề là giai đoạn đầu tiên của quá trình hướng nghiệp. Nó có 2
thành tố chính: giáo dục nghề (hiểu theo nghĩa rộng của từ này gồm cả dạy nghề phổ
thông, dạy GDHN dưới mọi hình thức khác) và tuyên truyền nghề thông qua giờ
dạy ở
trên lớp; qua hoạt động ngoại khóa; qua gia đình, người thân, bạn bè; qua các phương
tiện thông tin đại chúng; sách báo, tạp chí, đài phát thành, đài truyền hình, mạng
internet.v.v Định hướng nghề qua 4 con đường:
- Qua các môn học; qua giới thiệu các ngành nghề: dạy NPT, dạy GDHN, dạy
công nghệ; qua lao động sản xuất; qua hoạt động ngoại khóa.
Định hướng nghề có quan hệ mật thiết với tư vấn nghề, đó là hai mặt c
ủa một
quá trình thống nhất. Chỉ có thể tư vấn chọn nghề cho HS thành công khi biết chắc các
em được định hướng vào lĩnh vực nào, có thiên hướng vào ngành nghề cụ thể gì? Như
vậy, định hướng nghề đã cung cấp “dữ liệu”- “cơ sở vật chất” cho quá trình TVN, chúng
tồn tại song song với nhau, không thể có “cái này” mà thiếu “cái kia được” [25]
4. Khái niệm tư vấn hướng nghiệp và tư vấn nghề
Tư vấn hướng nghiệp (TVHN): đối tượng của TVHN là học sinh phổ thông,
phạm vi diễn ra trong nhà trường phổ thông và trong trung tâm kĩ thuật tổng hợp-hướng
được dùng từ lâu và rất phổ biến trong sách, báo,
tạp chí. Gần đây người ta dùng thuật ngữ TVHN. Theo tác giả Đặng Danh Ánh, chúng
giống nhau cả về hình thức và nội dung khái niệm bởi lẽ mục tiêu chung nhất, cao nhất
của TVN và TVHN đều là giúp HS chọn được ngành học, nghề học và trường học sao
cho phù hợp với yêu cầu nghề của xã hội và đặc điểm của bản thân các em. Vì thế,
chúng có thể đổi vị trí cho nhau trong m
ệnh đề. Tuy nhiên, nếu nhìn thật tinh tế ta sẽ
thấy chúng khác nhau đôi chút về đối tượng, phạm vi và mức độ như trên.
5. Nghề phổ thông:
Những nghề dạy cho HS phổ thông (gọi tắt là nghề phổ thông) được quy ước với
những dấu hiệu cơ bản sau:
- Đó là những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương và
trên cả nước. N
ắm được nghề này học sinh có thể tự tạo việc làm, để sử dụng trong các
thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư.
- Nguyên vật liệu cho nghề dễ kiếm, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu
tư của của địa phương.
- Thời gian học nghề phù hợp với kế hoạch dạy học của THCS, THPT có thể
giải
quyết được cả số tiết lý thuyết và thực hành để nắm được trình độ tối thiểu của nghề.
22
Quan niệm trên nhằm loại trừ những nghề quá đơn giản, không có kĩ thuật, chỉ
cần đến sức lực cơ bắp. Do đó, ở đây không đặt vấn đề dạy nghề quá đơn giản, đồng
thời cũng không hạn chế những nghề phức tạp ở những địa phương có điều kiện thực
hiện.
6. Khái niệm về quản lý giáo d
ục và biện pháp quản lý giáo dục
6.1. Quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Nói một cách rõ ràng, đầy đủ
23
ứng xử sư phạm với tất cả các em là một trong những nguyên nhân của hiện tượng lười
học và bỏ học làm ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo. Vì thế, việc PLHS sẽ góp phần khắc
phục hiện tượng này.
Kết quả của các công trình nghiên cứu về tâm lý đã chứng tỏ rằng hứng thú của
học sinh THCS, đặc biệt là HS cuối cấp THPT đối vớ
i các môn học là tương đối bền
vững. Nếu biết sử dụng các hứng thú này vào quá trình dạy học thì sẽ làm cho động lực
học tập của HS trở nên mạnh mẽ và quá trình giáo dục đạt hiệu quả tốt hơn. Phân luồng
HS là nhằm tạo điều kiện tối ưu cho việc phát triển năng lực riêng của HS, sớm định
hướng cho các em ngay từ lúc còn đang học ở phổ thông,
đẩy nhanh quá trình chuẩn bị
nguồn nhân lực cho xã hội. Như vậy, việc PLHS không những nâng cao hiệu quả trong
mà còn cả hiệu quả ngoài của quá trình giáo dục.
2. Đặc điểm tâm lý học sinh dân tộc với xu hướng nghề nghiệp
2.1. Đặc điểm tâm lý học sinh phổ thông THCS và THPT
Chúng ta thấy rằng đối với học sinh cấp THCS (lớp 6 - 9) từ 11 đến 15 tuổi và
của học sinh THPT (lớp 10-12) từ 16 đến 18 tuổ
i. Việc phân chia lứa tuổi này căn cứ
vào việc nghiên cứu đời sống tâm-sinh lý đặc trưng của từng lứa tuổi. Trước hết, ở độ
tuổi từ thiếu niên lên thanh niên có nhiều biến cố diễn ra rất đặc biệt, báo hiệu sự trưởng
thành về mặt thể chất. Ở lứa tuổi này các em thường có sự thay đổi đột ngột bên trong
cơ thể, tim đập nhanh hơn, xu
ất hiện khó thở Các quá trình thần kinh hưng phấn của vỏ
não mạnh, chiếm ưu thế nên nhiều khi các em không làm chủ được bản thân, gây lên
những hiện tượng tâm lý không ổn định dễ nóng nảy vô cớ, tính hay giận dỗi, hiếu
động, thờ ơ
Về mặt nhận thức, ở các em đã xuất hiện khả năng suy luận có giả thuyết dựa trên
tiền đề chung. Trí tuệ của lứ
a tuổi Thanh, thiếu niên các phẩm chất của quá trình nhận
học vì trách nhiệm đối với gia đình, nhà trường và bản thân Động cơ học tập gắ
n với
nghề nghiệp tương lai chưa có biểu hiện rõ ràng, bức xúc. Nhiều HS thích chọn nghề
theo cảm tính hơn là những nghề gần gũi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
của địa phương, của gia đình, làng bản và năng lực của bản thân. Chính vì những đặc
điểm tâm lí nêu trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phấn đấu vươn lên trong
học tập và vi
ệc chọn lựa ngành nghề của các em.
V. Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác PLHS các trường PTDTNT
Đến nay đã có nhiều tài liệu hội thảo, bài viết công bố trên tạp chí cũng như một
số đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề phân luồng, trong đó đề cập một cách tương đối
thống nhất những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phân luồng HS sau THCS và THPT.
D
ưới đây xin nêu một số yếu tố ảnh hưởng đó với HS trường PTDTNT.
1. Yếu tố tâm lí - xã hội và nhận thức
Phần lớn HS sau khi tốt nghiệp THCS trường PTDTNT đều muốn vào học các
trường PTDTNT tỉnh, PTDTNT Trung ương, sau nữa mới là học THPT hoặc bổ túc
THPT tại các trung tâm GDTX của huyện. Không ít HS có học lực yếu nhưng vẫn muốn
học THPT để thi vào CĐ, ĐH hoặc vào dự bị
, cử tuyển, cùng lắm mới “chịu” vào