Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Lý Quang Ngọc. - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ QUANG NGỌC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16 LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH NGỌC LAN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn, các Thầy Cô thuộc phòng Quản lý sau đại học trƣờng Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn UBND huyện Lộc Bình; UBND các xã: Yên Khoái, Xuân
Mãn, Nhƣ Khuê huyện Lộc Bình và các hộ gia đình ở 3 xã trên đã cung cấp số liệu
thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia
đình, ngƣời thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài.
Lộc Bình, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn Lý Quang Ngọc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii

2.2.2 . Phạm vi nghiên cứu 38
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 38
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Lộc Bình 41
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 41
3.1.2. Thực trạng về kinh tế - xã hội 48
3.1.3. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Lộc
Bình liên quan đến sản xuất nông nghiệp 53
3.1.4. Các vấn đề xã hội 55
3.2. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 56
3.2.1. Thành lập bộ máy chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ huyện đến
cơ sở 56
3.2.2. Xây dựng Kế hoạch thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 57
3.2.3. Kết quả bƣớc đầu tổ chức thực hiện Kế hoạch thực hiện Chƣơng trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 57
3.2.4. Điều kiện kinh tế xã hội của hộ nông dân huyện Lộc Bình 72
3.2.5. Đánh giá của ngƣời dân về việc xây dựng mô hình nông thôn mới 73
3.3. Phân tích khó khăn thuận lợi và các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình
xây dựng nông thôn mới ở địa bàn nghiên cứu 77
3.3.1. Thuận lợi 77
3.3.2. Khó khăn 78
3.4. Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới
ở địa phƣơng trong những năm tới. 79

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.4.1. Quan điểm về xây dựng và phát triển nông thôn mới 79
3.4.2. Phƣơng hƣớng và mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện Lộc Bình 81

năm 2013) 66
Bảng 3.13: Tình hình thực hiện tiêu chí môi trƣờng (Tính đến tháng 12
năm 2013) 68
Bảng 3.14: Tình hình thực hiện tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị (Tính
đến tháng 12 năm 2013) 70
Bảng 3.15: Tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí trên toàn huyện
(Tính đến tháng 12 năm 2013) 71

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vii
Bảng 3.16: Cơ cấu thu nhập bình quân của hộ gia đình năm 2013 72
Bảng 3.17: Diện tích một số loại đất của hộ năm 2013 73
Bảng 3.18: Các kênh tiếp cận thông tin của ngƣời dân về mô hình nông
thôn mới 74
Bảng 3.19: Ý kiến của ngƣời dân về chƣơng trình XDNT mới tại huyện
Lộc Bình 74
Bảng 3.20: Những công việc ngƣời dân tham gia vào xây dựng nông
thôn mới tại địa phƣơng mình 75
Bảng 3.21 : Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong triển khai 76
Bảng 3.22: Ý kiến của ngƣời dân về chất lƣợng điều kiện cơ sở hạ tầng 76
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã


Trên cơ sở các quyết định của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, các địa phƣơng sẽ tiến hành rà soát và xây dựng chƣơng trình hành
động để thực hiện thắng lợi xây dựng nông thôn theo bộ tiêu chí mới. Cũng nhƣ các
địa phƣơng vùng núi phía Bắc khác, Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, còn nhiều khó
khăn, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông thôn. Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên
giới phía Bắc, gồm có 11 đơn vị hành chính, gồm 10 huyện và một thành phố. Để
xây dựng nông thôn Lạng Sơn theo tiêu chí mới, đòi hỏi phải có sự đánh giá một
cách tổng quát, bên cạnh sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và huy động các nguồn
lực trong xã hội cùng tham gia vào phát triển nông thôn.
là một huyện miền núi biên giới phía Bắc của Việt Nam thuộc tỉnh
Lạng Sơn. Huyện có diện tích 100.095,64 km
2
và dân số là 78.955 ngƣời. Huyện có
27 xã , 02 thị trấn Lộc Bình và Na Dƣơng, trung tâm của huyện là thị trấn Lộc Bình
nằm trên Quốc lộ 4 (4B), cách thành phố Lạng Sơn 20 km về hƣớng Đông Nam và
cách biên giới Việt - Trung 15 km về hƣớng Đông Bắc. Lộc Bình vẫn là một huyện
phát triển dựa chủ yếu vào nông nghiệp, nhƣng đồng thời cũng có những thuận lợi
nhất định để phát triển và có cơ hội thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới.
Trên tinh thần học hỏi và mong muốn thực hiện nghiên cứu điểm nhằm áp dụng
rộng rãi mô hình nông thôn mới trên toàn tỉnh Lạng Sơn, góp phần phát triển kinh tế
- xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp – nông thôn nói riêng. Tôi đã chọn
đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và mô hình nông thôn
mới ở huyện Lộc Bình thời gian qua đề xuất các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá
trình xây dựng nông thôn mới ở địa phƣơng thời gian tới.

- Thông tƣ số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hƣớng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới quy định mức đạt của các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia.
1.1.1.2. Khái niệm xây dựng nông thôn mới:
Từ Quyết định số 491, 342 và Quyết định 800/Q Đ-TTg của Thủ Tƣớng
Chính phủ thì: Xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của
Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới.
1.1.2. Đơn vị nông thôn mới
Theo Quyết định 491/Q Đ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định đơn vị nông thôn
mới có 3 cấp:

4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

- Xã nông thôn mới (đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới);
- Huyện nông thôn mới (khi có 75% số xã nông thôn mới);
- Tỉnh nông thôn mới (khi có 80% số huyện nông thôn mới).
Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung Ƣơng kiểm tra việc công nhận xã nông
thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các
huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới và tỉnh có 80% số huyện trong
tỉnh đạt nông thôn mới.
1.1.3. Chức năng của nông thôn mới
1.1.3.1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của
các quốc gia. Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn. Chức
năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất
lƣợng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn
mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện
đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức

việc xây dựng nông thôn mới nếu nhƣ phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính
khu vực đã đƣợc hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn
có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những
hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn
sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống.
1.1.3.3. Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp đƣợc hình thành từ những tích luỹ trong suốt một
quá trình lâu dài, từ khi con ngƣời thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên
nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hƣởng xấu và
cuối cùng là tôn trọng tự nhiên. Trong nông thôn truyền thống, con ngƣời và tự
nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng ngƣời tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự
nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Thành thị là hệ
thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất. Quá trình mƣu cầu cuộc
sống đầy đủ về vật chất đã khiến ngƣời thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên.
Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con ngƣời
với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trƣờng một cách nghiêm trọng.
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con ngƣời ngày càng xa rời tự
nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trƣờng nƣớc và không khí. Nếu so sánh

6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp
ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lƣơng thực hoa quả cho con ngƣời, mặt khác
cũng đáp ứng đƣợc các yêu cầu về môi trƣờng tự nhiên. Thuộc tính sản xuất nông
nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ
thống sinh thái. Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo
nguyên vv phát huy các tác dụng sinh thái nhƣ điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm
tiếng ồn, cải thiện nguồn nƣớc, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất vv.
Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa

đồng hành với nhau, dựa trên những quan điểm hệ thống. Thực tế, các vấn đề về
nông nghiệp cần phải đƣợc giải quyết thông qua phát triển công nghiệp, các vấn đề
về nông dân phải giải quyết thông qua phi nông hóa, phát triển nông thôn phải song
hành cùng phát triển thành thị. Điều này cũng có nghĩa là việc giải quyết các vấn đề
“tam nông” không thể chỉ bó hẹp trong nội bộ nông thôn và nông nghiệp, mà cần
phải xây dựng nên quan niệm phát triển thành thị và nông thôn song hành với nhau,
xóa bỏ mọi ngăn cách giữa thể chế nông thôn với thành thị, phải đƣa vấn đề phát
triển nông nghiệp vào trong bố cục phát triển kinh tế quốc dân, đƣa tiến bộ nông
thôn vào tiến bộ chung của toàn xã hội, phải xem xét mục tiêu gia tăng thu nhập
nông dân trong hệ thống phân phối và tái phân phối thu nhập quốc dân. Chỉ có nhƣ
vậy mới có thể giải quyết triệt để bản chất của các vấn đề “tam nông”. Từ ý nghĩa
này có thể thấy, các công trình xây dựng cải tạo nông thôn cho dù cũng rất quan
trọng, nhƣng không thể coi đó là động lực đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
XHCN. Xây dựng nông thôn mới cần phải kết hợp chặt chẽ với đô thị hóa và công
nghiệp hóa mới có sức mạnh và đảm bảo tính liên tục.
Ý nghĩa của công nghiệp hóa ở đây không chỉ ở hiện đại hóa sản xuất nông
nghiệp, mà còn ở chỗ cung cấp ngày càng nhiều cơ hội việc làm cho lực lƣợng lao
động dồi dào ở nông thôn. Do vậy, đối với sự nghiệp xây dựng nông thôn mới
XHCN, nhà nƣớc cần phải ra các chính sách nhằm gia tăng sức thu hút của thành
thị, xóa bỏ các chính sách gây cản trở đến sự chuyển dịch lao động và ngành nghề
sang khu vực thành thị, không nên cố định các ngành nghề công nghiệp tại các khu
vực nông thôn.
1.1.5.2. Động lực từ nông dân phi nông hóa
Quá trình đi lên hiện đại hóa của một quốc gia cũng chính là quá trình chuyển
dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đồng thời cũng là quá

8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

trình ngƣời nông dân tự do chuyển đổi thân phận của mình. Trong quá trình này,

9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

nông sản phẩm, đây cũng chính là chức năng cũng nhƣ trách nhiệm của các tổ chức
hợp tác nông dân. Trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật trong
nông thôn hay tổ chức các hệ thống dịch vụ xã hội hóa cũng nhƣ tham gia vào gia
công sản xuất nông sản phẩm, tổ chức đào tạo xã viên để nâng cao tố chất cho
ngƣời nông dân trong tất cả các quá trình này, tổ chức hợp tác nông dân phát huy
vai trò không thể thay thế.
1.2. Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM trước Đại hội V
Trong bối cảnh đất nƣớc ta đang tạm bị chia cắt thành 2 miền, cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nƣớc đang ngày càng ác liệt, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
III đã xác định đƣờng lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là: Đƣa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tƣ liệu sản
xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập
thể từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành một nền kinh tế cân đối
và hiện đại. Chủ trƣơng của Đảng là: “ xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng
làm nền tảng, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ” (Văn kiện Đại hội, Ban chấp
hànhTrung ƣơng Đảng Lao động Việt Nam, xuất bản tháng 9 – 1960, tr.182-183).
Hội nghị Trung ƣơng 5 khóa III (năm 1961) đã ra Nghị quyết về vấn đề phát
triển nông nghiệp, trong đó nêu lên phƣơng hƣớng cải tiến công cụ và cơ giới hóa
nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).
Thực hiện chủ trƣơng trên, trong giai đoạn này, Nhà nƣớc đã đầu tƣ hàng
nghìn máy kéo lớn nhỏ, hàng vạn động cơ điện, động cơ nổ và hàng triệu công cụ
cải tiến cho nông nghiệp. Có gần 100 nhà máy chế biến nông sản, chế biến thức ăn
gia súc đƣợc xây dựng. Phong trào cải tiến công cụ, thâm canh, làm thủy lợi, thực
hiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho nông nghiệp, nông thôn

Cái vốn quý nhất của chúng ta là lao động, lực lƣợng tiềm tàng lớn nhất có thể phát
huy trƣớc tiên, cũng là đối tƣợng lao động có khả năng thu hút lực lƣợng đông đảo
nhất, là đất đai (kể cả rừng và biển) có điều kiện phát triển mạnh và sử dụng nhiều
lao động sớm tạo ra một lực lƣợng sản xuất mới”.
Nhƣ vậy, từ Đại hội III đến Đại hội IV và Đại hội V của Đảng, chúng ta có
thể khẳng định rằng, tuy chƣa chƣa đề cập đến cụm từ “Nông thôn mới” nhƣng
Đảng ta luôn xác định nông nghiệp có một vị trí rất quan trọng, là mặt trận hàng
đầu, đồng thời đã đề ra nhiều chủ trƣơng, đƣờng lối để phát triển nông nghiệp, nông

11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

thôn theo hƣớng hiện đại.
1.2.2. Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM từ Đại hội VI đến nay
Đại hội VI đã nêu 4 bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học “Đảng phải
luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”.
Đại hội VI đã đề ra những quan điểm và chính sách đổi mới, trƣớc hết là đổi
mới kinh tế; phấn đấu đƣa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng
hóa xã hội chủ nghĩa; thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần; xác định cải tạo
xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thƣờng xuyên liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội; xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ
chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.
Đại hội chỉ rõ: “ nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm
còn lại của chặng đƣờng đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp
tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa trong chặng đƣờng tiếp theo” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 20).
Từ những tƣ tƣởng chỉ đạo trên và rút kinh nghiệm từ khoán theo Chỉ thị 100
của Ban Bí thƣ (khóa IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) đã thổi vào
nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta một luồng gió mới, cuộc sống của ngƣời dân đã

Đại hội VIII đã nhận định rằng nƣớc ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời khẳng định:
“Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nƣớc ta thành một
nƣớc công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất, đời sống
vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nƣớc mạnh, xã
hội công bằng, văn minh” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 80).
Nghị quyết Đại hội VIII cũng chỉ rõ phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời chỉ rõ nội dung công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là:
“+ Phát triển toàn diện nông, lâm, ngƣ nghiệp, hình thành các vùng tập trung
chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều
về số lƣợng, tốt về chất lƣợng, bảo đảm an toàn về lƣơng thực trong xã hội, đáp ứng
đƣợc yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trƣờng trong, ngoài nƣớc.
+ Thƣc hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa

13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

+ Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng
cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
+ Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới
bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp,
các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bƣớc hình thành nông
thôn mới văn minh, hiện đại” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 87).
Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ƣơng Đảng khóa VIII đã

khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày
càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hƣớng mạnh ra
xuất khẩu.
Bốn là, phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền
tảng, hợp tác và hƣớng dẫn kinh tế tƣ nhân phát triển theo đúng pháp luật. Tạo điều
kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những ngƣời có khả năng phát triển
sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn”.
Đại hội IX của Đảng đã chủ trƣơng phải rút ngắn thời gian công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nƣớc, phấn đấu đến năm 2020, nƣớc ta trở thành một nƣớc công
nghiệp. Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ phải ƣu tiên phát triển lực lƣợng sản xuất,
đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa,
phát triển kinh tế đi đôi với phát triển vắn hóa – xã hội, tăng cƣờng các nguồn lực
cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ƣơng khóa IX đã ra Nghị quyết về
“Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 –
2010”. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung tổng quát công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn: “ là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hƣớng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trƣờng; thực hiện
cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ,
trƣớc hết là công nghệ sinh học, đƣa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các
khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, sức cạnh
tranh của nông sản hàng hóa trên thị trƣờng”.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu

15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

kinh tế nông thôn theo hƣớng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các
ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông

16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ:
+ Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông
thôn đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng; phát triển mạnh ngành chăn nuôi; xây
dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung.
+ Đẩy mạnh công tác trồng và bảo vệ rừng; Phát triển mạnh nuôi trồng thủy
sản theo hƣớng hàng hóa lớn, phục vụ xuất khẩu; Quy hoạch và có chính sách phát
triển nghề làm muối.
+ Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
+ Đầu tƣ phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn; tập
trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc và xây dựng nông thôn mới.
+ Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ.
+ Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp ở nông thôn, phát triển các
làng nghề, kinh tế trang trại
+ Tăng cƣờng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động
nông thôn.
+ Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn. Tổ
chức chƣơng trình xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có
cuộc sống văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu dân cƣ đô thị hóa.
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa X đã ban
hành Nghị quyết số 26 – NQ/TW về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Nghị quyết Trung ƣơng 7 khóa X đã đánh giá thành tựu và hạn chế trong vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn 20 năm đổi mới, đồng thời nêu 4
quan điểm về các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đó là:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lƣợc trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lƣợng
quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm
bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi

+ Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công
nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp
hóa nông thôn.
+ Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát
triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.
+ Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nƣớc, phát huy sức
của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân.

Trích đoạn Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Phƣơng pháp nghiên cứu Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên Thực trạng về kinh tế xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status