TIỂU LUẬN: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THCS - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận

dụng phương pháp dạy học bằng tình huống

nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong
dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THCS

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: VÕ THỊ KIM TỊNH
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A


Hà Tĩnh, năm 2015
ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung, chất
lượng giáo dục đại học nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng của các bộ môn Giáo dục công dân nói chung, mảng
kiến thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành, phát triển nhân cách,
rèn giũa, định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho học sinh. Đặc biệt, trong điều
kiện phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát
triển cao của hoạt động dạy học và giáo dục trên thế giới thì việc áp dụng các phương
pháp dạy học tích cực (trong đó có phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần
thiết đối với giáo viên dạy môn Giáo dục công dân.
1.3. Xuất phát từ thực trạng dạy và học bộ môn Giáo dục công dân trong nhà trường

môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THCS Đức Thuận
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường THCS Đức Thuận
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường THCS Đức Thuận
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra,
đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như phỏng vấn
sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

3


7.1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về
PPNCTH trong dạy học.
7.2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7.3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh.

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, chúng
là hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau về mục đích, tác
động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sự thống nhất
này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng,
thầy vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả
việc tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho
phương pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự
lực chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm
tra - đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản
của bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy,
trong phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với
nhau, thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối

5

Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài
toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải
quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những

6


tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái
(kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải
được giải quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh
ta chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt
tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con
người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của
hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành
động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải
quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng
tạo tích cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp
giành kiến thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ
cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và

thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.
Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh.
Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích cần đạt
được) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề.
Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của đổi mới
nội dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một trong những phương
pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả
về lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa
ra được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc
không sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết
tình huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:

8


Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và
dễ nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận,
người học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức
này một cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào
tình trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương
pháp giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn
liền với quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong

hạn chế của bản thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với các học viên
khác trong quá trình giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm
việc nhóm, tranh luận và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng
tình huống cũng giúp người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một
cách khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách lôgic; hiểu biết thực tế
sâu rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết
phản biện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ
dàng chấp nhận các ý kiến khác biệt, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người
khác để làm phong phú hơn vốn kiến thức của mình.
Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức,
kỹ năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có
thể đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả
năng nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học
tập của học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua
việc phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các
vấn đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người
có thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời

10

và pháp luật thay đổi một cách nhanh chóng nên “tuổi thọ” của một tình huống rất
ngắn. Có khi giảng viên mới xây dựng xong một tình huống, giảng dạy được một lần
đã phải thay đổi cho phù hợp.

11


Có ý kiến cho rằng dạy học bằng tình huống là cách để thầy “nghỉ ngơi” vì
trong khi người học phải làm việc, người dạy không có việc gì để làm. Đây là một ý
kiến sai lầm vì phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp
hơn trong giảng dạy, như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức
và khuyến khích người học thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện…
Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụng
phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng
của giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng
và (2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp
hơn Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ
thuyết giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề
nhằm gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống

dựng bài tập tình huống của giáo viên thường đi theo chiều ngược lại với quy trình
giải quyết bài tập tình huống của học sinh. Quy trình này có thể được mô tả bằng các
bước sau:
Bước 1 - Xác định kiến thức cần truyền đạt.
Bước 2 - Hình thành vấn đề.
Bước 3 – Hình thành tiểu vấn đề.
Bước 4 – Xây dựng tình tiết sự kiện của tình huống.
“Việc xây dựng tình huống luôn bắt đầu từ nội dung kiến thức cần truyền đạt
tới học sinh. Nội dung kiến thức này có thể là một khái niệm nào đó giáo viên muốn
học sinh nắm bắt được và phân biệt được với những khái niệm khác hay cũng có thể là
một nguyên tắc ứng xử nào đó mà giáo viên muốn học sinh hiểu và áp dụng được vào
thực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề mà
thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn

13


đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội
dung kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình
tiết của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình.
Thứ hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một
tình huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như
phân tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá
trình dạy học bằng tình huống .

nội dung phong phú, hợp với lứa tuổi học sinh theo từng cấp học nhưng nếu giáo viên
thiếu sự đầu tư thì giờ học sẽ nhàm chán, học sinh không thích học bộ môn này.
Giáo viên giảng dạy bộ môn này thường kiêm nghiệm hai phân môn như VănGiáo dục công dân; sử - Giáo dục công dân hoặc là phải dạy chéo môn, dạy không
đúng với phân môn mình được đào tạo, hoặc được đào tạo rồi mà không được quan
tâm giảng dạy đúng bộ môn GDCD. Bởi do ban lãnh đạo GD và ban giám hiệu nhà
trường có quan niệm xem nhẹ môn GDCD, cho rằng với môn GDCD là môn GD tư
tưởng chung chung, thuần túy nên ai cũng có thể giảng dạy được. Tình trạng này kéo
dài đã nhiều năm và hiện nay vẫn còn tiếp diễn. Do tác động của xã hội, các bậc phụ
huynh và học sinh chạy đua theo cơ chế thị trường, chỉ chú tâm học văn, học toán, học
Anh,….để mai sau lên THPT đi thi Đại học kiếm nghề lập nghiệp. Họ sẵn sàng đầu tư
tiền bạc cho con em đi học thêm những môn đó còn môn GDCD không học cũng biết
rồi,…Thực sự họ không hiểu hết được giá trị của bộ môn GDCD là để làm gì. Nếu
như các môn học khác của KHTN và KHXH có nhiệm vụ là cung cấp các tri thức về tự
nhiên và về xã hội, thì môn GDCD sẽ cung cấp những tri thức về nhân sinh, tri thức
làm người. những tri thức của GDCD trực tiếp xây dựng tư tưởng, tình cảm và hành vi
lối sống, trách nhiệm và nghĩa vu của công dân đối với gia đình và cộng đồng xã hội,
…Đó chính là lợi thế của môn GDCD mà các môn học khác không có được và đó
cũng chính là tầm quan trọng của môn GDCD.
Mặt khác trong thực tế dạy môn GDCD lâu nay giáo viên thường giáo dục tư
tưởng chung chung, lý thuyết chung chung và trìu tượng, tách rời giáo dục tư tưởng
và tri thức của môn GDCD. Một sỗ giáo viên chưa nhận thức đầy đủ rằng các tri thức
của môn GDCD bãn thân nó đã chứa đựng các tri thức hiểu biết về nhân sinh (đạo
đức học,pháp luật).Dạy học môn GDCD mà chưa gắn với việc tư tưởng đạo đức với

15


thực tế cuộc sống xã hội, gắn nội dung bài giảng với các chủ đề lớn của xã hội, gắn
với đường lối của đảng thời điểm chính trị của cách mạng một cách sâu sắc, triệt để
và hiệu quả.


1.2.3.1 Những thành công
Qua thực tế giảng dạy giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt
là việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm giáo dục pháp luật
cho học sinh phổ thông trong dạy học môn GDCD ở trường THCS đã góp phần nâng
cao chất lượng dạy học bộ môn. Học sinh THCS là lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi
có nhiều biến đổi mạnh về cả thể chất và tâm lý, luôn phải đối mặt với những khó
khăn, thách thức với những vấn đề, những tình huống đa dạng của cuộc sống. Phương
pháp giải quyết vấn đề để giúp học sinh biết cách giải quyết tích cực, hiệu quả đối
với những khó khăn thách thức của cuộc sống thực tiễn,để có một cuộc sống chất
lượng, an toàn và lành mạnh.
Phương pháp dạy học bằng tình huống còn giúp học sinh phát triển tư duy phê phán
và kĩ năng ra quyết định
1.2.3.2 Những hạn chế
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống mất rất nhiều thời gian để soạn
giảng, chọn bài tập tình huống cho phù hợp với nội dung bài học. Việc đưa tình huống
ra và giải quyết tình huống cũng mất nhiều thời gian, có khi còn gây ồn ào ảnh
hưởng tới các lớp học khác
1.2.3.3 Nguyên nhân
Sự thành công hay hạn chế đều do chính giáo viên và học sinh quyết định.Ngoài
ra còn cần sự hợp tác, giúp đỡ từ nhiều phía như lãnh đạo ngành Giáo dục, Ban giám
hiệu nhà trường, phụ huynh, học sinh,…
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua thực tế giảng dạy môn GDCD tại trường THCS của địa phương nơi tôi
đang dạy học, bản thân tôi đã đúc rút được ra một số vấn đề khó khăn, thuận lợi đang
diễn ra thường xuyên ở trường THCS.Để khắc phục những khó khăn và phát huy
những thuận lợi trên , bản thân giao viên phải nổ lực phấn đấu vươn lên.Đầu tư thời
gian và công sức soạn giảng tốt nhất, tìm kiếm, học hỏi, vận dụng và phát huy tối ưu
các phương pháp và kỹ thuật dạy học, đặc biệt là phương pháp dạy học bằng tình
huống để nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn GDCD. Giúp các em hiểu bài và

Việc xí nghiệp trả công lao động cho chị Huệ như vậy có đúng không?
Chị Huệ muốn khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình thì
phải gửi đơn đến đâu?

18


Sau khi cho các nhóm học sinh thảo luận, đưa ra ý kiến trả lời, bổ sung cho nhau thì
giáo viên chọn ý kiến xuất sắc nhất. Cụ thể là trả lời như sau:
Việc giám đốc xí nghiệp trả công lao động cho chị Huệ như vậy là sai. Bởi vì
theo điều 55 và 111 của bộ luật lao động quy đinh:” Tiền lương của người lao động
do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất và hiệu
quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương do
nhà nước quy định” (điều 55 BLLĐ)
“ Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc về tuyển dụng, sử dụng,
năng bậc lương và trả công lao động”(điều 111 BLLĐ)
Mặt khác điều 63 Hiến pháp 1992 quy định lao động nữ và nam làm việc như
nhau thì tiền lương ngang nhau,...”
Việc giám đốc lấy lý do chị Huệ là nữ, nên năng suất làm việc không bằng anh
Minh để không trả đúng tiền công lao động như trong hiệp đồng là vi phạm BLLĐ, vi
phạm quyền lao động của công dân
- Việc giải quyết tranh chấp về lao động, căn cứ vào mục I, chương 14 BLLĐ,
thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Muốn khiếu nại chị
Huệ phải gửi đơn đến HĐ hòa giải của xí nghiệp nơi chị Huệ đang làm việc (nếu có).
Trường hợp xí nghiệp không thành lập hội đồng hòa giải, hoặc hòa giải không thành
công, thì chị Huệ cần phải gửi hồ sơ yêu cầu xét xử tranh chấp cho toàn án cấp huyện.
2.2 Khi dạy bài 17 GDCD lớp 9: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Tôi đưa ra bài tập tình
huống sau:
Nguyễn Văn An 19 tuổi, có tên trong danh sách khám nghĩa vụ quân sự ở địa
phương nhưng An khong chịu đi khám mặc dù chính quyền nhắc nhở và đã bị xử lý

trường THCS, đặc biệt phát huy phương pháp dạy học tình huống như trên để góp
phần nâng cao chất lượng bộ môn GDCD và góp phần giáo dục đạo đức và pháp luật
cho học sinh.

KẾT LUẬN
Qua thực tiễn cùng với một số kinh nghiệm tích lũy được trong suốt quá trình
giảng dạy, bản thân tôi đã bước đầu thu nhận được những kết quả đáng mừng từ
việc vận dụng một cách linh hoạt phương pháp tình huống theo cách riêng của
mình khi giảng dạy một số bài trong chương trinh GDCD trường THCS.

20


Bằng việc tự nghiên cứu chuẩn bị bài trước, học sinh phải tự tìm hiểu , thâm
nhập thực tiễn đầy sinh động đang diễn ra hàng ngày, học sinh có thể tự rèn luyện
cho mình khả năng phân tích, đặc biệt là khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào
cuộc sống. Đây cũng là mục đích, yêu cầu sư phạm của môn học này.
Tuy nhiên nếu người giáo viên không linh hoạt, nhạy bén khi sử dụng phương
pháp này phù hợp thì bài giảng sẽ trở nên khô khan, khó hiểu như vốn dĩ người ta
vẫn nhận xét về môn học này, các kiến thức sẽ mang tính hàn lâm, kinh viện, tồn
tại trên cơ sở lí thuyết suông. Mặt khác, học trò sẽ không có những bước bứt phá
ra khỏi tính thụ động, tiếp thu bài một cách máy móc, kém hiệu quả. Xuất phát từ
thực tiễn trên, tôi luôn luôn tìm tòi các phương pháp dạy học phù hợp để giúp cho
học sinh hứng thú với bộ môn và tiếp thu bài một cách tốt nhất. Tuy nhiên đây mới
chỉ là những kinh nghiệm bước đầu được áp dụng vào thực tế giảng dạy bộ môn
giáo dục công dân ở trường THCS nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
sự góp ý của các thầy cô giảng dạy và hướng dẫn viết đề tài tiểu luận để bản tiểu
luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Những tài liệu được thầy cô cung cấp trong quá trình học tập lớp bồi dưỡng kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status