TIỂU LUẬN GIÁO DỤC CÔNG DÂN: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THCS - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm
Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường THCS

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên:

Trần Thị Kim Quy

Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A

Hà Tĩnh, năm 2015
1


ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung, chất
lượng giáo dục đại học nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng của các bộ môn Giáo dục công dân nói chung, mảng
kiến thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành, phát triển nhân cách, rèn
giũa, định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho học sinh. Đặc biệt, trong điều kiện
phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao
của hoạt động dạy học và giáo dục trên thế giới thì việc áp dụng các phương pháp dạy
học tích cực (trong đó có phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần thiết đối

công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THCS
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường THCS
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường THCS
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra,
đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như phỏng vấn
sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
7.1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về
PPNCTH trong dạy học.
7.2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7.3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh.
8. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục, Tiểu luận kết cấu thành 02 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học

hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau về mục đích, tác
động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sự thống nhất
này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
4


vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc
tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương
pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của
bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc

Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài
toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình
huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích
cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến
thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:
Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.

pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả về
lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
7


học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh

phong phú hơn vốn kiến thức của mình.
Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ
năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có
thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng
tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau

phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của

10


giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết
giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình

một nguyên tắc ứng xử nào đó mà giáo viên muốn học sinh hiểu và áp dụng được vào
thực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề mà
thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung
kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết
của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ
hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân
tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học Cơ sở
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Xã Sơn Mỹ là một xã thuộc diện nghèo của huyện Hương Sơn. Trong những năm
qua, cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội thì công tác giáo dục Chính trị,
đạo đức lối sống cho nhân dân luôn được các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương
quan tâm chỉ đạo. Hằng năm Đảng ủy xã mở các lớp bồi dưỡng về lý luận Chính trị
cho đảng viên, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức,
lối sống được chú trọng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy xã và ngành GD & ĐT Hương Sơn, công tác giáo
dục đạo đức, việc giảng dạy môn GDCD, công tác khuyến học, khuyến tài và công tác
xã hội hóa giáo dục được nhà trường chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả góp phần
xây dựng nhà trường vững mạnh.
* Thuận lợi:

thì mới vượt qua lạc hậu, chống tụt hậu. Muốn thực hiện được mục tiêu trên không có
cách nào khác là phải phát triển nguồn nhân lực, hướng vào việc xây dựng con người
Việt Nam toàn diện, nghĩa là có cả “Đức – Trí – Thể – Mỹ”. Vì vậy giáo dục đóng vai
trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Vì đặc
trưng của môn GDCD là giáo dục cho các em về vấn đề đạo đức, Đảng và Pháp luật
cho nên vai trò giáo dục nhân cách đạo đức HS, kịp thời uốn nắn các em trở thành
những công dân có ích cho xã hội để các em vừa sống có đạo đức vừa thực hiện theo
Hiến pháp và pháp luật là nhiệm vụ quan trọng của người GV.
Tuy nhiên, ở phần Pháp luật ,cá nhân tôi nhận thấy khả năng tiếp thu bài của các
em còn hạn chế. Vì ở lứa tuổi này các em còn nhỏ cho nên dễ dẫn đến việc nhàm chán,
ít chú trọng trong học tập bộ môn. Từ đó các em học mang tính chất đối phó, học vẹt,
13


chưa tích cực, chủ động trong xây dựng bài. Thực tế trong những năm qua, qua nhiều
giờ học tập và nghiên cứu đa số các em khi học đến phần pháp luật thường rất ít phát
biểu, thụ động khiến cho giáo viên rất khó làm việc, chưa phù hợp với việc đổi mới
phương pháp dạy học.
Khi đề cập đến nội dung pháp luật trong bộ mônGDCD, thường là rất khô khan,
khó lôi cuốn học sinh. Để giúp học sinh đạt được những kiến thức, kĩ năng, thái độ
theo mục tiêu của chương trình là điều cần thiết. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải kết
hợp được các phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện phù hợp với nội dung
từng bài học để tạo ra tính tích cực, chủ động và cuốn hút học sinh vào bài học.Để cho
tiết học sinh động và lôi cuốn hơn, giáo viên phải đa dạng hóa phương pháp môn học
này. Đa dạng hóa phương pháp thể hiện ở việc chúng ta biết cách tổ chức những hoạt
động học tập thích hợp và thu hút HS tham gia.
1.2.3 Những thành công và hạn chế
1.2.3.1 Những thành công
- Học sinh có đủ sách giáo khoa,có kỹ năng tham gia hoạt động thảo luận nhóm ở các
bô môn nói chung và môn GDCD nói riêng

trúc tiến trình thực hiện, ưu nhược điểm của phương pháp và khả năng vận dụng vào
giảng dạy môn Giáo dục công dân trong các nhà trường phổ thông hiện nay.
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1. Xây dựng những tình huống dựa trên những câu chuyện, vụ án có thật, có
tính thời sự ở địa phương cũng như ở trong nước đưa vào bài dạy để khai thác
nội dung bài học trong các chủ đề pháp luật
Ví dụ: Bài 18: QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
(GDCD8 - đây là một bài khó dạy nhất trong chương trình GDCD ở THCS)
+ Để khai thác nội dung quyền khiếu nại, tố cáo theo chuẩn kiến thức tôi đã xây
dựng những tình huống trên cơ sở những câu chuyện, vụ án có thật, có tính thời sự.
- GV cho HS theo dõi đoạn phim có nội dung sau:
Bác Nam là một người tàn tật nhưng phòng thuế của phường lại định mức đóng
thuế cho cửa hàng của bác bằng mức thuế của những người bình thường khác. Bác
Tình khuyên bác Nam làm đơn khiếu nại vì người tàn tật là đối tượng được xét miễn
giảm thuế.
Hỏi: - Em hãy cho biết nội dung đoạn phim nói điều gì?
- Theo em, bác Tình khuyên bác Nam như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
- HS: trả lời cá nhân
GV: kết luận: bác Tình khuyên bác Nam như vậy là đúng vì người khuyết tật được
quyền đề nghị xem xét miễn giảm thuế kinh doanh đối với mình.
- GV nêu tình huống và yêu cầu học sinh suy nghĩ (động não) trả lời.
Tình huống: Ông Hiệu trưởng trường THCS A ra quyết định kỉ luật với hình thức
đuổi học đối với học sinh Nguyễn Văn An vì đã có hành vi quay cóp trong khi làm bài
thi Học kì I vừa qua.
Hỏi: Nếu em là An, sau khi nhận được quyết định trên thì em sẽ là gì?
- HS: trả lời cá nhân
? Em hiểu thế nào là quyền khiếu nại?
- HS: trả lời cá nhân
15

Hỏi: - Khi em chứng kiến vụ tai nạn trên với tư cách là công dân thì em sẽ làm gì?
- Vì sao em phải báo vụ tai nạn trên đúng sự thật?
- HS trả lời bằng sự hiểu biết của mình...
GV: kết luận: Các em sẽ báo với cơ quan có thẩm quyền (Công an…) về vụ tai nạn
trên đúng sự thật. Vì đây là hành vi vi phạm pháp luật, để cơ quan có thẩm quyền xử
lý khách quan, đúng người đúng tội nhằm đảm bảo sự công bằng của mọi công dân
trước pháp luật
+ Để củng cố và khắc sâu kiến thức bài học.
- GV nêu tình huống và yêu cầu học sinh làm ở phiếu học tập.
16


Tình huống: Cơ sở sản xuất bún của bà Năm ở cạnh trường học, khu dân cư có mùi
hôi thối đặc trưng do nước thải trong cơ sở sản xuất bún thải ra làm ô nhiễm môi
trường học tập, sinh sống của chúng ta.
Hỏi: Trứơc sự việc đó thì các em sẽ làm gì?
2.2. Yêu cầu học sinh tự tìm tòi, chuẩn bị trước các câu chuyện, các vụ án có
thật, có tính thời sự mà em biết hoặc qua tivi, báo,…; giáo viên hướng dẫn học
sinh tự xây dựng tình huống để đưa vào bài học sao cho phù hợp.
Ví dụ: Bài 16: QUYỀN ĐƯỢC PHÁP LUẬT BẢO HỘ VỀ TÍNH MẠNG, THÂN
THỂ, SỨC KHỎE, DANH DỰ VÀ NHÂN PHẨM (Giáo dục công
6)
+ Để phân tích, đánh giá những tình huống liên quan đến quyền được bảo hộ về tính
mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân tôi đã xây dựng những
tình huống trên cơ sở những câu chuyện, vụ án có thật, có tính thời sự.
- GV tổ chức thảo luận nhóm.
- GV chia lớp thành 6 nhóm, giao tình huống và giao cho mỗi nhóm thảo luận về một
tình huống sau 5 phút các nhóm cử đại diện trình bày.
- HS các nhóm tiến hành thảo luận và cử người trình bày
- HS các nhóm lắng nghe, nhận xét, bổ sung.

một cái máy tính vừa mới mua. Tìm mãi không thấy, Hải đỗ tội cho Lâm lấy
cắp. Lâm và Hải to tiếng, tức quá Lâm đánh Hải chảy máu mũi. Cô giáo kịp thời
mời 2 bạn lên phòng hội đồng kỉ luật.
Hỏi: Em hãy nhận xét cách ứng xử của 2 bạn? Nếu là Lâm thì em sẽ xử lí như thế
nào? Nếu là bạn cùng lớp của Lâm và Hải thì em sẽ làm gì?
Trả lời: - Cả 2 bạn Hải và Lâm đều sai.
+ Hải sai: Vì chưa có đủ chứng cứ đã khẳng định Lâm ăn cắp, hành vi đó đã xâm
hại đến danh dự, nhân phẩm của Lâm - vu khống người khác.
+ Lâm sai: Vì không giải quyết khéo léo mà đánh Hải chảy máu mũi, hành vi đó đã
xâm hại bất hợp pháp đến thân thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của Hải.
Tình huống 5: Lợi dụng lòng tin và sự tín nhiệm của bạn hàng, Ân vay nợ 25.000.000
đồng để tiêu dùng phung phí và không còn khả năng trả nợ nên đã bỏ trốn. Không chờ
các cơ quan chức năng Nhà nước, Ba là một trong những chủ nợ đã tự đi tìm Ân bắt về
giao nộp cho cơ quan Công an.
Hỏi: Em hãy cho biết hành động của Ba đúng hay sai? Vì sao?
Trả lời: - Hành động của Ba sai. Vì: theo quy định tại điều 71 Hiến Pháp năm 1992
“Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê
chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”. Hành vi của Ba sẽ bị truy tố trước pháp luật theo
điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội bắt người trái pháp luật.
? Từ các tình huống trên, các em thấy đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của người khác chúng ta cần phải có thái độ xử sự như thế nào cho phù hợp với
quy định của pháp luật?
DK – Chúng ta cần phải tôn trọng với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của
người khác.
? Mỗi khi các quyền đó của mình bị xâm hại thì chúng ta phải làm gì?
DK - Chúng ta cần phải phản đối và tìm sự giúp đỡ của mọi người ngăn chặn những
hành vi xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (báo cho cha
mẹ, thầy cô, những người có trách nhiệm biết).
18


Trả lời:
- Công dân được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Mọi
hành vi xâm hại bất hợp pháp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người
khác đều bị pháp luật trừng trị.
- Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tại chương 12
các tội xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân - gồm 30 điều
(từ Điều 93 đến điều 122)

19


Tình huống: Ông Nguyễn Văn A bị mất 1 chiếc máy tính xách tay trị giá 15 triệu
đồng. Ông A trình báo với Công an phường H, Công an phường H nghi ngờ T lấy
trộm của ông A nên bắt giữ T để tra hỏi 1 tuần. 1 tuần sau ông A đến báo với Công an
phường H là chiếc máy tính của ông do con trai ông trộm cắp đem bán để lấy tiền cá
độ bóng đá.
Hỏi: Công an phường H có vi phạm pháp luật không? Vi phạm như thế nào?
Trả lời:
Công an phường H vi phạm pháp luật. Vì T không lấy trộm tài sản của ông A mà bị
Công an phường bắt giữ và giam 7 ngày.
+ Theo quy định của pháp luật hình sự, Công an phường không có quyền bắt giam
người (trừ người phạm tội quả tang, truy nã).
+ Vì vậy việc bắt và tạm giữ người nêu trên của Công an phường H có dấu hiệu
phạm tội: “Bắt giữ người hoặc giam người trái pháp luật” được quy định tại Điều 123
Bộ luật Hình sự năm 1999
Tình huống: Ông X và ông K tranh chấp nhau lối đi chung và dẫn đến xô xát, đánh
nhau. Ông K dùng gậy gỗ đánh ông X gãy chân bị thương, tổn hại 12% sức khỏe.
Hỏi: Ông K có vi phạm pháp luật không? Vi phạm như thế nào?
Trả lời: Hành vi của ông K đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại
Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Chúng ta có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh
dự và nhân phẩm thì chúng ta cần phải biết tôn trọng sức khoẻ, tính mạng, danh dự và
nhân phẩm của người khác; biết bảo vệ thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của
mình; phản đối những hành vi xâm phạm đến tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm của người khác.
2.3. Kết quả:
Để gây được sự hứng thú, khơi dậy lòng say mê học tập môn học, thu hút của các em
vào hoạt động dạy - học trong môn Giáo dục công dân ở trường THCS. Trong năm
học 2013 - 2014 tôi đã xây dựng những tình huống dựa trên các câu chuyện, vụ án có
thật, có tính thời sự vào dạy - học các chủ đề pháp luật môn Giáo dục công dân 8 đem
lại kết quả cao, với bài: Quyền khiếu nại, tố cáo, đây là một bài dạy được xếp vào loại
khó dạy nhất trong chương trình Giáo dục công dân ở THCS. Trong năm học 2014 2015 tôi đã áp dụng kinh nghiệm trên vào dạy học các chủ đề pháp luật trong môn
Giáo dục công dân 6 và đã đạt kết quả tốt.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương 2 tập trung đi sâu vào việc vận dụng kiến thức về phương pháp tình
huống để xây dụng tình huông trong dạy học môn giáo dục công dân nhằm giáo dục
pháp luật cho học sinh Trung học cơ sở. Với nội dung kiến thức và hình thức tổ chức
dạy học đó, giáo viên và học sinh rất hứng thú khi dạy và học. Các em được tự tìm
hiểu, tự đánh giá, phát huy khả năng của tất cả các đối tượng học sinh trong lớp. Học
sinh được thực hiện trong thực tế, kiểm tra hành vi của nhau. Giáo viên đánh giá kết
quả của học sinh sát hợp hơn.

21


KẾT LUẬN
1/ Bài học kinh nghiệm
a) Đối với giáo viên
Cần chú trọng khâu chuẩn bị của giáo viên và học sinh khi giảng dạy các bài giáo
dục Pháp luật, giáo viên cần tích cực giảng dạy chu đáo cho các dụng cụ dạy và học và


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status