TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận
dụng phương pháp dạy học bằng tình huống
nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy
học môn Giáo dục công dân ở trường THCS
Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Bùi Thị Thu
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A
Hà Tĩnh, năm 2015
A. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Đổi mới chất lượng giáo dục đang là vấn đề được xã hội quan tâm, đặc biệt là
trong điều kiện hiện nay. Muốn đổi mới được chất lượng giáo dục thì chúng ta phải
đổi mới phương pháp dạy học để trong các giờ dạy giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức,
dẫn dắt, định hướng còn học sinh đóng vai trò chủ động, sáng tạo. Có lẽ vì thế mà
trong mấy năm trở lại đây tất cả các giáo viên trên toàn đất nước đều được tham gia
các lớp chuyên đề, tập huấn về nội dung này trên tinh thần chỉ đạo của Bộ giáo dụcđào tạo.
1.2. Môn giáo dục công dân là một môn học có vai trò rất quan trọng trong việc hình
thành, phát triển nhân cách của học sinh. Trong điều kiện hiện nay khi các tệ nạn xã
hội xâm nhập vào thế giới học đường thì việc giáo dục pháp luật cho học sinh qua
môn học này trở thành yêu cầu bức thiết của nghành giáo dục nói chung và của giáo
viên dạy môn giáo dục công dân nói riêng.
4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu áp dụng PPNCTH vào giảng dạy mảng kiến thức pháp luật ở môn Giáo dục
công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THCS Thạch Lạc
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường THCS Thạch Lạc
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường phổ thông THCS Thạch Lạc
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra,
đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như phỏng vấn
sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
7.1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về
PPNCTH trong dạy học.
7.2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7.3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh.
8. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sự thống nhất
này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
4
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc
tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương
pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của
bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc
ba phép biện chứng:
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài
toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình
huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích
cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến
thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:
Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.
pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả về
lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
7
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh
phong phú hơn vốn kiến thức của mình.
Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ
năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có
thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng
tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau
phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
10
khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của
giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết
giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình
huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho
thực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề mà
thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung
kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết
của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ
hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân
tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học cơ sở Thạch Lạc.
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Trường THCS Thạch Lạc đóng trên địa bàn xã Thạch lạc- huyện Thạch Hà- Tĩnh Hà
Tĩnh, là một trong những xã nghèo nhất của vùng biển ngang huyện Thạch Hà. Nhân
dân chủ yếu làm nông nghiệp và ngư nghiệp do đó đời sống khó khăn, trình độ dân trí
còn thấp. Trong đó có 1/3 dân số theo đạo thiên chúa. Trường THCS Thạch Lạc là một
trường không nằm trong mô hình trường liên xã nên quy mô nhỏ( 9 Lớp), cơ sở vật
chất phục vụ cho việc dạy học còn thiếu thốn. Học sinh trong trường 1/2 là con em
giáo dân nên tình trạng bỏ học, vắng học, chậm học diễn ra thường xuyên. Phụ huynh
ít quan tâm đến việc học của con cái.
1.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật cho học
sinh trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học cơ sở Thạch Lạc.
Trong những năm qua giáo viên, nhà trường luôn đi tiên phong trong việc đổi mới
phương pháp dạy học trong tất cả các môn học trong đó có môn GDCD theo tinh thần
- Các tài liệu tham khảo về dạy học tình huống hạn chế nên giáo viên rất khó khăn
trong việc xây dựng được các tình huống hay.
- Học sinh thuộc diện vùng sâu, vùng xa nên việc giải quyết các vấn đề đặt ra trong
tình huống nhiều lúc còn bỡ ngỡ, chưa nhanh nhạy.
1.2.3.3 Nguyên nhân
-Nguyên nhân khách quan:
Tình trạng dạy chéo môn dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao ở môn GDCD trong
trường THCS đang là vấn đề trăn trở của giáo dục Hà Tĩnh hiện nay.
Các chuyên đề về ứng dụng các phương pháp dạy học nhằm giáo dục pháp luật trong
môn giáo dục công dân còn ít.
13
- Nguyờn nhõn ch quan:
Tỡnh trang dy chộo mụn dn n nhng giỏo viờn khụng cú chuyờn mụn phi m
nhim ging dy mụn GDCD trng THCS do ú h li tỡm tũi, nghiờn cu, dy
vi t tng qua loa, xong vic.
Hc sinh xem nh mụn hc, coi l mụn hc ph do nh hng ca b m.
TIU KT CHNG 1
Chng I ó i sõu phõn tớch cỏc ni dung c bn lm c s lý lun cho ti nghiờn
cu nh trỡnh by tng quan v lch s nghiờn cu vn trờn th gii v Vit Nam,
gii thớch nhng khỏi nim c bn liờn quan n ti. c bit, tỏc gi ó trỡnh by
lm ni bt cỏc ni dung liờn quan n PPNCTH trong dy hc nh khỏi nim, cu
trỳc tin trỡnh thc hin, u nhc im ca phng phỏp v kh nng vn dng vo
ging dy mụn Giỏo dc cụng dõn trong cỏc nh trng ph thụng hin nay.
CHNG 2: XY DNG TèNH HUNG TRONG DY HC MễN GDCD
NHM GIO DC PHP LUT CHO HC SINH TRUNG HC C S.
Vi ti ny chỳng tụi xin c trỡnh by cỏch vn dng phng phỏpdy hc tỡnh
hung nhm giỏo dc phỏp lut cho hc sinh vo mt bi dy giỏo dc cụng dõn c
th lp 8
điều gì với cây bút ?
- HS A là chủ sở hữu của cây bút.
Vậy để hiểu thêm về vấn đề sở hữu, chúng ta cùng học bài hôm nay.
b. Dạy nội dung bài mới:
* Thảo luận:
1. Theo em những người sau đây: Người
chủ chiếc xe máy, người được giao giữ xe,
người mượn xe, ai có quyền :
a, Giữ gìn bảo quản xe .
b, Sử dụng xe để đi .
c, Bán tặng cho người khác mượn .
- Người chủ chiếc xe máy có cả 3 quyền
trên.
- Người được giao giữ xe : Được giữ gìn
bảo quản xe ( trong thời gian gửi xe)
- Người mượn xe: Quyền sử dụng xe để đi (
theo hợp đồng mượn , thuê xe )
I. Đặt vấn đề
1. Người chủ chiếc xe có quyền:
a, Giữ gìn bảo quản xe ->Chiếm hữu.
b, Sử dụng xe để đi -> Sử dụng.
c, Bán, tặng, cho mượn -> Định đoạt.
2. Người chủ chiếc xe có quyền gì đối với 2. Ông An không được bán bình cổ, vì
tài sản đó?
bình cổ không thuộc quyền sở hữu của
- Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
ông mà thuộc về nhà nước. ->Công
dân có quyền sở hữu tài sản đồng thời
học.
+ Quyền sử dụng
+ Quyền định đoạt
Em hiểu quyền sở hữu tài sản của công dân - Quyền định đoạt là quyền quyết định
là gì?
đối với tài sản như mua bán, tặng cho,
để lại thừa kế, phá huỷ, vứt bỏ.
Quyền sở hữu tài sản bao gồm những quyền
nào?
Trong 3 quyền trên, quyền nào là quan
trọng nhất? Vì sao?
- Quyền định đoạt là quan trọng nhất vì là
quyền quyết định đối với tài sản.
* Tình huống
Chiếc xe đạp mà chúng ta đến trường
hàng ngày có phải là tài sản thuộc sở hữu
của chúng ta không? Em đánh giá như
thế nào về hiện tượng một số bạn HS
16
mang cầm cố xe đạp để đi chơi điện tử?
- Chiếc xe đạp mà chúng ta đến trường
hàng ngày không phải là tài sản thuộc sở
hữu của chúng ta.
- Một số bạn HS mang cầm cố xe đạp để đi
chơi điện tử là không biết tôn trọng tài sản
của người khác.
lấy. Trong thời gian đó chi Hương đã lấy thường theo quy định cảu pháp luật.
chiếc xe máy của ông Nam cho chị Lan 4. Nhà nước công nhận và bảo hộ
mượn và bị hỏng.
quyền sở hữu hợp pháp của công
a. Em có nhận xét gì về việc làm của chi dân.
Hương?
17
b. Trách nhiệm của chị Hương trong tình
huống này như thế nào?
c. Nếu chị Hương vẫn để chiếc xe máy bị
hỏng trao lại cho ông Nam thì ông Nam
sẽ phải làm gì?
Từ tình huống đó giáo viên định hướng học
sinh trả lời: Việc làm của chị Hương là sai
vì chị Hương không phải là chủ sở hữu nên
không có quyền chiếm hữu, định đoạt, sử
dụng tài sản đó. Chị Hương phải có trách
nhiệm sửa chữa lại xe như tình trạng ban
đầu cho ông Nam. Nếu chị Hương không
sửa chữa thì ông Nam sẽ kiện chị Hương và
nhờ pháp luật can thiệp.
Từ tình huống đó giáo viên cung cấp thêm
cho học sinh điều 175 trong bộ luật dân sự
về: Bảo vệ quyền sở hữu
1. Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác được pháp luật công
nhận, bảo vệ.
2. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt
* Bài tập 1
- Ngăn chặn ngay việc làm đó.
- Giải thích cho bạn không được làm
như vậy.
- Hỏi bạn nếu có khó khăn gì sẽ cùng
nhau giúp đỡ.
- Nếu bạn không nghe sẽ báo cho cô
giáo chủ nhiệm và gia đình bạn.
* Bài tập 2
- Bình hành động như vậy là trái quy
định của pháp luật
- Nếu em là Bình em sẽ đến cơ quan
công an nhờ tìm lại chủ của người bị
mất.
c. Củng cố, luyện tập:
- Quyền sở hữu tài sản của công dân là gì?
- Quyền sở hữu tài sản bao gồm những quyền nào?
- Nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác thể hiện như thế nào ?
d. Hướng dẫn HS tự học ở nhà:
- Học thuộc nội dung bài học.
- Bài tập về nhà: bài 5 (sgk - tr 47)
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Với giáo án trên chúng tôi đã cố gắng vận dụng phương pháp giáo dục tình huống
nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua một tiết dạy cụ thể . Thông qua các
tình huống cụ thể đó học sinh đã vận dụng các kiến thức trong nội dung bài học để giải
19
quyết các vấn đề đặt ra trong các tình huống đó. Đồng thời qua các tình huống đó giáo
viên giáo dục pháp luật cho các em về những vấn đề liên quan đến nội dung bài học,để