MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Vai trò của Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và quản lý hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp với sự phát triển nhân cách học sinh.
Mục tiêu giáo dục phổ thông của Việt Nam là: đào tạo học sinh phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực đáp ứng với yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của xã hội.Trong các nhà trường phổ thông
hiện nay Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động giáo dục
được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa. Hoạt động GDNGLL ở tiểu học
có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, góp phần nâng cao chất
lượng học tập và giáo dục toàn diện cho học sinh. Hoạt động GDNGLL bao
gồm một số các hình thức tổ chức như giao lưu văn nghệ; thi đấu thể thao,
chơi các trò chơi dân gian; giao lưu với học sinh các lớp khác, trường khác;
viết báo tường; diễn tiểu phẩm; tổ chức các ngày hội; thi viết chữ đẹp; tìm
hiểu về ngày Giỗ tổ Hùng Vương, về văn hóa các dân tộc; về ngày nhà giáo
Việt Nam; tham gia các hoạt động nhân đạo; bày cỗ Trung Thu ...Đây là
những hình thức tổ chức hoạt động dựa trên sự hứng thú và tự nguyện của học
sinh, như những trò chơi mà trong đó các em được trổ tài, được giao lưu và
được bộc lộ mình. Hoạt động này không chỉ giúp cho học sinh phát triển
nhanh về tư duy mà còn tạo cho học sinh khả năng ứng xử tốt, vận dụng kiến
thức tổng hợp linh hoạt, biết cách củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức,
làm cho học sinh hứng thú, yêu thích hơn môn học. Mặt khác, HĐGDNGLL
còn huy động được mọi học sinh cùng tham gia, là điều kiện thuận lợi cho
việc hình thành kỹ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp - rất cần thiết cho
mỗi cá nhân trong cuộc sống và công việc ngày nay. Hơn thế nữa, hoạt động
GDNGLL cũng góp phần đắc lực vào việc cung cấp sự hiểu biết và hình
thành hứng thú nghề nghiệp cho học sinh. Thông qua các hoạt động ngoại
1
2
sinh. Giúp các em biết tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình . Có thể
nói việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là xây dựng cho các em các
mối quan hệ phong phú, đa dạng, một cách có mục đích, có kế hoạch có nội
dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng đồng, tạo sự thân
thiện trong mọi tình huống biến các nhu cầu khách quan cuả xã hội thành
những nhu cầu cuả bản thân học sinh.
Nhân cách trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động có
ý thức. Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu, vui chơi giải
trí… con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách cuả mình. Vì thế,
hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên quan đến việc mở rộng kiến thức, tư
tưởng, tình cảm , năng lực nâng cao thể lực, thể chất và tinh thần của học
sinh. Do vậy , cần thiết phải kết hợp việc học tập trên lớp với việc rèn luyện
kĩ năng thực hành, giúp học sinh hiểu sâu hơn và nắm bản chất cuả sự vật
hiện tượng, tạo niềm tin và óc sáng tạo cho học sinh , giải quyết mối quan hệ
giữa học và chơi - chơi và học nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý lứa tuổi học sinh
tiểu học.
Hoạt động Ngoài giờ lên lớp được quy định cụ thể tại Điều lệ trường tiểu
học ban hành kèm theo Quyết định 51/2007/QĐ-BGDĐT ngày 31 tháng 8
năm 2007của Bộ GD-ĐT, tại Điều 26 đã chỉ rõ : “Hoạt động giáo dục bao gồm
hoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát
triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù hợp đặc
điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động giáo dục trên lớp
được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn. Hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui
chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ
môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác”.
Do tầm quan trọng của hoạt động GDNGLL như vậy nên Bộ Giáo dục
động GDNGLL, còn quá ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này. Giáo
viên và cán bộ quản lí giáo dục nói chung, cán bộ quản lí nhà trường nói riêng
chưa ý thức được đầy đủ về vai trò và tác dụng của các hình thức hoạt động
ngoại khoá. Hiểu biết của người giáo viên về hoạt động GDNGLL còn phiến
4
diện, năng lực tổ chức còn hạn chế, các nhà quản lý chưa có được những biện
pháp đồng bộ cần thiết để thúc đẩy các hoạt động GDNGLL. Các điều kiện để
tổ chức hoạt động GDNGLL còn hạn chế: thiếu địa điểm, thiếu phương tiện,
đặc biệt là các tài liệu tham khảo...
* Thực trạng hoạt động giáo dục hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các
trường tiểu học hiện nay:
Hoạt động ngoài giờ lên lớp ở tiểu học trong những năm qua đã có
nhiều sự chuyển biến rõ nét, đã được các cấp quản lý giáo dục, các trường,
đội ngũ giáo viên cũng như cộng đồng quan tâm và có các giải pháp tích cực
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động. Hệ thống văn bản chỉ đạo cũng đã đề
cập nhiều đến việc tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt là khi Bộ
GD-ĐT phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” thì việc đầu tư cho Hoạt động ngoài giờ, việc gắn giáo dục với
cộng đồng đã được chú trọng nhiều hơn.
Song bên cạnh đó, với tình hình hiện nay nội dung hoạt động ngoài giờ
lên lớp chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế , chương trình còn đơn điệu,
cứng nhắc.
Vẫn còn cán bộ quản lý nhà trường và giáo viên chưa thực sự quan tâm
hoặc chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động Ngoài giờ lên lớp, gần như cho
rằng đó là nhiệm vụ , là hoạt động cuả tổ chức đoàn thể nhất là Chi đoàn và
Tổng phụ trách Đội .
Việc định hướng nội dung, hình thức về hoạt động ngoài giờ lên lớp ở
một số trường chưa có sự sáng tạo, hầu như vẫn còn lệ thuộc nhiều vào sự chi
lúng túng; dẫn đến chất lượng và hiệu quả giáo dục chưa cao.Vấn đề quản lý
HĐGDNGLL ở Kinh Môn chưa có ai nghiên cứu.
Với các lí do trên, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Biện
pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ở trường tiểu học huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương” với mong
muốn góp phần vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện nhân cách
người học sinh.
6
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở
trường Tiểu học huyện Kinh Môn Hải Dương từ đó đề xuất các biện pháp
quản lý hoạt động GDNGLL nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GDNGLL
góp phần giáo dục toàn diện nhân cách học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý Hoạt động GD NGLL
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động GD NGLL của
hiệu trưởng trường Tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý và tổ chức các hoạt động GD
NGLL của hiệu trưởng trường Tiểu học.
4.2 Nghiên cứu thực trạng biện pháp quản lí hoạt động GD NGLL của
hiệu trưởng trường tiểu học huyện Kinh Môn Hải Dương.
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý có kết quả hoạt động GD NGLL của
hiệu trưởng trường Tiểu học huyện Kinh Môn - Hải Dương
Khảo nghiệm các biện pháp quản lý hoạt động GD NGLL.
5. Giả thuyết khoa học:
Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL của
với các lực lượng tham gia vào hoạt động GDNGLL như: Tổng phụ trách đội,
giáo viên chủ nhiệm, ban chỉ huy liên đội...
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện với GVCN, tổng phụ trách đội,
với HS về các biện pháp quản lý và các hình thức tổ chức hoạt động
GDNGLL của hiệu trưởng trường Tiểu học.
7.3.Phương pháp toán thống kê :
Dùng các công thức toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm
đưa ra kết luận khoa học khái quát về vấn đề nghiên cứu.
8. Đóng góp của luận văn:
- Phát hiện thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL của
hiệu trưởng ở trường Tiểu học huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương và các yếu tố
ảnh hưởng đến thực trạng.
8
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
GDNGLL của hiệu trưởng ở các trường Tiểu học thuộc huyện Kinh Môn tỉnh
Hải Dương.
9. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận – khuyến nghị; danh mục tài liệu tham
khảo; phụ lục; luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp của Hiệu trưởng trường Tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GD NGLL của Hiệu trưởng
trường Tiểu học Kinh Môn Hải Dương
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GD NGLL của hiệu trưởng
trường Tiểu học Kinh Môn – Hải Duương.
9
phục.
A.X. Macarenco - nhà GD Xô Viết vĩ đại - ngời có công làm một cuộc
thực nghiệm GD vĩ đại trong gần 20 năm trời ở trại lao động Gooki và
Deczinxki nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp, thành công của cuộc thực nghiệm
10
này chính là ở chỗ Macarenco không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp trong trờng mà ông đã gắn liền GD trong lao động, trong sinh hoạt tập thể và hoạt
động xã hội. Sự thành công trong thực nghiệm GD của ông đã chứng minh
chân lý GD của học thuyết Mác - Lê nin và khái quát thành các quan điểm
GD XHCN rất cơ bản, đó là:
+ GD trong hoạt động xã hội
+ GD trong tập thể, bằng tập thể
+ GD trong lao động
+ GD bằng tiền đồ, viễn cảnh
Có thể nói từ triết lý của C.Mác về bản chất xã hội của cá nhân là tổng
hòa các mối quan hệ xã hội đến những lý luận về sự kết hợp GD, xây dựng
môi trờng GD,.. là một chặng đờng dài. Tất cả những lý thuyết GD đó là cơ sở
lý luận cơ bản của việc tổ chức HĐGDNGLL hiện nay.
Nh vậy, các công trình nghiên cứu này đã làm nổi rõ tầm quan trọng
của các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt đông ngoại khoá và chỉ ra một số
biện pháp cần thiết cho ngời hiệu trởng phải làm gì để tổ chức và quản lí tốt
các hoạt động này nhằm nâng cao chất lợng giáo dục. Trong những năm gần
đây, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát
triển của các quốc gia, GD của các nớc đã và đangcó những định hớng rất cơ
bản nhằm đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu
( nh năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực
hoạt động xã hội...).
Những lý luận cơ bản của GD XHCN đã trở thành những vấn đề của
dục ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động GDNGLL
Tác giả Đinh Xuân Huy với công trình nghiên cứu các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của ngời hiệu trởng trong trờng phổ
thông Dân Tộc Nội Trú - Tỉnh Lai Châu [8] đã khẳng định vai trò quan trọng
của tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với việc nâng cao
chất lợng giáo dục của trờng phổ thông Dân Tộc Nội Trú, xây dựng các biện
pháp quản lý hoạt động này của ngời hiệu trởng, trong đó có hoạt động ngoại
khoá bộ môn .
- Tác giả Bùi Thị Lâm với nghiên cứu : Một số biện pháp nâng cao
chất lợng tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi) làm
quen với môi trờng xung quanh 1999, đã khẳng định vai trò của tổ chức hoạt
động ngoài trời với việc nâng cao chất lợng GD mầm non đồng thời nêu lên
một số biện pháp tổ chức có hiệu quả hoạt động này.
Vn Li vi nghiờn cu Mt s bin phỏp qun lý HGD NGLL
cỏc trng ph thụng Hermann Gmeiner[13], ó khng nh
HGDNGLL cú v trớ v ý ngha c bit quan trng trong vic hỡnh thnh v
phỏt trin phm cht, nng lc cho HS ng thi ó ch ra c cỏc bin phỏp
qun lý nh: nõng cao nhn thc cho cỏn b, GV v c im ca trng ph
thụng Hermann Gmeiner; xõy dng i ng qun lý v t chc HGDNGLL
gii v chuyờn mụn, cú tinh thn trỏch nhim cao; nõng cao ý thc trỏch
12
nhim ca i ng cỏn s lp, ton th HS v vic tham gia cỏc
HGDNGLL, s gúp phn tớch cc nõng cao hiu qu giỏo dc núi chung
cỏc trng hc ph thụng.
Giang Th Khuyờn vi nghiờn cu Thc trng qun lý HGDNGLL
trng tiu hc min nỳi huyn Mai Chõu Sn La [9], ó ch ra mt s
một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ
biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người.
C.Mac coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời
sống xã hội. Ông viết: “ Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ
đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức
năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận
động chung của cơ thể sản xuất với những vân động cá nhân của những khí
quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu tự điều khiển
lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [ 24]. Như vậy,
theo C.Mac: quản lý là loại lao động điều khiển mọi quá trình lao động phát
triển xã hội.
Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân
nhằm đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là
nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các
mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất [ 33]
Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người
– thành viên của hệ thống làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích
dự kiến. [15]
Quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ
chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. [15]
Quản lý là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự
biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyể động của hệ thống đến
trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới. [6]
Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt
mục đích nhất định.[tr130]
14
15
Trước khi xây dựng kế hoạch, bất cứ một tổ chức nào cũng phải xác
định sứ mệnh của tổ chức mình. Đó là loại mục tiêu có tính chiến lược cao
nhất, dựa trên những tiền đề kế hoạch hóa, những tiền đề này là những giả
định cơ bản về mục đích tồn tại của tổ chức, những giá trị của tổ chức, đặc
trưng chuyên biệt cũng như vị trí của tổ chức trong xã hội.
b. Tổ chức
Khi người quản lý tổ chức đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển
hóa những ý tưởng khá trừu tượng đó thành hiện thực. Xét về mặt chức năng
quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, các bộ phận trong tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thành công
các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có
hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực sử dụng các
nguồn lực hợp lý và khoa học của người quản lý.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận,
các phòng ban cùng các công việc của chúng; sau đó là vấn đề nhân sự, cán
bộ được bố trí, sắp xếp phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo
đức với các cương vị và vị trí nhất định trong tổ chức.
c. Chỉ đạo, điều hành
Chỉ đạo là điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con
người và các bộ phận trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Đó chính là quá
trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, là tập hợp, động viên họ
hoàn thành những công việc nhất định để đạt được những mục tiêu của tổ
chức. Hiển nhiên, việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch
và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai
chức năng tổ chức và lãnh đạo.
d. Kiểm tra
Thông tin
Chỉ đạo
1.3. Ho¹t ®éng GDNGLL ë trêng tiÓu häc
1.3.1. Kh¸i niÖm vÒ ho¹t ®éng GDNGLL
17
Tổ chức
HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ
môn văn hóa, là hoạt động GD có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực
hiện trong các hoạt động thực tiễn về khoa học - kỹ thuật, lao động công ích,
hoạt động xã hội, văn hóa nghệ thuật, hoạt động thể thao, vui chơi giải trí... ở
ngoài giờ lên lớp, nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS.
Theo Đặng Vũ Hoạt, “ HĐGDNGLL là việc tổ chức GD thông qua hoạt
động thực tiễn của HS về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội
hoạt động nhân đạo, văn hóa nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi
giải trí... để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [14].
Trong giáo trình HĐGDNGLL tác giả Nguyễn Dục Quang (chủ biên)
đưa ra khái niệm: “ HĐGDNGLL là bộ phận hữu cơ cùng với hoạt động dạy
học tạo nên sự hài hòa, cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm thực
hiện hóa mục tiêu cấp học” [30]
Theo quan điểm của chúng tôi: “ HĐNGLL là hoạt động có mục đích,
có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện ngoài giờ các môn học trên lớp, là sự
tiếp nối bổ sung các hoạt động trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực
tiễn nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho HS”
HĐGDNGLL tạo điều kiện cho HS hoạt động theo hứng thú, sở thích
của mình. Nhờ đó bồi dưỡng được nhanh chóng năng lực riêng của từng HS
và góp phần hướng nghiệp cho họ. HĐGDNGLL còn có thể giúp HS củng cố,
lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng
xử, năng lực tổ chức và hợp tác, năng lực hoạt động chính trị xã hội...); có thái
độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành
vi của bản thân, biết cảm thụ và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống.
HĐGDNGLL giúp HS định hướng chính trị - xã hội, có những hiểu
biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
HĐGDNGLL do nhà trường quản lý chỉ đạo, với sự tham gia của các
lực lượng xã hội và do GVCN trực tiếp tổ chức, hướng dẫn cho HS thực hiện.
Nó được tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối hoạt động dạy - học trong phạm vi
nhà trường hoặc trong đời sống xã hội. Hoạt động này diễn ra trong suốt năm
19
học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình GD, làm cho quá trình này
được thực hiện mọi nơi, mọi lúc.
1.3.2. Néi dung ho¹t ®éng GDNGLL
Theo nội dung phân phối chương trình HĐGDNGLL ở bậc TH có
hướng dẫn thực hiện, có thời gian hoạt động theo bài, theo tiết cụ thể và có sự
chỉ đạo tổ chức HĐGDNGLL của Bộ GD - ĐT đã ban hành năm 2005.
* Nội dung HĐGDNGLL gồm:
- Các hoạt động theo chủ điểm từng tháng
- Các HĐGD chung cho các khối như:
+ HĐGD phòng chống HIV/AIDS, ma túy và các tệ nạn xã hội khác.
+ HĐGD môi trường
+ HĐGD trật tự an toàn giao thông.
+ Những hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị xã hội của địa phương
và đất nước.
+ HĐGDNGLL cần phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, nhu cầu
của HS. Chú ý phát huy tính tích cực, chủ động cho HS trong việc thiết kế tổ
- Tìm hiểu về truyền thống của Đoàn
- Sinh hoạt văn nghệ mừng ngày 8 - 3 và 26 - 3
- Tổ chức hội trại 26/3 với những nội dung vui chơi giải trí (thi kéo co,
thi thể thao; bóng đá thiếu niên, đá cầu, cầu lông...)
- Thi văn nghệ hát về mẹ và cô giáo
+ Chủ điểm tháng 4: "Hòa bình và hữu nghị"
- Thi tìm hiểu về các di sản văn hóa trong nước và trên thế giới
- Tìm hiểu về các vấn đề toàn cầu hiện nay
- Tổ chức thi tìm hiểu và sưu tầm tranh ảnh bài viết về 30/4/1975
+ Chủ điểm tháng 5: "Bác Hồ kính yêu"
- Thi văn nghệ mừng sinh nhật Bác 19/5
- Thảo luận việc thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy người đội viên
- Sưu tầm các mẩu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ
- Tìm hiểu những lời dạy của Bác Hồ với thiếu nhi
- Thảo luận về trách nhiệm người đội viên để thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy
+ Chủ điểm hoạt động hè: "Hè vui khỏe và bổ ích"
- Hoạt động vui chơi giải trí tại địa phương
22
- Thnh lp cỏc t chc ca HS khu vc nh: i c , i t qun,
i bo v mụi trng, i tuyờn truyn phũng chng t nn xó hi...
- Hot ng lao ng cụng ớch: lm sch p ng lng, ngừ xúm, gi
gỡn mụi trng xung quanh.
- Hot ng xó hi - chớnh tr: tu b ngha trang lit s, thm hi gia
ỡnh cú cụng vi cỏch mng, hng dn cỏc em nhi ng hot ng hố.
Ngoi ra cú th t chc cỏc hot ng khỏc nh: xem phim, thng
thc cỏc loi hỡnh ngh thut, quyờn gúp giỳp qu tng b m Vit Nam
anh hựng, vit th cho cỏc chỳ b i ni biờn gii hi o, Hi khe Phự
TH. Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở
trên lớp. HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con
đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và
hành động, góp phần hình thành tình cảm, niểm tin và sự phát triển nhân
cách cho các em.
1.3.4.2 . NhËn thøc cña c¸c lùc lîng gi¸o dôc
HĐGDNGLL diễn ra cả trong nhà trường và ngoài nhà trường, các lực
lượng GD có ảnh hưởng tới hoạt động đó bao gồm: các tổ chức xã hội, các
đoàn thể trong nhà trường và ngoài nhà trường, cha mẹ HS, GV, ban giám
hiệu nhà trường và HS.
Mối quan hệ giữa người tổ chức và chủ thể HĐGDNGLL (HS) là mối
quan hệ hợp tác. Người tổ chức phải là người có uy tín, có tinh thần trách
nhiệm, có khả năng tổ chức và điều hành, am hiểu về lĩnh vực tổ chức hoạt
động tập thể. Các lực lượng tham gia tổ chức ở vị trí khác nhau song đều
phải có những hiểu biết về chương trình HĐGDNGLL, có năng lực tổ chức,
có kinh nghiệm và uy tín với tập thể GD. Để đảm bảo yếu tố này đòi hỏi
người hiệu trưởng cần phải có khả năng nhìn nhận đánh giá năng lực của
GV để chọn người giaonv tổ chức HĐGDNGLL, giúp hoạt động đạt hiệu
quả cao nhất.
Nhận thức của các lực lượng GD tạo nên sự đồng thuận trong việc xác
định vai trò, mục tiêu, sự cần thiết tổ chức HĐGDNGLL cũng như các biện
pháp tổ chức thì hoạt động này sẽ đạt hiệu quả như mong muốn. HS là chủ thể
hoạt động và tổ chức hoạt động có vai trò quyết định đến hiệu quả tổ chức
24
HĐGDNGLL. Khó có thể đạt kết quả khi bản thân chủ thể hoạt động nhận
thức không đầy đủ vai trò hoạt động đó, tham gia hoạt động thụ động, gò bó.
Khi HS xác định được mục tiêu HĐGDNGLL là mục tiêu phát triển con