TIỂU LUẬN GIÁO DỤC CÔNG DÂN: Sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông qua dạy học môn Giáo dục công dân - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Sử

dụng phương pháp dạy học bằng tình huống

nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông qua dạy
học môn Giáo dục công dân

Người hướng dẫn: TS. Dương Văn Khoa
Học viên: Dương Thị Thanh Tú
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A
Ngày sinh: 01/01/1979
Đơn vị: Trường THCS Sơn Tiến - Hương Sơn

Hà Tĩnh, năm 2015


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung, chất
lượng giáo dục đại học nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng của các bộ môn Giáo dục công dân nói chung, mảng
kiến thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành, phát triển nhân cách, rèn
giũa, định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho học sinh. Đặc biệt, trong điều kiện
phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao
của hoạt động dạy học và giáo dục trên thế giới thì việc áp dụng các phương pháp dạy
học tích cực (trong đó có phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần thiết đối

môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THCS Sơn Tiến huyện
Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo dục công
dân ở trường THCS Sơn Tiến huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh.
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo dục công
dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường THCS Sơn Tiến huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh.
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào thực tiễn
giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và tổng kết lý
thuyết.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát điều tra,
đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp khác như phỏng vấn
sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
7.1 Đề tài nghiên cứu tổng kết, hệ thống hóa các cơ sở lý luận, các quan điểm về
PPNCTH trong dạy học.
7.2. Bước đầu vận dụng và rút ra kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của giáo viên
GDCD
7.3. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh.
8. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục, Tiểu luận kết cấu thành 02 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc
tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương
pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội


dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của
bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc
ba phép biện chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.
Giữa tiếp thu và tự chỉ đạo trong học.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và tổ hợp ba phương pháp học

quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích
cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến
thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:
Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.
Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết.
Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.
Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề trong dạy học là những lúng túng về
cách giả quyết vấn đề, tức là vào thời điểm đó, tình huống đó thì những tri thức và kỹ
năng vốn có chưa đủ để tìm ra ngay lời giải. Tất nhiên việc giải quyết vấn đề không
đòi hỏi quá cao đối với trình độ hiện có của học sinh.

1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.


Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh
đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm
cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm
phong phú hơn vốn tri thức của họ.
Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vận
dụng các kiến thức đã học được”. Để giải quyết một tình huống, học viên có thể phải
vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc của
nhiều môn học khác nhau.
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình huống giúp

thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng
tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhau
tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn kiến thức xã hội và kinh nghiệm
của người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo luận về tình huống sẽ không hướng theo con
đường và dẫn đến một kết cục như người soạn thảo tình huống mong muốn, nhất là
trong những lớp học mà học viên đa dạng về trình độ và đến từ những vùng miền khác
nhau, và giáo viên không có kinh nghiệp trong việc điều phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.


Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, thái
độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên,

khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của
giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết


giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình
huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho
học sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩn
bị của cả học sinh và giáo viên cũng ở mức độ cao nhất”.
Ngoài ba loại tình huống này ta cũng có thể phân chia các tình huống theo độ
mở của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể xây dựng
các tình huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở là các vụ việc mà trong đó
lời giải để ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau. Loại tình huống này rất tốt trong
việc kích thích khả năng tư duy và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khi học sinh xử lý
các tình huống thuộc loại này, vấn đề mấu chốt không phải là bản thân kết luận mà là
cách thức để đi đến kết luận đó. Ngược lại, tình huống đóng là các tình huống dẫn tới
một kết quả cố định. Học sinh vẫn có thể chủ động xử lý tình huống xong giáo viên sẽ

tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học cơ sở.
Môn Giáo dục công dân vốn là môn học trực tiếp giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức
lối sống cho học sinh song lại là môn học bị coi là khó dạy và khô khan nhất. Trong
những năm vừa qua, việc giáo dục pháp luật cho học sinh trung học nói chung và dạy
học nội dung pháp luật trong môn Giáo dục công dân cho học sinh trung học nói riêng
đã được quan tâm, chú ý và đạt được những thành tựu nhất định nhưng nhìn chung
chất lượng và hiệu quả còn chưa cao. Nhìn chung học sinh và phụ huynh đều xem nhẹ
môn học này và coi đây là môn học phụ nên không đầu tư thời gian học tập. Đa số
giáo viên dạy môn Giáo dục công dân thường là những giáo viên dạy kiêm nhiệm,
chưa được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này. Một số giáo viên chưa tích cực trong
việc đổi mới phương pháp dạy học còn ngại thay đổi thói quen dạy học cũ, vẫn thiên
về sử dụng phương pháp thuyết trình, trang bị kiến thức là chính, khiến cho các giờ
học pháp luật trở nên khô cứng, nặng nề, không lôi cuốn được học sinh, chất lượng và
hiệu quả dạy học pháp luật chưa cao.
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Sơn Tiến là một địa bàn khá rộng, trải dài, tiếp giáp với nhiều dãy núi như núi Vạc,
núi Thiên Nhẫn.Đây là một vùng đất thiếu màu mỡ, lại thấp trũng. Gần một nữa dân
cư sống nơi đây phải chung sống với lũ và mùa mưa bão. Cuộc sống của người dân


ni õy th khú khn, mt trm phn trm l sn xut nụng nghip. i sng cũn
nhiu khú khn, thiờn tai l lt thng xuyờn xy ra khú khn li chng cht khú khn.
Dõn c phõn b ri rỏc, cú h nm ven cỏc sn i nỳi. Mt bng dõn trớ cũn thp, a
phn theo tớn ngng Thiờn chỳa. Vic hc tp ca con em ni õy cũn nhng hn ch
nht nh. Mt s ó cú ý thc hc tõp, rốn luyn, cú c m hoi bo xõy dng tng
lai tt p, thoỏt khi cỏi nghốo. Song mt s em vỡ hon cnh gia ỡnh, vỡ tm nhỡn

dng phng phỏp dy hc ny s phỏt huy tụi a tớnh tớch cc, ch ng, sỏng to ca
hc sinh, rốn luyn k nng ng x tỡnh hung, k nng phõn tớch gii quyt vn
Bờn cnh ú, giỏo viờn say sa vi nhng bi ging, trau di kin thc phỏp lut, i


mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh. Sau những bài học
kiến thức về pháp luật của học sinh ngày càng phong phú hơn. Các em vừa có hiểu
biết cơ bản về pháp luật vừa có ý thức chấp hành pháp luật.
1.2.3.2 Những hạn chế
Bên cạnh những thành công đáng kể đó, vẫn còn những hạn chế sau: Không phải
người giáo viên nào cũng có ý thức và đều vận dụng thành công phương pháp dạy học
bằng tình huống nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh. Việc vận dụng phương pháp dạy
học này đòi hỏi người giáo viên phải có những năng lực: hình thành ý tưởng, xây dựng
tình huống, định hướng giải quyết tình huông và đưa ra nhiệm vụ cho người học…Điều
này không phải người giáo viên nào cũng thực hiện thành công được. Một số học sinh vẫn
có thái độ thờ ơ với những bài học pháp luật vốn “khô khan”và khó tiếp nhận.
1.2.3.3 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả như trên.Trước hết là sự thiếu qua tâm của
học sinh, phụ huynh đối với môn học Giáo dục công dân, coi đây là môn học phụ.Về
phía nhà trường cũng chưa thực sự đầu tư cho môn học này( môn học không nằm
trong danh sách các môn thi học sinh giỏi, thi khảo sát chất lượng) nên khộng tạo được
động lực cho người dạy và người học.Giáo viên giảng dạy chưa được đào tạo chuyên
sâu mà thường lồng ghép hai môn học như: Văn - Giáo dục, Họa - Giáo dục…nên hiểu
biết của một số giáo viên về kiến thức pháp luật còn hạn chế. Một số giáo viên chưa
tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học còn ngại thay đổi thói quen dạy học
cũ, vẫn thiên về sử dụng phương pháp thuyết trình, trang bị kiến thức là chính, khiến
cho các giờ học pháp luật trở nên khô cứng, nặng nề, không lôi cuốn được học sinh,
chất lượng và hiệu quả dạy học pháp luật chưa cao. Tài liệu dạy học thì khan hiếm.
Thông tin sự kiện sách giáo khoa thì quá cũ, không ccaapj nhật…
TIỂU KẾT CHƯƠNG I

tiến hành giảng dạy các lớp đã lựa chọn, kiểm tra đánh giá kết quả lớp dạy, tác giả
phân tích, tổng hợp số liệu thu thập được sau khi giảng dạy. Trên cơ sở phân tích số
liệu đó tác giả rút ra kết luận về hiệu quả của phương pháp dạy học bằng tình huống.
2.1.3. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống tác giả lựa chọn học sinh của
các lớp 10T1 và lớp 10T2 trường Trung học phổ thông Trương Vĩnh Ký huyện Chợ
Lách tỉnh Bến Tre. Trong các lớp được lựa chọn thì lớp 10T1 là lớp thực nghiệm còn
lớp 10T2 là lớp đối chứng.
Thời gian tiến hành thực nghiệm là từ tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 2012.
2.1.4. Nội dung thực nghiệm
Nội dung được lựa chọn để tiến hành thực nghiệm là phần công dân với đạo
đức thuộc chương trình Giáo dục công dân lớp 10, phần này bắt đầu từ bài số 10 đến
bài số 16. Trong phần công dân với đạo đức tác giả lựa chọn 2 bài để tiến hành thiết kế
giáo án thực nghiệm bao gồm các bài:
- Bài 12: Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em
- Bài 16: Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và
nhân phẩm
2.2. TIẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM


2.2.1. Khảo sát khối lớp đối chứng với khối lớp thực nghiệm
Khối lớp dự kiến dạy đối chứng là lớp 6A và khối lớp dự kiến dạy thực nghiệm
là lớp 6B Trường THCS Sơn Tiến- Huyện Hương Sơn- Tỉnh Hà Tĩnh
Lớp 6A: sĩ số lớp là 31 có 14 nữ và 17 nam. Học lực giỏi 5, khá 16, trung bình là
10. Hạnh kiểm tốt là 29, khá 2. Điểm trung bình môn Giáo dục công dân: từ 8.0 trở lên
là 16 em, 6.5 trở lên là 13 em.
Lớp 6B: sĩ số lớp là 32 có 18 nữ và 14 nam. Học lực loại giỏi 4, khá 18, trung
bình 10. Hạnh kiểm tốt là 29, khá 3 . Điểm trung bình môn Giáo dục công dân: từ 8.0
trở lên là 14 em, 6.5 trở lên là 16 em.
Qua khảo sát lớp đối chứng và lớp thực nghiệm ta thấy sức học của hai lớp này

- Phng phỏp dy hc bng tỡnh hung, thuyt trỡnh, m thoi.
- Nờu vn , gii quyt vn .
III. Ti liu, phng tin dy hc:
- Bng ph, phiu hc tp.
- Cỏc bi tp trỏc nghin khỏch quan, cỏc tỡnh hung, cỏc cõu ca dao tc ng.
IV. Hot ng dy v hc:
1. n nh t chc lp lp hc:
2. Kim tra bi c:
Cõu hi:
Cõu 1: Theo em, mc ớch hc tp ca hc sinh l gỡ?
Cõu 2: Em hóy tỡm hiu v k v mt bn trong lp (hoc trong trng) m theo em ó
xỏc nh mc ớch hc tp ỳng n.
3. Hc bi mi:
Gii thiu bi mi: - GV giới thiệu vị trí của bài trong chơng trình lớp 6
- GV giới thiệu những mốc quan trọng
Ging dy ni dung cỏc n v kin thc

Hoạt động của GV - HS

Nội dung cơ bản

I- Tìm hiểu truyện đọc Tết ở làng trẻ
Hoạt động 1
SOS Hà Nội
? Đọc truyện Tết ở làng trẻ SOS Hà nội?
H/s đọc - GV nhận xét
- Hc sinh tho lun nhúm: Giỏo viờn chia lp
thnh 4 nhúm, mi nhúm 6- 8 em.
- Phỏt cho mi nhúm mt phiu hc tp.
- Nhóm 1:? Tết ở làng trẻ SOS Hà Nội diễn ra

ghi trong công ớc.
+ Việt Nam là nớc đầu tiên ở
Hoạt động 2
Châu á và là thứ 2 trên thế giới tham
GV chia lớp làm 4 nhóm, phát cho mỗi gia công ớc, đồng thời ban hành luật
nhóm một bộ phiếu rời (Mỗi phiếu ghi nội dung để bảo đảm việc thực hiện quyền trẻ
quyền trẻ em) và bộ tranh rời tơng ứng quyền em Việt Nam.
đó.
Yêu cầu các nhóm thảo luận, dán những 3. Phân biệt các nhóm quyền.
bức tranh vào tờ giấy to và dán những phiếu ghi a. Nhóm quyền sống còn.
nội dung quyền phù hợp xuống dới tranh đó.
b. Nhóm quyền bảo vệ.
- Các nhóm thảo luận, trình bày kết quả c. Nhóm quyền phát triển.
việc làm của nhóm mình
d. Nhóm quyền tham gia.
GV cho HS nhận xét kết quả sắp xếp của
các nhóm có hợp lý không?
- H/s nhận xét - tranh luận về sự phù hợp
giữa các tranh và phiếu.
GV giới thiệu 4 nhóm quyền trẻ em, giải
thích từng nhóm quyền, ghi lên bảng tên 4
quyền thành cột.
GV yêu cầu mỗi HS lựa chọn các quyền
mà các em vừa tìm hiểu, sắp xếp vào các nhóm
quyền.
HS lựa chọn, trình bày
GV chốt lại đáp án đúng, tóm tắt nội dung
từng nhóm quyền.
GV đa ra tình huống.
- Tình huống 1.

ca giỏo viờn:
GV nhn xột cỏch gii quyt tỡnh hung v b
sung thờm: Cả bố của Lan và bố Hoa đều không
đúng. Bố Lan vi phạm tới nhóm quyền phất
triển của trẻ em, bố của Hoa vi phạm nhóm
quyền bảo vệ.
GV kt lun: C hai tỡnh hung trờn núi đến
quyền của trẻ em, và cả hai ông bố đều vi phạm
tới quyền này
- Tình huống 3.
Lên học ở THCS, Nam đòi mẹ mua xe đạp mới
để đi học. Mẹ bảo rằng, bao giờ mẹ để giành đủ
tiền sẻ mua. Nam so sánh mình với mấy bạn có
xe trong lớp và cảm thấy ấm ức nên oán trách
mẹ.
Theo em, Nam đúng hay sai?Vì sao? Nừu là
Nam em sẽ ứng xử thế nào?
GV nhn xột cỏch gii quyt tỡnh hung
v b sung thờm: Lan làm nh vậy là cha đúng vì
qua câu nói của mẹ ta thấy Lan cha hiểu biết
hoàn cảnh của gia đình, chỉ biết đòi quyền lợi
cho bản thân và đặc biệt là mẹ nói nh thế có
nghĩa là mẹ sẽ mua, nếu khi nào mẹ để giành đủ
tiền.
GV kết luận về nghĩa vụ của trẻ em.

4. ý nghĩa của công ớc liên hợp quốc
về quyền trẻ em
- Thể hiện sự quan tâm chăm sóc của
công đồng quốc tế đối với trẻ em.

3. V thỏi
Tụn trng sc khe, tớnh mng, danh d, nhgaan phm ca ngi khỏc, phn i
nhng hnh vi xõm phm thõn th, tớnh mng, sc khe, danh d, nhõn phm ca cụng
dõn
II. Phng phỏp, hỡnh thc t chc dy hc
Bi ny va cú tớnh lý lun v thc tin nờn cn kt hp nhiu phng phỏp:
Phng phỏp dy hc bng tỡnh hung, thuyt trỡnh, din ging, nờu vn , vn
ỏp.
III. Ti liu v phng tin dy hc
Giy kh to ghi cỏc tỡnh hung, mt s tranh nh, hỡnh v minh ha .
Mỏy vi tớnh, mt s bng a phc v cho ni dung bi hc. Ca dao, tc ng núi
v tỡnh yờu.
IV. Hot ng dy v hc
1. n nh lp
2. Kim tra bi c
Cõu hi:
Cõu 1: Hóy nờu quyn v ngha v hc tp ca cụng dõn?
Cõu 2: Hc sinh cn phi lm gỡ thc hin quyn v ngha v hc tp ca mỡnh?
3. Vo bi: Nh cỏc em u bit, i vi con ngi thỡ tớnh mng, sc khe, danh d
v nhõn phm l quan trng nht. m bo cỏc quyn ú ca con ngi Nh nc
cú nhng quy nh c th trong phỏp lut. Bi hc hụm nay chỳng ta s hiu rừ hn v
quyn ny.
I- Mục tiêu:
- Khái quát nội dung truyện trong SGK
- Tìm hiểu quyền đợc pháp luật bảo hộ tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm.
- Nắm đợc nội dung trọng tâm của bài.


II- Chuẩn bị

Hi: Theo em, Hnh vi ca nhúm bn n cú vi phm
quyn c bo h v danh d, nhõn phm khụng? Vi
phm nh th no? Bn Tõn nờn lm gỡ trong tỡnh hung
ú?
Tỡnh hung 2.
Trong lỳc n sỏng quỏn cho l Trng cú hnh vi khiờu
khớch, tan hc Quõn ó r thờm mt s hc sinh lp 9 ún
ng ỏnh Trng b thng 15% sc khe.
Hi: Theo em hnh vi ca Quõn ó vi phm iu gỡ?
Tỡnh hung 3.
Nam v Sn l hai hc sinh lp 6 ngi cnh nhau. Mt

Nội dung cơ bản
I. Tìm hiểu truyện đọc Một
bài học

II- Nội dung bài học:
1. Quyền đợc pháp luật bảo hộ
về tính mạng thân thể, sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
- Đó là quyền cơ bản của công
dân. Quyền đó gắn liền với
mỗi công dân và là quyền
quan trọng nhất, đáng quý
nhất của mỗi công dân.


hụm Sn b mt mt cỏi mỏy tớnh va mi mua. Tỡm mói
khụng thy, Sn ti cho Nam ly cp. Sn v Nam to
ting. Tc quỏ Nam ỏnh Sn chy mỏu mi. Co giỏo kp

H mng v cói nhau vi ỏm con trai
H s hói khụng dỏm i hc na

2. (Điều 71 - Hiến pháp năm
1992) công dân có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, đợc pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu
không có quyết định của Toà
án nhân dân, quyết định hoặc
phê chuẩn của viện kiểm sát,
trừ trờng hợp phạm tội quả
tang, việc bắt và giam giữ ngời
phải đúng pháp luật
nghiêm cấm mọi hình thức
truy bức, nhục hình, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm của công
dân.

Đúng

Sai
X
X


H khụng cú phn ng gỡ v khụng núi cho b
m bit
H t thỏi vi nhúm con trai v bỏo cho b

dy hc mụn Giỏo dc cụng dõn ngy cng c nõng cao, hc sinh ho hng hn
vi mụn hc ny.Tụi xin chõn thnh cm n!


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thiết kế bài giảng GDCD 6
2. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học GDCD ở trường THCS.
3. Phương pháp dạy học môn GDCD
4. Tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status