SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Họ tên người viết: Huỳnh Thời
Đơn vị công tác: Trường THPT Bàn Tân Định
Nhiệm vụ được phân công: Giảng dạy môn ngữ văn lớp 10
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC LÀM VĂN THỂ LOẠI
“TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
1.BỐI CẢNH ĐỀ TÀI :
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã có nhiều biện pháp để nâng
cao chất lượng. Nhà trường có vai trò quan trọng việc đào tạo con người phát
triển toàn diện. Đặc biệt giáo viên dạy môn ngữ văn là người có cơ hội nhiều
nhất để truyền cho học sinh mình những cái hay, cái đẹp, cái thi vị của cuộc đời,
của lẽ sống, của ngôn từ, của vẻ đẹp thiên nhiên cả trong quá khứ và hiện tại…
Giáo viên dạy văn cũng chính là người dẫn đường, hướng đạo giúp học sinh
khám phá thế giới nghệ thuật muôn màu, muôn vẻ của văn học.
Học văn là để làm người, để hiểu biết, suy ngẫm; để tỏ thế thái nhân tình,
tường sự đời hay dỡ. Học văn còn để khám phá các giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ
thuật của ngôn từ. Văn học cũng là nơi để các tác giả bày tỏ thế giới quan và
nhân sinh quan của mình; nơi bộc lộ tư tưởng, tình cảm, những nghĩ suy trăn trở
về lẽ sống, thái độ đối với cuộc đời, với con người. Học văn, nói cách khác là
quá trình giải mã ngôn ngữ của các tác phẩm để tìm thấy những thông điệp mà
các tác giả đã ký thác. Đặc biệt, mục tiêu quan trọng của chương trình ngữ văn
là hình thành cho học sinh kỹ năng làm văn, kĩ năng sản sinh văn bản. Nên để
dạy và học văn thành công, cần có nhiều sự cố gắng.
Làm văn là một phân môn đòi hỏi các kỹ năng tổng hợp của nhiều môn
học khác nhau. Để làm văn tốt, học sinh phải có kiến thức, có vốn sống; có kỹ
năng hành văn, vận dụng tốt kiến thức ngữ pháp, từ ngữ; hiểu rõ đặc điểm loại
thể; hiểu rõ quy trình hoàn thành một văn bản... Vậy nên, dạy cho học sinh làm
Lớp 10 : 35 tuần x 3 tiết / tuần = 105 tiết.
Lớp 11 : 35 tuần x 3.5 tiết / tuần = 122.5 tiết.
Lớp 12 : 35 tuần x 3 tiết / tuần = 105 tiết.
Đối với học sinh, có thể nói phân môn tập làm văn là phân môn khó
nhất trong môn Ngữ văn, theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học
bằng phiếu an-két sau đây:
Học phân môn tập làm văn:
Thích
Năng lực học tập làm văn:
Giỏi
Yếu:
Làm tập làm văn:
Khó
Dễ
Không thích:
Theo bản thân em, thể loại văn bản nào sau đây đối với em là khó tạo lập
nhất?
mọi đối tượng học sinh mà chưa có những giải pháp cụ thể cho từng đối tượng
học sinh . Đây chính là lí do mà bản thân tôi chọn đề tài: “VÀI BIỆN PHÁP
DẠY HỌC LÀM VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM”
3
3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI :
ĐỀ TÀI :“ Biện pháp hướng dẫn học sinh làm văn tự sự kết hợp với miêu
tả và biểu cảm” ứng dụng trong việc dạy ngữ văn khối 6,8,10.
Phân môn tập làm văn lớp 8,10 tập trung đi sâu vào ba thể loại :văn bản
thuyết minh, văn tự sự kết hợp với miêu tả, văn nghị luận.
Thế nhưng làm thế nào để giúp học sinh làm tốt kiểu bài văn tự sự kết hợp
với miêu tả và biểu cảm ? Đó là câu hỏi mà tất cả giáo viên dạy ngữ văn đều
trăn trở, suy nghĩ. Bản thân tôi cũng cố gắng tìm hiểu và xin trình bày “Vài
biện pháp dạy học làm văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm ”. Với mong
muốn được trao đổi thêm kinh nghiệm với quý anh, chị, em đồng nghiệp.
Có thể nói trong các môn học trong nhà trường THPT, môn ngữ văn
đóng vai trò hết sức quan trọng, không những tạo tiền đề cho học sinh có kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết tiếng việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có
kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, tự sự bước đầu viết được văn
tự sự. Đồng thời còn giúp cho các em tiếp nhận các môn khoa học khác một
cách tốt hơn.
4. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI :
Thực hiện đề tài này tôi không có tham vọng gì hơn ngoài mục đích cung
cấp cho học sinh những kĩ năng làm văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
để các em cải thiện được kĩ năng viết văn của mình nói riêng và để học tốt bộ
môn Ngữ văn nói chung.
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: (NỘI DUNG )
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN::
Chính điều đó làm cho các em lo sợ và ít hào hứng khi học bộ môn Ngữ văn
nhất là phân môn tập làm văn.
a.THUẬN LỢI:
- Để làm được đề tài này, tôi đã dựa trên những điều kiện thuận lợi có thể phát
huy được. Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã được các cấp lãnh đạo nhà trường
quan tâm giúp đỡ, chỉ đạo sâu sát của Ban Giám Hiệu trường. các anh chị đồng
nghiệp cho ý kiến tham khảo, bản thân được phân công giảng dạy nhiều năm
5
liền môn ngữ văn nên đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong công tác giảng
dạy và bản thân tôi xét thấy năng lực cũng có thể làm được điều đó.
- Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ đáp ứng cơ bản cho việc dạy học.
Tuy nhiên, do thời gian không cho phép đề tài tôi chỉ nghiên cứu trong
giới hạn phạm vi trường THPT Bàn Tân Định với khối 6,8,10.
Tôi chân thành cảm ơn quý cấp lãnh đạo, quý đồng nghiệp đã giúp đỡ,
góp ý xây dựng những khiếm khuyết mà tôi chưa thấy hết. Xin chân thành cảm
ơn.
b.KHÓ KHĂN:
- Trường THPT Bàn Tân Định, thuộc vùng sâu, vừa mới thoát nghèo của Huyện
Giồng Riềng, đa phần học sinh là con em nông dân. Học sinh ý thức học tập
chưa cao. Các phương tiện giúp học sinh có thể tham khảo, tìm tòi học tập môn
ngữ văn còn hạn chế, từ đó học sinh gặp không ít khó khăn trong việc học tốt
môn ngữ văn.
- Học sinh học yếu từ tiểu học , lên lớp 6 học sinh còn viết chậm, đọc chậm.
- Còn một số ít học sinh không động não soạn bài, chỉ học theo cách đối phó,
phụ thuộc vào tài liệu, sách giải.
- Đa số học sinh không yêu thích môn ngữ văn, rất lười đọc sách. Mặt khác
cách lưa chọn nghề của môn học này cũng không phong phú như các môn học tự
xung quanh.
Kết cấu câu chuyện là cơ sở để xây dựng dàn ý và triển khai bài văn. Nếu
thiếu kết cấu, các ý sẽ rời rạc, khó phát triển, khó sáng tạo nhất là rất khó tìm ý
để xây dựng dàn ý.
Mới tập viết văn, yêu cầu tối thiểu là các em phải viết được kết cấu hoặc
tóm tắt câu chuyện. Chưa qua được bước khởi đầu này, những bước sau sẽ
muôn vàn khó khăn. Ngược lại, nếu giáo viên làm được bước này, kể như đã
giúp các em thành công một phần, truyền được nguồn cảm hứng và sự tự tin để
các em có thể thực hiện các bước sau. Do vậy, sau khi các em tóm tắt kết cấu
câu chuyện, giáo viên có thể giúp các em hoàn chỉnh và bắt đầu cho các em triển
khai bài văn. Chưa qua được bước này mà yêu cầu các em viết hẳn một bài văn
7
hoàn chỉnh thì quả thật, không hiểu các em sẽ viết gì ngoài việc sẽ lại bắt chước
đâu đó.
2. Lưu ý khi lập dàn ý:
Lập dàn ý tức tìm ý cho các phần của bài văn sẽ viết. Nội dung chính ở
các phần mở bài, thân bài và kết luận các em đã được học. Nhưng để tìm đủ ý
cho bài văn phải có kỹ thuật. Cần hướng dẫn các em xác định các ý chính (ý chủ
đề của các đoạn), sau đó từ các ý chính này mà triển khai các ý chi tiết. Để có ý
chính phải dựa trên kết câu câu chuyện định viết để xây dựng. Đây là một kỹ
thuật quan trọng trong việc viết văn. Rất đáng tiếc là nhiều giáo viên không
hướng dẫn học sinh kỹ bước này do vậy nhiều học sinh không thể lập nổi dàn ý
trước khi viết bài văn. Hậu quả là văn rất khó đọc.
Ngoài ra cần phải lồng ghép các ý miêu tả và biểu cảm vào dàn ý của bài
tự sự sao cho hợp lý, vừa mức. Việc xây dựng được một dàn ý hoàn chỉnh là rất
khó, bởi nếu có dàn ý tốt thì việc viết bài văn sẽ rất thuận lợi.
Ví dụ với đề bài trên, sau khi lập xong dàn ý cơ bản dựa trên kết cấu câu
Từ trước đến giờ chưa hề đến thị trấn nên em vô cùng bở ngỡ. May mà gặp một
người bạn tốt bụng. Bạn ấy giúp em vượt qua nhiều khó khăn (Như đọc sách ở
thư viện, làm quen với máy tính...), chúng em có thật nhiều kỷ niệm sâu sắc với
nhau. Tình bạn chân tình, gắn bó; chia tay nhau nhưng bọn em hẹn có ngày sẽ
gặp lại nhau. Tình bạn quý giúp mỗi người thấy cuộc đời vui hơn, có ý nghĩa
hơn.”
Kết cấu khác nhau nên cách viết mở bài cũng phải khác nhau, thân bài và
kết luận cần xây dựng theo các hướng khác nhau. Vậy nên vấn đề ở chỗ là
người viết cần phải nắm vững dàn bài thể loại. Phải nắm vững nhiệm vụ của các
phần trong một bài làm văn, từ đó khai triển các ý sao cho phù hợp.
Phần lý thuyết các em đã học từ vòng trước, nay được ôn lại nên đỡ vất vả
nhưng phần thực hành luyện tập thì giáo viên cần phá vỡ lối mòn suy nghĩ của
các em. Không phải cứ nhất nhất làm văn theo các gợi ý của sách. Đây là một
hiện tượng phổ biến trong các bài làm văn của học sinh.
Ví dụ sách giáo khoa ghi:
Mở bài: Giới thiệu sự việc, nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện.
9
Theo đó học sinh cứ thế mà làm văn như: Em có nhiều kỷ niệm đẹp với
một người bạn thân (Giới thiệu sự việc). Em tên Hoàng còn bạn ấy tên Mai
(nhân vật). Em quen bạn ấy hồi còn ở tiểu học (Tình huống...).
Lối viết này khá phổ biến hiện nay và thường là không hiệu quả. Bài viết
của các em thường theo các lối mòn một cách khó hiểu, khó chỉnh sửa nên rất
khó tiến bộ. Do vậy, giáo viên cần khuyến khích các em cần xấy dựng kết cấu,
dàn bài và đặt vấn đề một cách sáng tạo. Ví dụ như:
“Chuyến xe tốc hành chuyển mình như một cơn lốc. Vậy là Mai đã theo
gia đình đi xa. Chia tay với một người bạn thân suốt thời tiểu học không ngờ lại
xúc động đến vậy. Đã nhủ là phải bình tĩnh nhưng sao khóe mắt vẫn cứ cay.
cho người đọc hình dung ra tình bạn thân như thế nào... Hiểu như vậy thì chẳng
giúp các em trong việc viết văn tiến bộ mà ngay cả trong học văn cũng rất ích
lợi. Đọc một câu chuyện, theo dõi diễn biến một câu chuyện (trên phim ảnh hoặc
trong sách vở...) mới thấy cái hay, cái thi vị của thể loại tự sự.
- Mỗi câu chuyện thường diễn ra trong một bối cảnh không gian, thời gian
nhất định. Việc xác định bối cảnh giúp cho người viết lựa chọn các tình tiết một
cách hợp lý, tránh được những sai sót ngớ ngẩn. Mỗi mùa, mỗi thời điểm, mỗi
bối cảnh có vạn vật, có cỏ cây hoa lá riêng.
- Văn kể thường dễ viết, nhưng viết cho hay lại rất khó. Bởi vì các ý, các
tình tiết có mối liên quan với nhau rất chặt chẽ. Viết văn tự sự phải trình bày
theo trình tự thời gian và không gian nhất định. Điều đáng nói là cần giúp học
sinh thực hành nhiều lối viết kết hợp nhiều phương thức kể, tả và cảm trong mỗi
câu văn. Ví dụ như lối viết kết hợp rất tài tình các phương thức của nhà văn
Thanh Tịnh:
“Buổi mai hôm ấy (kể), một buổi mai đầy sương thu và giá lạnh (tả), mẹ
tôi âu yếm (cảm) nắm tay tôi dẫn đi (kể) trên con đường làng dài và hẹp (tả)...”
Hoặc như cách viết của Ai-ma-tốp trong truyện “Hai cây phong”: “Tôi
lắng nghe (kể) tiếng hai cây phong rì rào (tả), tim đập rộn ràng vì thảng thốt và
vui sướng (cảm)...”
11
5./ Luyện viết văn miêu tả kết hợp biểu cảm:
Tô Hoài cho rằng “Nói miêu tả, dễ tưởng miêu tả chỉ là tô vẽ phong cảnh
trời nắng, trời mưa, chớp bể mưa nguồn và thiên nhiên: cây vườn, bãi cỏ, con
sông,... Không, hàng đầu miêu tả là chú trọng sự việc, con người”. Cảm nhận
của con người đối với các sự vật hiện tượng thường mang tính chủ quan, cá
nhân; mang màu sắc đánh giá riêng tư. Cùng đối với một sự vật, hiện tượng
nhưng khi vui hoặc buồn, ta thường có cảm nhận khác nhau. Khi miêu tả, người
vật thân thuộc mà nghĩ đến và đã viết được một câu văn miêu tả tinh tế và đầy
cảm xúc.
Cũng chính là bằng chiêm nghiệm mà nhạc sỹ An Thuyên đã viết những
câu xao động lòng người: “Cắt nửa vầng trăng, tôi làm con đò nhỏ; bẻ đôi câu
thơ tôi làm mái chèo lướt sóng, đưa tôi về với người tôi thương”. Thực ra đây là
câu văn kể, thế nhưng người đọc, người nghe sẽ cảm nhận được các hình ảnh
miêu tả rất đẹp “đò trăng”, “chèo thơ”... Đến với người thương bằng những câu
kể, câu tả như thế thì thật quá thi vị, đặc sắc!
Lẽ đương nhiên, văn không luyện viết không hay. Học sinh lớp 6, 8, 10
cần được luyện viết nhiều. Đối với văn miêu tả kết hợp biểu cảm, giáo viên cần
hướng dẫn cho các em tập viết dần từ đơn giản đến phức tạp, từ lối viết quan sát
trực quan sinh động đến lối viết có tư duy, cảm xúc. Chỉ khi hiểu văn, biết làm
văn các em mới có thể thích văn được. Thử tưởng tượng, một học sinh không
hiểu thế nào là văn kể, văn tả, văn cảm; cũng chẳng biết sự hay dỡ của chúng
nằm ở chỗ nào thì làm sao mà hứng thú học văn!
Do vậy tôi thường giao việc và cho các em luyện viết nhiều bài tập ngắn
để các em có cơ hội thực hành. Giáo viên cũng cần quan tâm hướng dẫn giúp đỡ
các em khắc phục những sai sót. Phát hiện các câu văn hay, khuyến khích các
em phát huy. Theo tôi, văn hay của các em phải là những câu văn phù hợp cảm
xúc, phù hợp cảm nhận thẩm mỹ và tư duy lứa tuổi.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu; trải nghiệm thực tế giảng dạy, với
nhiều biện pháp được áp dụng, chất lượng học văn nói chung và làm văn nói
riêng của học sinh lớp 10 do tôi phụ trách được nâng lên đáng kể.
- Phần lớn các em nắm vững yêu cầu thể loại, có thể nhanh chóng xây
dựng được kết cấu, dàn bài của bài văn theo các đề bài khác nhau. Bài làm văn
13
Yếu, kém
:28 tỉ lệ 40,57 %
- Sau khi áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm chung môn ngữ văn ở 2
lớp có kết quả như sau:
Giỏi
: Không
Khá
: 10 tỉ lệ 14,5 %
TB
: 40 tỉ lệ 58 %
Yếu, kém
: 19 tỉ lệ 27,5 %
Còn một số học sinh yếu và trung bình yếu. Đây là những em mất căn bản
từ lớp dưới. Hiện tôi cũng đang quan tâm bồi dưỡng, giúp đỡ các em và hy vọng
14
chất lượng học văn, làm văn của các em sẽ được cải thiện tốt hơn vào cuối năm
học.
+Lập dàn ý:
+Viết văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm.
Tôi nghĩ rằng, mỗi giáo viên ngữ văn đều mong muốn học sinh của mình
làm văn tốt, yêu thích văn. Thế nhưng con đường hướng đến mục tiêu đó luôn
có nhiều trở ngại. Hy vọng bài viết này góp phần tháo gỡ một vài khó khăn, gợi
ra được vài định hướng giúp cho việc hướng dẫn học sinh viết thể loại văn tự sự
kết hợp miêu tả và biểu cảm ngày càng tốt hơn.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các anh chị em đồng nghiệp.
Bài học kinh nghiệm:
Để giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự đòi hỏi người giáo viên cần phải
có tâm huyết, kiên trì hướng dẫn, uốn nắn học sinh quy trình làm bài văn…
Kiến nghị:
-Nhà trường cung cấp đồ dùng dạy học (chân dung các tác giả).
Trên đây chỉ là những ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp của Ban Giám Hiệu, của tổ
chuyên môn và sự góp ý của các bạn đồng nghiệp tạo điều kiện cho tôi thêm
nhiều kinh nghiệm quý báu trong giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Bàn Tân Định, ngày 2 tháng 5 năm 2012
NGƯỜI VIẾT
Huỳnh Thời
16
Nhận xét đánh giá của hội đồng KHGD nhà trường
.........................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
Nhận xét đánh giá của hội đồng KHGD Sở Giáo Dục
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
Trang 2, 3, 4
Phạm vi đề tài
Trang 5
Mục đích nghiên cứu đề tài, nhiệm vụ của đề tài
Trang 5
Phương pháp nghiên cứu
Trang 6
Giải quyết vấn đề ( nội dung )
Trang 6
Hướng dẫn học sinh phân tích đề và xây dựng kết cấu câu
Trang 7
chuyện
Lưu ý khi lập dàn ý
Trang 7
Những lưu ý khi xây dựng dàn ý
Trang 8, 9
Trang 16
21