Phòng giáo dục&đào tạo mỹ đức
Trờng tiểu học Đốc Tín
đề tài
Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:
Một số biện pháp NHM NNG CAO
CHT LNG GING DY MễN TON LP 4
Ngời thực hiện: Bùi Thị Tuyết Nga
Đơn vị: Trờng tiểu học Đốc Tín- Mỹ Đức- Hà Nội
Đề tài thuộc lĩnh vực: Môn Toán
Năm học: 2010- 2011
1
Phũng GD& T M c CNG HO X HI CH NGHAVIT NAM
Trng TH Đốc Tín c lp -T do- Hnh phỳc
****************
TI
sáng kiến kinh nghiệm
I- S YU Lí LCH
Họ và tên: Bùi Thị Tuyết Nga
Ngày, tháng, năm sinh: 1966
Năm vào ngành : 1989
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trng Tiu hc Đốc Tín - Mỹ Đức - Hà Nội
Trình độ chuyên môn: i hc
Hệ đào tạo: T xa
Bộ môn giảng dạy: Ch nhim lp 4A
Trình độ chính trị :
Khen thng: Giáo viên giỏi cấp trờng
sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện
điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên
cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động
của học sinh lớp 4 trong một tiết học.
B. NỘI DUNG
I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM:
1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn.
2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010.
3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm.
4/ Kết quả:
Lớp Sĩ số
G K TB Y
SL % SL % SL % SL %
3
4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5
5/ Nguyên nhân:
Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả
thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những
nguyên nhân cơ bản sau:
-Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên.
-Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên
chưa được hợp lý.
-Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa
chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học.
- Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng.
-Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa
nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính.
Những nguyên nhân trên liên quan đến việc giáo viên tổ chức và hướng dẫn học
sinh học tập trong một tiết học. Vậy, người giáo viên tổ chức và hướng dẫn học
Khi dạy bài “So sánh các số có nhiều chữ số”- Toán 4.
- Giáo viên ghi bảng: 99578……100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp
váo chỗ trống và giải thích.
Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng
một câu hỏi.
Khi dạy bài: “Viết số tự nhiên trong hệ thập phân”- Toán 4.
- Giáo viên nêu câu hỏi:
• Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số?
• Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó?
-Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học.
Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật.
Khi dạy bài “Yến, tạ, tấn”- Toán 4.
- Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg.
- Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân)
Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến…
Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết
quả giờ dạy Toán 4.
BIỆN PHÁP 2 :TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY
Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo
viên phải đảm bảo được các nội dung sau:
- Biết lựa chọn phương pháp dạy học.
- Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh.
- Thông báo nội dung dạy học.
- Tổ chức dạy học theo nhóm.
- Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học.
- Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán.
- Đánh giá, ghi điểm.
1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học.
Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá
trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương
3
để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu
số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết.
Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án:
Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần
bằng nhau, lấy hai phần( tức
3
2
băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần
bằng nhau, lấy 3 phần ( tức
4
3
băng giấy).
So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy.
Dựa vào hai băng giấy thực ta thấy
4
3
băng giấy dài hơn
3
2
băng giấy nên
4
3
>
3
2
Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng)
3
>
3
2
.
6
4
3
3
2
Không những hướng dẫn học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tôi còn tạo
điều kiện cho học sinh củng cố và tập vận dụng kiến thức mới học ngay sau khi học
bài mới để học sinh bước đầu tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Sau phần bài học học
sinh được củng cố kiến thức mới học qua thực hành và tập vận dụng kiến thức mới
học để giải quyết vấn đề trong học tập hoặc trong cuộc sống.
Ví dụ : Sau khi học bài “So sánh hai phân số khác mẫu số”- Toán 4. Học sinh đã
thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng
quét lớp. Lan quét được
5
2
lớp học, Hoa quét được
10
6
lớp học. Vậy bạn nào quét
được nhiều hơn?
Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: “
so sánh hai phân số
5
2
và
10
Ví dụ: Khi dạy bài: “Phép cộng phân số” (tiếp theo)- Toán 4.
7
Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng
2
1
+
3
1
sau đó yêu cầu học sinh thực hiện.
Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai
phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể
thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số.
Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp
giải bài toán với các bước:
Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề.
Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các “ dữ kiện” đã cho với “kết luận” để
tìm ra cách giải bài toán.
Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng.
Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho
học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán.
Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần
để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền
dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi
Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân.
Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài
54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được
bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá.
Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần
phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy
học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó.
ràng, dễ hiểu, chính xác,phù hợp với trình độ học sinh, liên quan đén nội dung bài
học. Những câu hỏi ở mức độ khác nhau như :
Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại :
-Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ?
Câu hỏi yêu cầu so sánh :
-Viết các phân số;
3
7
;
9
7
;
2
7
;
8
7
theo thứ tự từ bé đến lớn?
Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân:
-Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao?
Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức:
-Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2.
Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học:
-Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử
dụng tính chất gì của phép tính?
b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của
học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những
câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ
mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ
sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh
Ví dụ: Khi dạy bài: “Thương có chữ số 0” tôi ghi bảng như:
Thứ……ngày….tháng …. năm ……
Toán:
Thương có chữ số 0
a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng.
9450 : 35 = ?
9450 35
245 270
000
9450 : 35 = 270
b)Thương có chữ số 0 xen giữa.
2448 : 24 = ?
2448 24
0048 102
00
2448 : 24 = 102
* L ưu ý: VD(b )
Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì
ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia.
4)Tổ chức dạy học theo nhóm
- Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần
thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức
mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán
mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham
gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến
khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau.
Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí
tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức
hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy
- Nhóm thảo luận nhiều nhiệm vụ khác nhau: mỗi nhóm thực hành đo một đoạn
thẳng.
Trong hoạt động nhóm, tôi cho học sinh phân công mỗi em thực hiện một phần
việc, mọi cá nhân trong nhóm đều phải làm việc để giúp đỡ nhau tìm hiểu và giải
quyết vấn đề. Sau đó đại diện nhóm trình bày kết quả trước lớp; các nhóm còn lại
chất vấn, bổ sung.
Như vậy: Trong một tiết học, nhất là tiết học Toán, hoạt động học tập theo nhóm
góp phần quan trọng vào kết quả học tập. Dạy học theo nhóm chính là hình thức
giảng dạy đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, giúp học sinh mở rộng suy
nghĩ và thực hành các kĩ năng tư duy toán như: phân tích, tổng hợp, khái
quát, được tạo điều kiện để hoạt dộng với các bạn làm cho các em có hứng thú,
tích cực hơn nữa trong học tập môn Toán. Đặc biệt trong hoạt động thảo luận nhóm
tôi hướng dẫn học sinh hoàn toàn tuân thủ theo các nguyên tắc tổ chức dạy học theo
11
nhóm, đàm thoại và thảo luận đối với tất cả các môn học và phải phù hợp với nội
dung, kiến thức môn Toán.
5)Việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, ở môn Toán 4 nói riêng đều yêu
cầu sử dụng đồ dùng dạy học để hình thành kiến thức mới và khắc sâu kiến thức đã
học. Thực hiện điều này bản thân tôi chuẩn bị rất nhiều đồ dùng dạy học trong từng
bài, từng tiết với nhiều dạng như: bảng từ, bảng cài, các thẻ số, phiếu học tập, tranh
ảnh vật thật, mô hình, sơ đồ, bản đồ…Với nhiều đồ dùng dạy học đa dạng và phong
phú như vậy thì việc sử dụng chúng trong các tiết dạy học Toán ở lớp 4 như thế nào
cho hợp lí, góp phần làm cho tiết dạy được nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn và hiệu
quả hơn. Đây là vấn đề hầu như chưa được thống nhất.
Để việc dạy học được hứng thú và có hiệu quả hơn, tôi thường sử dụng các đồ
dùng dạy học, sử dụng phương tiện dạy học đã giúp tôi dễ dàng giảng giải những
công thức, khái niệm khó, nâng cao hiệu quả giờ dạy( nếu như biết cách lựa chọn
và sử dụng đúng lúc,đúng chỗ.)
Khi sử dụng phiếu tôi chỉ biên soạn những câu hỏi mà khi trả lời học sinh không
chắc chắn học sinh sẽ không hiểu được tác dụng của biểu đồ tranh.
Trong dạy học Toán tôi thường xuyên cho học sinh sử dụng bảng con, bảng lớp để
làm các bài luyện tập, thực hành. Bảng phụ để ghi đề bài các ví dụ, bài tập. Bản đồ,
lược đồ Việt Nam trong việc dạy học về tỉ lệ bản đồ và cho học sinh thực hành đọc
số dân của các tỉnh, thành phố khi học các bài về triệu và lớp triệu.
Thực tế khi giáo viên lên lớp nhất là khi được dự giờ hay được thanh tra, kiểm
tra việc sử dụng đồ dùng dạy học còn lúng túng nhiều. Vậy để thống nhất việc sử
dụng đồ dùng dạy học trong mỗi tiết dạy học, tránh sự lúng túng ta không nên quan
niệm đồ dùng dạy học Toán chỉ là những que tính, những bông hoa, những con vật
có đính nam châm mà đồ dùng dạy học do giáo viên lựa chọn(có thể do Phòng, Sở
cấp; giáo viên và học sinh có sẵn hoặc do giáo viên tự làm).Việc lựa chọn đồ dùng
dạy học hay tự làm đồ dùng dạy học đơn giản,…tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung
phương pháp dạy học đồng thời cần đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm. Để
13
học sinh tự phát hiện kiến thức tốt nhất là cho các em tự làm việc với đồ dùng học
tập. do vậy giáo viên không nên làm thay học sinh.
6)Tổ chức trò chơi trong tiết học Toán.
Đối với học sinh Tiểu học còn có một đăc điểm tâm lí nữa là nhanh nhớ nhưng
cũng rất nhanh quên. Có khi ngay tại lớp các em đã nhớ hết một bảng cộng, bảng
trừ, bảng nhân, bảng chia, các quy tắc, công thức…Nhưng vài ngày sau, kiểm tra
lại các em đã quên gần hết(nếu không được ôn luyện thường xuyên). Đối với học
sinh của trường Tiểu học §èc TÝn , cha mẹ các em làm nông và thất nghiệp nhiều
nên sự hiểu biết của phụ huynh có hạn chế, ít quan tâm đến việc học tập của con em
mình, chưa tạo điều kiện tốt để các em tự học ở nhà do hoàn cảnh gia đình gặp
nhiều khó khăn.Học đến lớp 4,5 mà không thuộc bảng cửu chương nhất là sau thời
gian nghỉ hè. Việc quên kiến thức như vậy hoàn toàn không phải do trí tuệ các em
kém phát triển mà do các em không được ôn luyện, củng cố thường xuyên thông
qua trò chơi.
Không ai có thể phủ nhận được những mặt tích cực mà việc tổ chức trò chơi
học tập đã mang lại sau mỗi tiết dạy. Thiết kế trò chơi phải đảm bảo những yêu cầu
trọng tâm bài trong sách giáo khoa, sau đó bằng sự “ chế biến” của mình tôi có
nhiều đơn vị kiến thức, nhiều bài tập tương tự ở mức phổ cập, sau đó tôi thêm yêu
cầu, bài tập sáng tạo.
* Đồ dùng, thiết bị: Những đồ dùng, thiết bị tôi chuẩn bị để phục vụ trò chơi bao
giờ cũng đảm bảo.
- Tiện dụng (dễ sử dụng).
- Dễ làm (ai cũng có thể làm được, làm nhanh).
- Rõ ràng, đẹp mắt, nổi bật nội dung trò chơi.
-Có phần thể hiện điểm đạt được của từng yêu cầu (đúng, nhanh, đẹp) và tổng
điểm.
- Tiết kiệm (sử dụng được nhiều lần, làm bằng vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền…)
Ví dụ: Để phục vụ trò chơi “ Thi ghép hình” tôi tận dụng bìa cứng lấy từ các
thùng đựng sách giáo khoa mà thư viện không dùng nữa hoặc từ các vỏ hộp bánh
để làm các hình tam giác như sau:
Khi chơi học sinh ghép các hình tam giác này thành hình thoi hoặc hình chữ nhật
do giáo viên yêu cầu. Học sinh chơi xong tôi cất đi để lần sau không phải làm
lại.Đồ dùng này có thể sử dụng trong nhiều năm.
c, Cách tiến hành tổ chức trò chơi.
Khi tổ chức trò chơi trong tiết học Toán, kể cả những tiết học khác tôi luân tiến
hành theo 5 bước:
Bước1: Chuẩn bị.
GIÁO VIÊN
- Chia nhóm, đặt tên nhóm, ấn định số lượng
thành viên tham gia trò chơi cho mỗi nhóm (tôi
thường chia nhóm theo dãy)
HỌC SINH
- Cử thành viên tham gia trò
chơi (xếp hàng hoặc đứng tại
chỗ theo yêu cầu trò chơi)
và công bố kết quả.
- Rút kinh nghiệm.
Ví dụ : Trò chơi trong bài Toán 4 : « Phân số »
Bước1 : Chuẩn bị.
- Chia lớp thành 2 nhóm( mỗi dãy là một nhóm) - Mỗi nhóm cử nhóm trưởng và
5 bạn lên tham gia chơi.
Bước2 : Nêu tên trò chơi.
- Trò chơi mang tên : « Ai nhanh hơn ».
Sau trò chơi nhóm nào có số điểm cao
hơn thì giỏi hơn.
- Một số học sinh nhắc tên trò chơi.
Bước3 : Phổ biến luật chơi.
- Treo hai bảng phụ có nội dung như
nhau.
- Đọc nội dung trò chơi.
Viết phân số thích hợp vào chỗ chấm (theo mẫu)
A M B C I N D
Mẫu : AM =
5
2
AB CI = ………CD
MB = …….AB ID = ………CD
CN =………CD
ND =………CD
- Luật: Mỗi em tìm một phân số
đúngghi vào chỗ chấm. Cứ lần lượt từng
-Thống nhất cách chơi trong nhóm.
Sau mỗi đơn vị học tập trong tiết Toán, tôi đánh giá bằng cách chấm điểm. Việc
làm này đã khuyến khích học sinh học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, theo năng
lực cá nhân, tránh gây căng thẳng làm mất tính tự tin của học sinh.
Chấm điểm sau mỗi tiết học Toán sẽ giúp ích rất nhiều cho việc hỗ trợ học tập
của học sinh, nắm bắt được kết quả học tập của các em. Do thường xuyên được
chấm điểm nên các em cố gắng nhiều lần và bản thân tôi cũng điều chỉnh được
nhiệm vụ học tập cho học sinh đến khi đạt được mục tiêu.
Để khích lệ học sinh vươn lên trong học tập, bên cạnh những điểm số tôi thường
nhận xét ngắn gọn, xúc tích để thể hiện tình cảm với học sinh như: giỏi, đáng
khen, tiến bộ…
Ngoài việc đánh giá học sinh tôi còn cho học sinh tự đánh giá kết quả của bản
thân và của bạn.
Chính vì vậy, cho nên việc đánh giá là khâu cần thiết để biết được kết quả học
Toán của học sinh, chuẩn đoán nguyên nhân những thiếu sót khi dạy học Toán và
tìm cách bổ khuyết, thúc đẩy tinh thần học Toán của học sinh. Việc đánh giá học
sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh hoạt
17
động học Toán của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng
và định hướng điều chỉnh hoạt động của giáo viên.
BIỆN PHÁP 3 :KẾT THÚC BÀI HỌC (CỦNG CỐ BÀI)
Cách kết thúc bài học của giáo viên có tác dụng củng cố những điều đã học và
làm cho học sinh cảm thấy đã hoàn thành nhiệm vụ học tập. Để kết thúc bài học,
giáo viên có thể nhắc lại những điểm chủ yếu của bài học hoặc nhận xét tình hình
học tập của học sinh hay liên hệ với thực tế…tùy theo nội dung từng tiết học. Việc
kết thúc bài học có thể thực hiện dưới hình thức một câu hỏi, một bài hát, một trò
chơi lí thú ( như ở mục 6 của biện pháp 2) hoặc một tràng pháo tay biểu dương
những học sinh học tập tích cực, hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài.
Ví dụ: Sau bài “Tìm số trung bình cộng”. Giáo viên kết thúc bằng câu hỏi:
Muốn tìm số trung bình cộng của nhiều số em làm như thế nào?
- Sách vở, đồ dùng học tập Toán được các em chuẩn bị đầy đủ hàng ngày.3)Giáo viên:
- Từ khi áp dụng kinh nghiệm vào giảng dạy, bản thân tôi không còn lúng túng,
không ngại khó khi hướng dẫn học sinh học tập trong tiết học toán và các tiết học
khác của các phân môn còn lại.
C. KẾT LUẬN:
Qua 3 biện pháp thực hiện trong năm học từ tháng 9 /2010 đến giữa học kỳ 2
năm học 2010-2011.Trọng tâm là biện pháp 2( biện pháo chủ đạo, cốt lõi)- “Tìm
hiểu nội dung bài học” đã tạo bước đột biến trong nhận thức và hành động của học
sinh lớp 4A về môn Toán. Các em nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo khi tính
toán. Áp dụng tốt công thức trong toán học cho bản thân. Có đầu óc tư duy, sáng
tạo khi làm bài. Tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật cao, yêu thích thiên nhiên, cuộc
sống và giúp các em có bộ óc thông thái, phát triển tốt, vận dụng liến thức đã học
được trong tính toán hàng ngày.
Khi hoạt động dạy và học giữa thầy và trò được phối hợp nhịp nhàng thì các em
không còn ngại khó, không còn sợ các phép tính như trước nữa, ngược lại các em
rất tự giác, ham thích tìm tòi nhiều dạng toán. Khi giải bài toán các em còn có
nhiều phương pháp giải sáng tạo, độc đáo, xúc tích, ngắn gọn hơn.
Có được những kết quả này, bản thân tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, tích lũy
và vận dụng trong nhiều năm giảng dạy. Bên cạnh đó là sự say mê, nỗ lực của các
em học sinh. Sự quan tâm của cha mẹ học sinh đã tạo điều kiện để con em mình có
thời gian và tài liệu học tập một cách khoa học, hợp lí. Ngoài ra, nhà trường, lớp
học và thiết bị dạy học là những yếu tố rất quan trọng trong việc dạy học ở Tiểu
học nói chung, trong dạy học Toán 4 nói riêng. Những yếu tố này vừa thực hiện
chức năng minh họa vừa là nguồn tri thức để học sinh khám phá và phát huy tích
cực trong học tập.
Vậy, hoạt động dạy học của giáo viên là một hoạt động vừa mang tính nghệ thuật
vừa mang tính khoa học. Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đúc