SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY LUYỆN
TỪ VÀ CÂU LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
CAM THUỶ
Họ và tên: hoàng thị sáng
Hiệu trởng Tiểu học Cam Thủy
vụ củng cố, kết thúc giai đoạn đầu của CT GDTH (lớp 1-2-3) đồng thời có
nhiệm vụ mở ra một giai đoạn mới-giai đoạn 2 (lớp 4-5).
NQ 40/QH khoá 10 đã định rõ việc đổi mới CT-SGK ở GDTH nói chung
và bậc TH nói tiêng phải thực hiện một cách đồng bộ từ đổi mới CT-SGK đến đổi mới phương pháp dạy học, quan điểm biên soạn đến CSVC, trang thiết bị,
công tác quản lý, đánh giá trong đó quan điểm biên soạn sách nhất là sách TV
ở TH tập trung vào 3 vấn đề:
Quan điểm tích hợp
Quan điểm giao tiếp
Quan điểm tích cực hoá các hoạt động học tập của HS.
Vị trí và những quan điểm biên soạn sách nêu trên hết sức quan trọng đối
với GV trong việc dạy học TV lớp 3 và phân môn LTVC nhất là việc lựa chọn
phương pháp cũng như cách thức tiến hành các phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học.
Sách giáo khoa TV 3 nói chung và phân môn LTVC nói riêng đã tạo điều
kiện, cơ hội để GV thực hiện đổi mới cách dạy, cách học nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Trong quá trình thực hiện nhiều GV
đã bám sát quan điểm biên soạn và vị trí môn học để tiến hành thực hiện dạy học
có hiệu quả khá tốt.
Song bên cạnh đó vẫn còn nhiều GV chưa xác định hết vị trí và tầm quan
trọng cũng như chưa thực sự hiểu một cách sâu sắc quan điểm biên soạn, chưa
nghiên cứu kỹ SGK, nhất là không đặt bài dạy trong hệ thống KT,KN môn học
nên bài dạy rời rạc, dạy tiết nào biết tiết đó nên chưa phát huy hết khả năng HS,
hiệu quả thấp.
Khối/lớp
Số
tiết
dự
Đạt khá,
tốt
Đạt yêu cầu và có hạn chế
Tổng
Số
Cơ bản
đạt được
các yêu
cầu
Thiếu
hệ
thống
Rời rạc chưa
thể hiện mối
quan hệ trong
các BT
Lựa chọn PP
hình thức
chưa phù
hợp
Chưa
phát
huy
Khối 2 4 1 1 1 1 3
Khối 3 10 2 2 3 1 7 8
Bảng hệ thống các dạng bài:
Hệ thống hoá một số dạng bài
Dạng bài ở lớp 3 Đã học ở lớp 2 Sẽ học ở lớp 4 1-Ôn tập về chỉ sự vật
2- Ôn tập về chỉ hoạt động
trạng thái
3- Ôn tập về từ chỉ đặc điểm
4- Ôn kiểu câu: Ai là gì? (2
tiết, tuần 2, tuần 4)
5- Ôn kiểu câu: Ai là gì? (2
tiết, tuần 8, tuần 11)
6- Ôn tập kiểu câu: Ai thế
nào? (2 tiết, tuàn 14, tuần
17)
7- So sánh: 6 tiết (T1,
T3,T5,T7,T10,T12)
8- Nhân hoá: 6 tiết (T19,
T21, T23, T25, T28, T33)
ở lớp 2 đã học: 2 tiết
ở lớp 2 đã học: 2 tiết
ở lớp 2 đã học: 1 tiết
Lớp 2 đã học 3 tiết
Qua bảng hệ thống nhằm giúp GV:
- Có một cách nhìn tổng quát toàn bộ nội dung bài học.
- Vừa lại có cách nhìn chuyên sâu vào từng dạng bài, từng mạch KT,KN.
- Trên cơ sở đó để thiết kế bài dạy một cách có hệ thống (biết được HS đã có
gì? cần gì? và sẽ tiếp tục học thêm gì ở các lớp trên )
2- Biện pháp 2: Chỉ đạo dạy các dạng bài tiêu biểu LTVC ở lớp 3:
ở lớp 3 phân môn LTVC có những dạng bài tiêu biểu sau:
- Mở rộng vốn từ.
- Ôn luyện kiến thức đã học.
- Bước đầu làm quen với các biện pháp tu từ, so sánh và nhân hoá.
2.1- Dạy dạng bài: Mở rộng vốn từ:
Đối với kiểu bài này được gắn với chủ điểm được học: Măng non, mái
ấm, thành thị, nông thôn, bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo, nghệ thuật, thể thao, ngôi
nhà chung, bầu trời và mặt đất.
Các bài mở rộng vốn từ đều được cấu trúc thông qua hệ thống bài tập. Để dạy tốt dạng bài này, ngoài việc GV cần thực hiện các quy trình giải quyết
bài tập mà SGV đã hướng dẫn, GV cần thực hiện tốt các việc sau:
Việc 1: Tìm hiểu từ ngữ theo chủ điểm, GV gợi mở đề HS nhớ lại chủ điểm, các
từ ngữ làm nổi bật chủ điểm để HS sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm, sử dụng
tiếng mẹ đẻ để chủ động, tích cực huy động vốn từ.
Việc 2: Tìm hiểu nghĩa của từ: Thực hiện một cách nhẹ nhàng, linh hoạt thông
qua nhiều hình thức như vấn đáp, trực quan, đặt câu
Việc 3: Hệ thống hoá phân loại vốn từ: Sau khi HS đã huy động từ, GV định
hướng cho HS sắp xếp các từ tìm được theo hệ thống và phân loại từ.
Ví dụ:
Dạy bài: Mở rộng vốn từ về thiếu nhi (tuần 2)
Sau khi HS thảo luận BT 1, GV định hướng cho HS huy động kết quả theo
nhóm như sau:
than (thông qua các dạng bài tập).
* Cách dạy từng kiểu bài:
2-2-1: Dạng bài: Ôn tập về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ
đặc điểm:
Khi dạy các dạng bài trên GV cần làm tốt các vịêc sau:
Việc 1: Gắn bài dạy với hệ thống KT,KN đã được học ở lớp 2 đẻ biết : HS đã có
gì (củng cố gì), HS học mới thêm gì ở lớp 3 và sẽ được tiếp tục học thêm nội
dung gì ở lớp 4.
Việc 2: Tổ chức hoạt động học tập (thông qua lệnh bài tập) để củng cố KT,KN
học sinh đã học ở lớp 2.
Việc 3: Gợi ý để HS tưh khám phá, chiếm lĩnh KT,KN cần học của bài học.
Việc 4: Chốt lại KT,KN cần ôn tập, rèn luyện và gợi mở cho HS tiếp tục có suy
nghĩa khám phá vấn đề vào các lớp trên.
Ví dụ: Dạng bài: Ôn tập về từ chỉ sự vật (tuần 1).
- GV gợi ý HS nhớ lại KT về từ chỉ sự vật đã học ở lớp 2 để thực hiện BT1:
Tìm từ chỉ sự vật trong khổ thơ.
Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai.
Sau khi HS đã tìm được các từ chỉ sự vật (tay, răng, hoa nhài, tóc, ánh mai). GV
cho HS nhắc lại từ chỉ sự vật đó là những từ chỉ người, đồ vật, con vật, cây cối
Trên cơ sở đó, HS tìm sự vật được so sánh (BT2): phép so sánh các sự vật
với nhau: Hai bàn tay so sánh Hoa đầu cành
Cánh diều so với dấu "á"
Đến bài tập 3: Yêu cầu: Trong những hình ảnh so sánh ở BT2, em thích hình ảnh
nào? (bước đầu nhận biết tác dụng của sự so sánh)
Như vậy, so với lớp 2, lớp 3 đã nâng cao một bước về từ chỉ sự vật đó là:
phép so sánh sự vật với nhau, cách dùng từ, luyện từ chỉ sự vật
Đến lớp 4: Sẽ tiếp tục học và được khái quát thành: Danh từ.
2.2.3.1- Dạy biện pháp so sánh: Có các dạng bài tập: nhận diện (tìm) những sự
vật được so sánh, hình ảnh so sánh, các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc điểm
được so sánh, tập nhận biết tác dụng của biện pháp so sánh, tập đặt câu có dùng
biện pháp so sánh.
Khi dạy kiểu bài này, GV cần giúp HS liên hệ lại các bài về từ chỉ sự vật,
từ chỉ hoạt động, trạng thái và đặc điểm để giúp HS có kỹ năng trong việc thực hiện các bài tập một cách chủ động, thuần thục. Dựa vào đặc điểm sự vật để so
sánh Phân biệt được hình ảnh so sánh và từ so sánh, cái so sánh và cái được so
sánh.
- Nắm vững mối quan hệ, mức độ yêu cầu từng bài.
2.2.3.2- Dạy biện pháp nhân hoá ở lớp 3: SGK TV 3: Có 6 tiết
Bao gồm các dạng bài tập: Nhận diện phép nhân hoá trong câu, cái gì được nhân
hoá, nhân hoá bằng cách nào, tập nhận biết cái hay của nhân hoá, vận dụng viết
câu hay đoạn văn có dùng biện pháp nhân hoá.
Khi dạy giáo viên cần:
- Nắm vững mức độ, yêu cầu từng tiết, mối quan hệ chặt chẽ từng bài, từng tiết
để tổ chức tiết học đảm bảo tính kế thừa, tính lôgích và tính hệ thống.
Ví dụ: Dạy bài LTVC tuần 28: Nhân hoá, ôn tập cách đặt câu.
- GV phải nắm được vị trí tiết dạy trong hệ thống dạng bài: là tiết thứ năm và
trước đó đã học 3 cách nhân hoá (tuần 21), Vì vậy, GV cần tổ chức cho HS củng
cố lại 3 cách nhân hoá đã học đó là:
+ Các sự vật được gọi bằng từ dùng để gọi người.
+ Tả sự vật bằng từ dùng để tả người, ví dụ: bật lửa, trốn
+ Nói với sự vật thân mật như nói với người: Ví dụ: gọi mưa.
Trên cơ sở đó, HS làm bài tập 1 và tự nêu thêm 1 cách nhân hoá mới qua 2
VD: "Bèo lục bình" và "Chiếc xe lu".
Sự vật tự xưng (Bèo lục bình tự xưng : Tôi
Chiếc xe lu tự xưng; Tớ )
+ Về chất lượng phân môn LTVC : Đã được nâng lên rõ rệt nhất là khối 3:
Đợt 1: TB: 74%; KG: 20%
Đợt 2: TB: 76,9%; KG: 41,5%
Đợt 3: TB: 93,9%; KG: 66,7%
Đợt 4: TB: 95,4%; KG: 73,8%
- ở liên trường: Đã áp dụng để chỉ đạo các tiết dạy LTVC (cụm 4, cụm 3).
- áp dụng để tập huấn, tư vấn bài dạy cho GV dự thi GVG Tỉnh 2 tiết LTVC (lớp
2: đ/c Thịnh, lớp 3 đ/c Thu Hà) và đã góp phần vào thành công tốt: Tiết đ/c
Thịnh đạt tốt mức 19 điểm, tiết LTVC lớp 3 đ/c Hà: 20/20 điểm (là tiết dạy đạt
xuất sắc nhất của hội thi GVG Tỉnh).
Kết luận và bài học kinh nghiệm
* Kết luận: Nhờ thực hiện các biện pháp chỉ đạo GV dạy học LTVC như
trên đã tạo được sự chủ động cho GV trong cách dạy: Từ khâu thiết kế dạy học
đến việc tổ chức, hướng dẫn, điều hành các hoạt động học tập của HS. HS phát
huy được khả năng vốn có của mình (đã học ở lớp dưới, tiết trước, tiếng mẹ
đẻ ) chủ động, tích cực, hứng thú trong việc chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng;
tiết học nhẹ nhàng, hiệu quả, hệ thống và lôgích.
* Bài học kinh nghiệm:
Muốn nâng cao chất lượng dạy học TV nói chung và LTVC nói riêng.
Người quản lý cũng như GV trước hết phải có tâm huyết với môn học, chủ động
trong việc nắm bắt hệ thống kiến thức, kỹ năng môn học, bài học. Bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng và đối tượng, nghiên cứu kỹ CT-SGK,
SGV để đặt được bài dạy, tiết dạy, bài tập trong mạch kiến thức kỹ năng vốn có
nhằm hiểu được HS đã có gì, cần gì, và sẽ học tiếp gì.
Nắm vững đặc điểm các dạng bài, kiểu bài để lựa chọn phương pháp, cách
tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức một cách phù hợp
Có biện pháp củng cố, khắc sâu, mở rộng bài học cho HS một cách hợp lý.