NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG THÁI NGUYÊN - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
ơ

HOÀNG THỊ LIÊN
HOÀNG THỊ LIÊN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG
THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ
CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRUNG ƢƠNG THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60 72 73

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hướng dẫn khoa học: TS Bùi Văn Hoan

THÁI NGUYÊN, NĂM 2009


Để hoàn thành Luận văn này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Chữ viết tắt trong Luận văn
Đặt vấn đề

1

Thái Nguyên; TS. Bùi Văn Hoan - Phó giám đốc Sở Y tế Thái Nguyên người thầy đã

Chƣơng 1. Tổng quan

3

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

1.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới ......................................

3

tốt nghiệp.

1.1.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế .....................................................

3

1.1.2. Phân loại chất thải y tế

4


10

văn.

1.3. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên .........................

11

1.4. Một số yếu tố liên quan đến chất thải y tế.............................................

12

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,

1.4.1. Tác hại và nguy cơ của CTYT đối với môi trường và sức khỏe cộng

giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khoá học.
Xin trân trọng cảm ơn.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2009
TÁC GIẢ

Hoàng Thị Liên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8





20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




DANH MỤC BẢNG

2.3.1. Phương pháp

20

2.3.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

20

2.4. Chỉ số nghiên cứu

21

Bảng 1.1.

Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh trên thế giới ............

3

2.4.1. Chỉ số về thực trạng quản lý chất thải y tế .........................................


25

Bảng 3.2.

Thực trạng thu gom, phân loại chất thải y tế............................

28

2.7. Xử lý số liệu

25

Bảng 3.3.

Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế ....................

29

2.8. Khống chế sai số trong nghiên cứu

25

Bảng 3.4.

Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế

30

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu


Chƣơng 4. Bàn luận

49

4.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế

49

4.1.1. Thực trạng quản lý chất thải rắn

49

4.1.2. Thực trạng quản lý nước thải bệnh viện.............................................

55

4.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế ................................

58

4.2.1. Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế ............................................

58

4.2.2. Trang thiết bị phục vụ thu gom rác thải .............................................

63

4.2.3. Thực trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải ...............................


thải y tế theo nhóm chất thải và theo mã màu…………………....

37

Bảng 3.11. Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế ...................

38

Bảng 3.12. Liên quan giữa hiểu biết với thực hành phân loại chất thải ......

39

Bảng 3.13. Liên quan giữa học tập với hiểu biết về phân loại chất thải của

40

nhân viên y tế và vệ sinh viên

Tài liệu tham khảo

Bảng 3.14. Hiểu biết về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi chất thải của
nhân viên y tế và vệ sinh viên y tế

41

Bảng 3.15. Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về tác hại của chất
thải y tế đối với người tiếp xúc

42



48

AIDS

: Acquired Immune Deficiency Syndrome

BOD5

: Chỉ số nhu cầu ô xy sinh hóa sau 5 ngày, ở

(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
nhiệt độ 20oC
BVĐKTWTN

Nguyên

BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện ........

33

Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế
quản lý chất thải y tế

CTYT

: Chất thải y tế

CTR

DEA

đựng chất thải y tế

International

Assistant (Quỹ hợp tác phát triển quốc tế

35

thải y tế theo nhóm chất thải y tế

bỏ rác đúng quy định

: Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái

44

Nam)
GB

: Gường bệnh

KQ PT

: Kết quả phân tích

HBV

: Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



làm sạch và thương mại quốc tế)

27
32

NSNN

: Ngân sách nhà nước

47

PX

: Phóng xạ

TB

: Trung bình

TCCP

: Tiêu chuẩn cho phép

TCVN

: Tiêu chuẩn Việt Nam

tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trình
hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng
lớn các chất thải bỏ, bao gồm những chất thải bỏ nguy hại. Theo Tổ chức Y tế thế
giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn
và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các
hoá chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị, đó là những yếu tố
nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng
xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tăng tỷ lệ bệnh tật của
cộng đồng dân cư sống trong vùng tiếp giáp [40], [63].
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có 1087 bệnh
viện, trong đó có 1023 bệnh viện công, 64 bệnh viện tư với tổng số 140.000 giường
bệnh. Bên cạnh đó còn có 14 Viện thuộc hệ dự phòng, 189 trung tâm y tế dự phòng
tuyến tỉnh, 680 trung tâm y tế huyện, 100 cơ sở nghiên cứu đào tạo y dược và 181
công ty, xí nghiệp sản xuất thuốc, 10.999 trạm y tế xã, phường. Tổng lượng chất
thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005 vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đó có
40 tấn/ngày là chất thải y tế nguy hại. Đến năm 2006, tính chung tỷ lệ bệnh viện có
hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho
phép; có 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom CTYT hàng ngày, nhưng chỉ có 50%
bệnh viện trong số này phân loại và thu gom CTYT đạt yêu cầu [23].
Để đánh giá thực trạng về CTYT cũng như những ảnh hưởng của CTYT đối
với môi trường, nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan đã tiến hành điều tra, nghiên
cứu. Các nghiên cứu đã phần nào cho thấy những tồn tại trong công tác quản lý
CTYT ở nước ta [26], [28], [40]. Hiện nay, vì nhiều lý do, trong đó có áp lực về nhu
cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, sự thiếu đồng bộ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải
nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan
truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương
nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm
khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người
phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế. [57], [58], [60], [61].
1.1.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ
thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh
viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và
chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [34].
Bảng 1.1. Chất thải y tế theo giƣờng bệnh trên thế giới [53]
Tuyến bệnh viện

Tổng lƣợng CTYT(kg/GB) CTYT nguy hại (kg/GB)

Bệnh viện trung ương

4,1 - 8,7

0,4 - 1,6

Bệnh viện tỉnh

2,1 - 4,2

0,2 - 1,1

Bệnh viện huyện



1.2. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả
năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và
chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên
cứu...; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần
của cơ thể...); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất

Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số
43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định [21]:
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con người

thải phóng xạ [63].

và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn

1.1.3. Quản lý chất thải y tế

hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu

chất thải đúng cách. Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn

gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải

phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp
xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại
thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có
lượng CTYT phát sinh lớn nhất. Dẫn từ [17], [40].
Bảng 1.2. Chất thải y tế phát sinh theo giƣờng bệnh tại Việt Nam
Tuyến bệnh viện

Đơn vị

Tổng lƣợng CTYT

CTYT nguy hại

Bệnh viện trung ương

(kg/GB)

0,97

0,16

Bệnh viện tỉnh

(kg/GB)


cứu của Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là 16,5 tấn.ngày; kết quả nghiên cứu của Lê

chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì

Doãn Diên 37,5 tấn ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5

hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).

tấn/ngày; của Bộ Xây dựng là 34 tấn/ngày. Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một
số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng,

* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ
các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.

bùn bể phốt.... Một số đề tài nghiên cứu khác chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh khi

Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều

cần thiêu đốt. Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế (2001) tại 280 bệnh viện lượng

trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006

CTYT phát sinh mỗi ngày khoảng 429 tấn/ngày, trong đó lượng CTYT nguy hại

của Bộ trưởng Bộ Y tế.

khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm CTYT, trong đó
có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại. Dự báo đến năm 2010, lượng CTYT
nguy hại sẽ có khoảng 25.000 tấn/năm [17], [28].

phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.

Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 1998 - 1999 thành phần CTYT ở một
số bệnh viện Việt Nam gồm:
- Chất thải rắn y tế: Giấy các loại; kim loại, vỏ hộp; thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ
thuốc, bơm kim tiêm nhựa; bông băng, bột bó gãy xương; chai, túi nhựa các loại;
bệnh phẩm; rác hữu cơ; đất đá và các vật rắn khác.
- Chất thải lỏng bệnh viện: nước thải từ khoa Xét nghiệm, X quang, khoa lâm

* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế

sàng, cận lâm sàng, bộ phận phục vụ trong bệnh viện và nước mưa.
- Chất thải khí: khí thải từ các công trình, thiết bị xử lý, tiêu huỷ CTYT.
1.2.3. Quản lý chất thải y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây
độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.





* Về nước thải:

hiện. Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiện phân loại

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố thì

CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện ngành. Có 93,9%

có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở các bệnh viện

bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử

tuyến huyện. Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh viện

dụng chai nhựa, lọ truyền đã dùng để đựng kim tiêm. Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc

sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước

phân loại CTYT ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân

thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh

loại chất thải. 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận

viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4% hở và 42,3% vừa kín vừa hở.

chuyển chất thải.

Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều có


tư nhân là 85%. Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có

chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn,

khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép. Hiện cả nước còn có gần 640 bệnh

vừa đốt trong bệnh viện. Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước

viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử

khi đem đốt hoặc chôn. Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây

lý nước thải khoảng 220 bệnh viện [23].

ô nhiễm môi trường.

* Về xử lý khí thải bệnh viện: Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và bệnh

thải hoặc có hotte hút hơi khí độc tại các khoa/ phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa

phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4 bệnh viện

phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải.

được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có thùng đựng rác

1.2.4. Biện pháp xử lý chất thải y tế

suất thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h. Tuy nhiên đại đa số các lò đốt

bệnh viện phải chôn đi chôn lại nhiều lần trong khu đất bệnh viện. Theo báo cáo của

chưa sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công suất của các lò đốt với lượng

Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện

CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt đã đáp ứng đủ khối lượng phát

chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện

sinh tại thời điểm. Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn một khối lượng lớn CTYT phát

tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [23].

sinh chưa được thu gom và xử lý đúng cách. Thực trạng như sau:
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:

* Về xử lý nước thải bệnh viện:
Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện Lao Tuyên Quang;

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt rác hiện đại: Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí

Bệnh viện C và Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thái Nguyên; Bệnh viện đa khoa tỉnh

Minh đã xử lý CTYT tập trung với công nghệ nhập của nước ngoài. Một số bệnh viện

Sơn La, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài - Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ xử lý


các tỉnh miền núi khu vực Đông Bắc, các cơ sở y tế của tỉnh Thái Nguyên trong những

công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [23].

năm qua cũng đã tăng cả về số lượng và quy mô giường bệnh. Theo niên giám thống

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay, phần lớn các

kê của tỉnh, từ năm 2004 đến năm 2006 số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đã tăng từ 214 cơ

bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT

sở lên 218 cơ sở, số giường bệnh tăng từ 3.229 giường bệnh lên 3.553 giường bệnh.

bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời. Nghiên

Không kể các trạm y tế xã, phường, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 19 cơ sở y tế

cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò

tuyến trung ương, tuyến tỉnh và các trung tâm y tế huyện, bệnh viện tư nhân [25].

đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công và tuyến

Theo báo cáo của DANIA (2001) tại 17 bệnh viện ở tỉnh, lượng chất thải rắn

huyện là 97/201 lò đốt. Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủ công [26]

phát sinh trong 17 bệnh viện là: 1.979,3kg/ngày, trong đó chiếm 16,74% là chất thải



toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại [17].

tiêu chuẩn vệ sinh môi trường. Kết quả phân tích nước thải của các bệnh viện cho

Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về chất thải y tế đã đưa ra các số liệu như sau [41]:

thấy, hàm lượng BOD5 và COD và các hợp chất hữu cơ khác đều cao hơn tiêu

+ Tháng 7 năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở Khoa Nhi không may bị

chuẩn cho phép, kể cả nước thải của các bệnh viện đã qua hệ thống xử lý. Phần lớn

nhiễm virút từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính. Tại Nhật bản đã

CTYT nguy hại của các bệnh viện được chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại

ghi nhận 570 trường hợp tương tự như vậy.

chỗ. Các bệnh viện tuyến huyện hầu như chưa có hệ thống xử lý nước thải và biện

+ Việc khảo sát của các nhà y tế cộng đồng năm 1986 cho thấy 67,3% những

pháp xử lý chất thải rắn đảm bảo vệ sinh môi trường [37].

người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổn thương do các vật sắc nhọn, 44,4%

1.4. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế

những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn thương khi thu gom các


gián, ô nhiễm môi trường không khí do phát sinh mùi hôi thối khó chịu. Các trung

xúc với CTYT nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế,

gian truyền bệnh này sẽ tạo ra một nguy cơ lan tràn bệnh dịch nhanh chóng từ các

bao gồm: Cán bộ y tế và nhân viên vệ sinh bệnh viện; Những người thu gom phế liệu;

bệnh viện, từ CTYT không được xử lý đúng cách. Cũng như vậy, nước thải bệnh

Người bệnh, người nhà bệnh nhân; Người dân sống gần bệnh viện [17], [56].

viện không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh cũng sẽ là nguồn phát tán các mầm

Các nguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đường tiêu hoá do các vi khuẩn

bệnh vào các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) [17].

tả, lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao, do phế cầu khuẩn;

Qua các nghiên cứu về tác hại của CTYT đối với những người tiếp xúc, trong

tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than; AIDS; nhiễm khuẩn huyết;

đề tài này, chúng tôi đã lựa chọn các nhân viên y tế, hộ lý và các nhân viên thu gom,

viêm gan A, B; thần kinh; gây độc, ăn mòn, cháy, nổ [17], [56].

vận chuyển rác (sau đây gọi tắt là vệ sinh viên); bệnh nhân và người nhà bệnh nhân

thống đó hoạt động cũng không hiệu quả.

Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2006): kết quả điều tra quản lý

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thái tại 14 bệnh viện Hà Nội (1998):

CTYT tại một số bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội của Bùi Văn Trường,

Nhân viên bệnh viện, nhân viên thu gom rác chưa được tập huấn những kiến thức

Nguyễn Tất Hà (năm 1998) cho thấy: các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD 5,

cơ bản về phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải y tế đối với sức

NH4, Coliform và Fecal coliform ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho

khoẻ, chưa có kỹ năng nghiệp vụ cần thiết [42].

phép. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam (2004) lượng vi

Năm 1999 (sau khi Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế), những
hiểu biết của cán bộ, nhân viên bệnh viện về CTYT vẫn còn nhiều hạn chế. Qua kết

3

khuẩn/m không khí cao hơn giới hạn cho phép [40].
Kết quả nghiên cứu tại 8 bệnh viện huyện của 4 tỉnh (2006) cho thấy, 100%

quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung (2003), cho thấy:


trả lời không đúng hoặc không biết về quy định mã màu sắc của dụng cụ đựng

xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác

CTYT. Phần lớn cán bộ, nhân viên y tế đều biết được những tác hại của CTYT,

động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế.

được biết đến nhiều nhất là khả năng lan truyền bệnh (96,8%), đối tượng bị ảnh

Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và khả năng
lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội, cho thấy có hiện tượng tăng trội nhiều
bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện nhất là các bệnh đường tiêu hoá.
Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải y tế
đến sức khoẻ tại 8 bệnh viện huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô
nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh viện cao

hưởng bởi CTYT đươc biết đến nhiều nhất là bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý [40].
1.4.4. Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải
* Cơ sở pháp lý: Ở nước ta chất thải y tế đã được quản lý bằng hệ thống các
văn bản pháp luật do quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản
lý, hướng dẫn thực hiện của Ngành Y tế. Gồm một số văn bản sau:
- Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật. Điều

hơn nhóm không bị ảnh hưởng. Dẫn từ [40].

39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường

1.4.3. Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế



việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,

đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản

tại quyết định này có 84 bệnh viện trên cả nước phải thực hiện biện pháp xử lý triệt

lý, xử lý chất thải. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến

để ô nhiễm môi trường, tỉnh Thái Nguyên có 4 bệnh viên nằm trong danh sách đến

công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và bất cập. Ở

năm 2007 phải xử lý triệt để ô nhiễm môi trường trong đó có Bệnh viện đa khoa

Tây Ninh có 7 lò đốt rác y tế nhưng cả 7 lò đều đang bị hỏng do không có chi phí

Trung ương Thái Nguyên.

bảo dưỡng và vận hành. Theo tính toán, bình quân chi phí cho việc xử lý chất thải

- Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTYT và thường
xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển. Từ năm 1996 đã ban

rắn và chất thải lỏng cho một giường bệnh dao động từ 5.000 tới 8.000đ/GB/ngày.
Nếu bệnh viện thuê trung tâm đốt CTYT sẽ mất vào 9.000đ/kg/ngày [22].

hành các văn bản hướng dẫn, quy định xử lý chất thải rắn trong bệnh viện, từ năm

Bên cạnh đó cũng còn có những vấn đề liên quan khác như: theo quyết định

thông thường.
- Nước thải bệnh viện: nước thải ra từ các hoạt động của bệnh viện.
- Hồ sơ, sổ sách quản lý chất thải y tế của bệnh viện.
* Nhân viên y tế, vệ sinh viên và bệnh nhân là những người phơi nhiễm với
chất thải y tế nguy hại. Chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, y tá
- Nhóm 2: hộ lý và vệ sinh viên
- Nhóm 3: bệnh nhân và người nhà bệnh nhân

lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [17]
* Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải: Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất
thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn. Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị
sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử ý chất thải.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu



* Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải:
- Dụng cụ thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế
- Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu


vật chất của bệnh viện ngày càng được nâng cao. Các công trình của bệnh viện liên

- Nhóm 1: Lập danh sách nhân viên y tế theo từng khoa, sử dụng phương pháp chọn

tục được cải tạo, xây dựng, nâng cấp. Nhiều năm qua, Bệnh viện luôn là nơi thu hút

mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn đủ số nhân viên y tế (mỗi khoa chọn 1/4 số nhân viên).

số lượng lớn bệnh nhân đến khám chữa bệnh. Bệnh viện đã được Bộ Y tế quyết định

- Nhóm 2: Chọn chủ đích toàn bộ hộ lý bệnh viện và nhân viên của Công ty ICT.

xếp hạng I, tại Quyết định số 1689/QĐ-BYT ngày 11/5/2007. Hiện tại bệnh viện có

- Nhóm 3: Lập danh sách bệnh nhân đã nhập viện từ 2 ngày trở lên, sử dụng

quy mô 700 giường bệnh, thuộc quy mô 3 (trên 550 giường bệnh) [4], [5], [6].

phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn đủ số bệnh nhân (lấy số bệnh

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

nhân chia cho n để xác định khoảng cách chọn).

2.3.1. Phương pháp: Mô tả, thiết kế cắt ngang.

2.4. Chỉ số nghiên cứu

2.3.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

an toàn, vệ sinh lao động trong xử lý, quản lý rác thải y tế cũng như những nguy hại
do chất thải y tế mang lại đối với người tiếp xúc, đồng thời trình độ của các đối
tượng cũng khác nhau nên chúng tôi áp dụng cách tính mẫu chung nhất (mẫu 5%)
theo công thức:

- Thực trạng chất lượng nước thải:
+ Uớc tính lượng nước thải/ngày.
+ Kết quả phân tích chất lượng nước thải.
2.4.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế
- Nhân viên trực tiếp quản lý chất thải y tế là những người hàng ngày thực hiện
công việc thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




- Kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế, vệ sinh viên về quy chế quản lý
chất thải y tế theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế, gồm:
+ Kiến thức về phân loại chất thải y tế theo nhóm, mã màu quy định dụng cụ
chứa chất thải y tế.

loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý). Cụ thể như sau:
- Xác định các tiêu chí chính và phụ để đưa ra thang điểm (lập bảng ma trận để
xác định tiêu chí chính và phụ).
+ Tiêu chí chính cho thang điểm tối đa là 5 điểm.

+ Đạt từ
theo cách: lượng nước sử dụng/ngày = lượng nước thải tối đa/ngày.
* Phân tích mẫu: theo Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam tại Phòng thí nghiệm
Trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




+ Xác định BOD5 theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam TCVN 6001:1995)
1995 (ISO 5815: 1989): Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hóa sau 5
ngày (BOD5) bằng phương pháp cấy và pha loãng.

Mức II: Nước thải bệnh viện đổ vào hệ thống thoát nước thành phố. Trong
trường hợp này, lựa chọn tiêu chuẩn mức II để so sánh.
(*) Giá trị áp dụng theo TCVN 5945-2005, Chất lượng nước – Tiêu chuẩn

+ Xác định tổng phốt pho và PO43-: TCVN 6202: 1996 (ISO 6878-1: 1986),

nước thải, cột B, với Kq = 0,9; Kf = 1,1. Nước thải được đổ vào các vực nước nhận

APHA 4500-P: Chất lượng nước: Xác định phốt pho bằng phương pháp trắc phổ

thải khác (trừ các thủy vực dùng làm nguồn nước sinh hoạt).

dùng amoni molipdat.

2.6. Vật liệu nghiên cứu

+ Xác định tổng nitơ: APHA 4500-N: Xác định tổng nitơ bằng cách oxi hoá

Bảng 2.1. Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm
Thông số

Đơn vị

TCVN 7382:2004
Mức I
Mức II

- Cán bộ phối hợp điều tra là những người phụ trách về công tác quản lý và
trực tiếp liên quan đến quản lý chất thải y tế.
- Tập huấn thống nhất cho các điều tra viên, điều dưỡng trưởng bệnh viện, điều

BOD5

mg/l

20

30

dưỡng trưởng các khoa.

Sunfua (S2- tính theo H2S)
Amoni

mg/l
mg/l

1,0


Tổng phốt pho
Coliform

1000

Ghi chú: TCVN 7382:2004, Chất lượng nước - Nước thải bệnh viện - Tiêu
chuẩn thải: Mức I: Nước thải bệnh viện đổ vào các thủy vực với các mục đích sử dụng

VILAS theo tiêu chuẩn ISO 17025.
2.9. Đạo đức trong nghiên cứu
- Đây là một nghiên cứu hoàn toàn nhằm mục đích bảo vệ môi trường và sức
khoẻ người lao động, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác.
- Đối tượng tự nguyện hoàn toàn trong nghiên cứu và sẵn sàng hợp tác tốt.
- Trong suốt quá trình nghiên cứu không gây ra bất kỳ một hậu quả xấu nào cho các
đối tượng nghiên cứu.

khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- Lấy mẫu và phân tích theo TCVN và các tiêu chuẩn tương ứng, do Trung tâm



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





895,3

1230,3

976,9

Chất thải lây nhiễm

kg/ngày

85

75

90

83,3

Chất thải hoá học

kg/ngày

0,2

0,3

0,3

0,26


kg/ngày

1,2

1,19

1,53

1,3

Lượng CTYTNH/GB

kg/ngày

0,12

0,1

0,12

0,11

%

10,6

8,4

7,33



5

4

Nhận xét
Tất cả các khoa. Nhưng đôi khi, còn
để lẫn bơm kim tiêm với chất thải lây
nhiễm khác hoặc để lẫn chất thải sinh
hoạt với chất thải y tế nguy hại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Vật sắc nhọn được đựng
trong các hộp quy chuẩn

5

Chất thải được đựng trong
các bao bì theo mã màu quy
định

5

16/31 khoa thực hiện; các khoa khác
sử dụng chai nhựa



5

Có buộc miệng nhưng không kín và
túi bị rách, làm chảy nước ra ngoài.

1

Có bảng chỉ dẫn phân loại
chất thải tại nơi đặt thùng
đựng chất thải

3

0

Vệ sinh thùng đựng chất thải
hàng ngày

3

3

Có túi sạch thay thế

3

3

Đổ rác đầy tràn các thùng, xe


Hợp đồng với URENCO

5

3

Đóng bao và chở cùng với

hôi trong quá trình vận chuyển

vận chuyển rác ra đường.

Có hợp đồng vận chuyển rác ra ngoài
với đơn vị có pháp nhân
Chất thải y tế được vận chuyển ra ngoài
bằng xe chuyên dụng

xe chở rác sinh hoạt.

Lưu giữ riêng chất thải y tế

5

4

Thời gian lưu giữ chất thải
Có nhà lạnh lưu giữ chất thải

mùi hôi khó chịu

Đơn vị hợp đồng vận chuyển rác đã
được cấp giấy phép vận chuyển, xử lý
chất thải nguy hại

(*) Tỷ lệ điểm đạt/Tổng điểm quy chuẩn

chất thải thông thường
Tổng điểm

Bệnh viện đã thực hiện việc thu gom, phân loại chất thải theo quy định. Nhưng
chất lượng thực hiện thu gom còn hạn chế, phân loại sai mã màu, thường xuyên
chứa đầy rác trong các thùng, còn để lẫn chất thải thông thường với chất thải y tế
nguy hại. Tỷ lệ điểm đạt/ tổng điểm quy chuẩn đạt mức khá (64,3%).

Nhận xét: Chất thải y tế được vận chuyển, lưu giữ hàng ngày theo quy định.
Nhưng chưa tốt, còn có một số hạn chế như còn để rơi vãi rác và để rò rỉ nước rác ra
đường khi vận chuyển và bốc mùi hôi. Tỷ lệ điểm đạt/tổng điểm quy chuẩn đạt mức
trung bình (51,9%).
Bảng 3.4. Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế

Bảng 3.3. Thực trạng vận chuyển, lƣu giữ chất thải rắn y tế
Nội dung quan sát
Vận chuyển chất thải bằng xe đẩy

51,9% (*)







Không

5

4

5

5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Nhận xét

Hợp đồng với Công ty môi




vận chuyển, xử lý với đơn vị có

trường đô thị

chức năng
Chất thải y tế nguy hại được xử lý


3

5,94 *

PO4

mg/l

0,9

8,2

38,3

6,37

16,3

6,7

6

NO3

mg/l

1,08

0,67


67000

52000

780000

2980000

620000

5000

Coliform MPN/100 ml

đồng chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi
Chất thải tái chế được phân loại, thu

Tổng P

Các chai, lọ nhựa, thủy tinh
không dính các chất nguy hại

23

95,7% (*)

22

Nhận xét:

Đợt 5

Đợt 6

(12/2008)

(2/2009)

(4/2009)

(6/2009)

Đơn vị
Chỉ tiêu

3.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế
BAN
GIÁM ĐỐC

TCVN
(8/2008) (10/2008)

BOD5

mg/l

67

96


mg/l

321

61,35

135,91

146,17

160,91

185,93

29,7*
Phòng Hành chính
quản trị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Khoa chống nhiễm
khuẩn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Phòng chỉ đạo
tuyến



Công nhân vận hành xử lý
nƣớc thải

18.2

20

Hộ lý các khoa

Nhân viên
Hộ lý các Nhân viên xử
công ty ICT khoa / phòng lý nước thải

Chung

Nhân lực
được tập huấn

Biểu đồ 3.1. Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện
Nhận xét:
- Nhân lực trực tiếp quản lý CTYT tại bệnh viện gồm: nhân viên Công ty ICT,
hộ lý, công nhân xử lý nước thải.

Quản lý trực tiếp

- Tính trung bình 7,7 giường bệnh có 1 vệ sinh viên.

Quản lý gián tiếp


%

Nhân viên Công ty ICT

22

4

18,2

Hộ lý các khoa/phòng

66

54

81,8

Nhân viên xử lý nước thải
Chung

3 (3,3%)

quy chế quản lý chất thải y tế

3

3

100,0


91

61

67,0

292

225

77,1

p



20

2.5

20
0

0

Nhân viên y tế
(nhóm 1)

Vệ sinh viên
(nhóm 2 )

Không biết

12.1

1.1

Biết dưới < = 4
nhóm

Người biết đúng 5
nhóm

Chung


Hiểu biết

phỏng vấn

Nhóm 2

n = 201

n = 91

n = 292
n

Không biết

Số ngƣời
Nhóm 1

%

n

%

n

Hiểu biết
%

247


28

13,9

11

12,1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Không biết và biết
không đúng
Biết ≤ 3 màu

phỏng vấn
(n = 292)

Nhóm 1

Nhóm 2

(n = 201)

(n = 91)

n


1

1,1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Biết đúng 4 màu

239

81,8

164

81,6

75

82,4

p1,2>0,05

p>0,05

Tỷ lệ (%)

Ghi chú: (1), (2) được dùng để ký hiệu p cho các nhóm đối tượng cần so sánh.


15.4 16.5

20

Người không biết và
biết không đúng

12.1

1.1

1.0 2.5

0

0

3.0
0

86.8

84.6

Nhóm 1

1.1

Người biết < = 3

nhóm 2 (82,4 %), p>0,05.

Số người có kiến thức hiểu biết tốt ở nhóm 1 (11,9%), thấp hơn ở nhóm 2
(12,1%). Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p1,2>0,05.
Bảng 3.11. Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế

Bảng 3.10. Hiểu biết về phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế và
vệ sinh viên theo nhóm chất thải và theo mã màu

Nhóm

Hiểu biết tốt (1)

Số ngƣời
phỏng vấn
(n = 292)
n
%
35
12

n
24

%
11,9

n
11



0

Nhắc nhở bệnh nhân bỏ rác

249

85,3

170

84,6

79

86,8

Hiểu biết

Hiểu biết kém (2)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Nhóm 1
(n = 201)

Nhóm 2
(n = 201)




201

100

91

100

292

100

200

99,5

91

100

291

99,7

199

99,0

87

1

1,1

0

0

1

100

- 100% số người ở cả 2 nhóm quan tâm tới thực hành phân loại tại chỗ.

Hiểu biết Trung bình

0

0

0

0

0

0

- 99,5% số người ở nhóm 1 và 100% số người ở nhóm 2 thực hành phân loại


- Số người được học tập ở nhóm 1 có kiến thức hiểu biết kém (80,6%), cao
hơn ở nhóm 2 (63,3%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p 2,40,05.
- Số người được học tập ở nhóm 2 có kiến thức tốt (100%), cao hơn số người
được học tập có kiến thức kém (63,3%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p3,4
100

0

0

Người hiểu biết trung bình

Hiểu biết Trung bình

5

2,5

4

80

1

20

Người hiểu biết kém

170

84,6

137


24

11,9

24

100

0

0

Người hiểu biết khá

2

1,0

2

100

0

0

5

2,5


12,0

11

100

0

0

Nhóm 2 (n = 91)
Người hiểu biết tốt



Số ngƣời
phỏng vấn
n
%

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Người hiểu biết khá

1

1,1

86,8

79

100

0

0

với tỷ lệ cao nhất ở cả 2 nhóm:
+ Về tác hại truyền bệnh của CTYT: Nhóm 1 có 93% số người biết; nhóm 2 có

Nhận xét:
- 100% số vệ sinh viên và 99,5% số nhân viên y tế thực hành phân loại chất
thải y tế tại chỗ.

97,8% số người. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.
+ Về tác hại gây chấn thương do CTYT sắc nhọn: Nhóm 1 có 87,6%; nhóm 2
có 89%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.

- 100% số người có kiến thức hiểu biết tốt ở cả 2 nhóm đều thực hành phân
loại. Chỉ có 1 người ở nhóm 1 (hiểu biết kém) không thực hành.

- Về tác hại phát sinh côn trùng trung gian truyền bệnh cũng được biết đến với tỷ
lệ 76,6% (nhóm 1); 82,4 % (nhóm 2). Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.
- Số không biết chiếm tỷ lệ thấp nhất ở cả 2 nhóm: 2,0% (nhóm 1); 3,3 % (nhóm 2).
- Số người biết cả 5 tác hại chiếm 31,8% (nhóm 1); 48,4% (nhóm 2). Sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê, p
%

Truyền bệnh

276

94,5

187

93,0

89

97,8

Gây ung thư

129

44,2

76

37,8

53

Chấn thương



n = 201

n = 91

p

n

%

n

%

n

%

Bệnh nhân

175

59,9

111

55,2

64


77,7

158

78,6

69

75,8

81

89,0

>0,05

p>0,05

Hộ lý

260

89

171

85,1

89


158

78,6

69

75,8

p>0,05

Cả 6 đối tượng

134

45,9

85

42,3

49

53,8

p>0,05

4

1,4


64

31,8

44

48,4

0,05

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Hiểu biết

100

Không

80

+ Nhóm 1 có 92,5% số người biết Người thu gom, vận chuyển rác là đối tượng



60

dễ bị ảnh hưởng bởi CTYT; ở nhóm 2 có 96,7%. Sự khác biệt giữa 2 nhóm không

97.4

97.5

40

có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

92.5

98.9

71.4

61.5


nghiên cứu

Quan tâm đến
thực hiện nội quy

chiếm tỷ lệ thấp nhất: nhóm 1 (42,3%); nhóm 2 (53,8%). Sự khác biệt giữa 2 nhóm
không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.

Biểu đồ 3.6. Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân

- Có rất ít số người không biết về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi chất thải y
tế (2,0% - ở nhóm 1).

với thực hành bỏ rác đúng quy định

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân được hướng dẫn nội quy vệ sinh bệnh viện có
thực hành bỏ rác đúng nơi qui định là 97,4%. Tỷ lệ này ở bệnh nhân không được

Bảng 3.16. Liên quan giữa kiến thức, thái độ

hướng dẫn là 71,4% (p
2,6

quy vệ sinh bệnh viện

Không

7

5

71,4

2

28,6



162

158

97,5

4

2,5

Không



8

61,5

5

38,5

p

tâm đến nội qui bệnh viện là 61,5% (p
77,0

292

60

20,5

232

79,5

p

>0,05

Chung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status