Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP.........................................1
1.Lịch sử hình thành và phát triển xã đông cơ................................................................................1
2.Cơ cấu tổ chức của UBND xã Đông Cơ.........................................................................................3
3.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn................................................................................................3
PHẦN II:QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH............................................7
CHƯƠNG I:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ HỘ TỊCH..........................................................................................7
I/ Hộ tịch.........................................................................................................................................7
1.Quan niệm về hộ tịch...................................................................................................................7
2. Đặc điểm của hộ tịch..................................................................................................................7
II/Quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch.....................................................................................8
1. Quản lý hành chính nhà nước.....................................................................................................8
2. Quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch và đăng ký hộ tịch.......................................................8
3. Nguyên tắc đăng ký và quản lý hộ tịch........................................................................................9
4. Vai trò quản lý hành chính nhà nước và đăng ký hộ tịch...........................................................10
III/ Nội dung quản lý nhà nước và đăng ký hộ tịch........................................................................12
1.Nội dung quản lý của nhà nước đối với hộ tịch.........................................................................12
2. Nội dung quản lý và đăng ký hộ tịch.........................................................................................13
2.1 Đăng ký khai sinh và khai sinh quá hạn...................................................................................13
2.2 Đăng ký khai tử và khai tử quá hạn.........................................................................................16
2.3 Đăng ký kết hôn......................................................................................................................18
2.4 Đăng ký nuôi con nuôi............................................................................................................21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH XÃ
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1.Lịch sử hình thành và phát triển xã đông cơ
Ngày 21-3-1890 toàn quyền Đông Dương Giuynlơ – Bíchkê ký quyết
định chính thức thành lập tỉnh Thái Bình. Lúc đầu đất Thái Bình gồm đất của
phủ Kiến Xương và phủ Thái Bình thuộc tỉnh Nam Định và huyện Thần Khê
của phủ Tiên Hưng thuộc tỉnh Hưng Yên. Đến năm 1894 chúng lại cắt tiếp 2
huyện Duyên Hà và Hưng Nhân của phủ Tiên Hưng về Thái Bình. Khi địa giới
Thái Bình ổn định có 12 huyện, 96 tổng, 802 làng, xã , số đinh là 161.927 người,
ruộng đất 365.787 mẫu. Lúc này các làng của xã Đông Cơ tách khỏi địa hạt tỉnh
Nam Định chuyển sang đơn vị hành chính mới – tỉnh Thái Bình.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, 4 làng: Đức Cơ, Trinh Cát, Cam
Lai và Lương Điền mỗi đơn vị là một xã.
Tháng 4-1946, 4 thôn thuộc 2 xã: thôn Đức Cơ thuộc xã Phùng Hưng,
thôn Cam Lai,Trinh Cát, Lương Điền thuộc xã Lý Bôn.
Tháng 7-1947, 4 thôn sáp nhập lập xã mới: xã Phùng Hưng.
Tháng 8-1949, 4 thôn lại chia đôi về 2 xã: xã Ngọc Thụ gồm 2 thôn:
Lương Điền, Trinh Cát; xã Phùng Hưng gồm 2 thôn: Đức Cơ và Cam Lai.
Cuối năm 1955 – Thời kỳ đấu tranh thực hiện giảm tô, giảm tức lại tách
ra, nhập lại, thành lập xã mới – xã Đông Cơ gồm 4 thôn: Đức Cơ, Cam Lai,
Trinh Cát và Lương Điền; đơn vị hành chính này ổn định cho đến nay.
Xã Đông Cơ nằm ở khu đông của Tiền Hải, phía Tây Giáp xã Tây Sơn,
phía đông giáp biển, phía Bắc giáp xã Đông Phong, phía nam giáp xã Đông
Lâm, ngăn cách bằng con đường 39B, chạy thẳng từ huyện lỵ Tiền Hải ra biển.
Theo tổng điều tra năm 1989, dân số Đông Cơ có 5.450 người (trong độ
tuổi lao động là 2.300 người );diện tích tự nhiên có 7.320 ha; diện tích canh tác
có 5.300 ha. Qua nhiều lần điều chỉnh, diện tích canh tác của Đông Cơ hiện có
1.687 mẫu, bình quân nhân khẩu khoảng 3sào Bắc Bộ.
lấy một từ tổ trong tên làng cựu mà đặt cho làng mới: dân cư từ Minh Giám
xuống lập làng mới Đức Minh, sau đổi là Đức Cơ, làng Bồng Lai, Thái Lai lập
làng mới lấy tên là Cam Lai; làng Bổng Điền lập làng mới là Lương Điền.Ngoài
bộ phận dân cư chủ yếu từ các làng cựu tách ra, các làng ấp mới thành lập luôn
mở rộng cửa đón tiếp dân nghèo ở những nơi khác vì những lý do khác nhau
phải bỏ quê hương phiêu tán đến đây cùng khẩn hoang. Nhiều dân cư nghèo khổ
từ Nam Định, Trà Lũ đến mua suất đất sinh cơ lập nghiệp. Ngoài ra còn có
nhiều người ở nơi khác bị bọn địa chủ, cường hào bóc lột phải bỏ làng ra đi tha
phương cầu thực.Có người trước kia là mưu sĩ, là nghĩa quân của cuộc khởi
nghĩa Phan Bá Vành cũng đến đây thay tên, đổi họ để yên phận làm ăn.Nhân
dân các làng đã phải lien tiếp đương đầu với biết bao trận bão to, gió lớn, những
trận đê vỡ lũ lụt. Rồi những trận hạn hán kéo dài, người không có nước ăn, trâu
chẳng có nước uống, cây lúa héo hắt, đất bạc phếch như vôi vì nhiễm mặn, mùa
màng thất thu, cuộc sống của nhân dân cực nhọc. Sự đấu tranh để sinh tồn ấy đã
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
2
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
rền luyện cho nhân dân địa phương đức tính cần cù, chịu đựng khó khan gian
khổ. Đặc biệt là sự đoàn kết đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, ý chí dung cảm trog lao
động sản xuất, trong đấu tranh chống thiên tai ấy được truyền lại cho con cháu
đời này qua đời khác.
2.Cơ cấu tổ chức của UBND xã Đông Cơ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Nhiệm vụ quyền hạn: Là người đứng đầu điều hành lãnh đạo công việc
của UBND xã.
Chịu trách nhiệm chỉ đạo và quản lý chung hoạt động của UBND và các
thành viên UBND xã. Chịu trách nhiệm về hoạt động an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, kinh tế xã hội trong phạm vi toàn phường.
Chịu trách nhiệm chính trước UBND huyện Tiền Hải, HĐND xã và chịu
trách nhiệm chính trị trước Đảng ủy xã.
Chịu trách nhiệm triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND đến các
thành viên UBND và phối hợp các tổ chức đoàn thể tổ chức thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - chính trị - văn hoá xã hội tại địa phương.
Có quyền đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật
cán bộ, công chức nhà nước theo phân cấp mình quản lý. Phối hợp với chủ tịch,
phó chủ tịch HĐND xã hoạt động theo Luật tổ chức HĐND và UBND.
Trực tiếp phụ trách các mặt công tác: nội chính, quản lý công tác quy
hoạch đô thị, tư pháp hộ tịch, Chủ tịch hội đồng NVQS xã, Trưởng ban chỉ đạo
PCCC, thuế.
*Nhiệm vụ, quyền hạn Phó chủ tịch UBND xã
Nhiệm vụ và quyền hạn: Là cấp phó của chủ tịch UBND xã, thay thế chủ
tịch khi đi vắng. Điều hành toàn bộ hoạt động của UBND theo nhiệm vụ được
uỷ quyền, trong phạm vi trách nhiệm quyền hạn được giao.
Trực tiếp phụ trách công tác quản lý nhà nước về: Kinh tế, xây dựng công
trình cơ sở hạ tầng, vệ sinh môi trường, quản lý tổ trật tự đô thị, nhà đất, phòng
chống lụt bão.
Trưởng ban chỉ đạo an toàn giao thông và trật tự đô thị.
*Nhiệm vụ, quyền hạn của chỉ huy quân sự
Trực tiếp chỉ huy lực lượng dân quân, chịu trách nhiệm chính trong quản
lý, huấn luyện lực lượng dân quân, bảo đảm phối hợp với công an trong giữ gìn
An ninh trật tự tại địa phương. Nắm và quản lý tốt quân dự bị 1, xây dựng lực
lượng dân quân mạnh. Bảo đảm công tác tuyển quân hàng năm đúng Luật, hoàn
thành chỉ tiêu trên giao.
Tham mưu giúp cho chủ tịch UBND, chủ tịch hội đồng Nghĩa vụ quân sự
xã về công tác quân sự địa phương. Xây dựng và huấn luyện lực lượng dân quân
tự vệ, quân dự bị, tuyển sinh quân sự, tuyển quân hàng năm. Quản lý chắc thanh
niên trong độ tuổi Nghĩa vụ quân sự. Công khai dân chủ trong thực hiện Luật
Nghĩa vụ quân sự trên địa bàn để dân biết và thực hiện.
*Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ Tư pháp – Hộ tịch.
- Thường xuyên kiểm tra và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thời các sự
kiện hộ tịch.
- Cán bộ Tư pháp hộ tịch phải chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân
cấp xã về những sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn mà
không được đăng ký.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
5
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định của Bộ Tư
pháp;
tính; xác định lại dân tộc;
+ Ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch;
ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.
2. Đặc điểm của hộ tịch
Từ quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm chủ
yếu sau:
-Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con
người, bởi vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết. Các dấu
hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân
biệt từng cá nhân con người. Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con
người cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết.
-Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho
người khác. Đặc điểm này là hệ quả của của đặc điểm thứ nhất. Do đó, việc thực
hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác (như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai
sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử).
-Thứ ba, hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lượng hoá được thành
tiền.Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên
thị trường.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
7
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
8
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
nơi cư trú, thì thẩm quyền đăng ký hộ tịch được xác định như sau:
-Đối với công dân Việt Nam ở trong nước, thì việc đăng ký hộ tịch được
thực hiện tại nơi người đó đăng ký hộ khẩu thường trú; nếu không có nơi đăng
ký hộ khẩu thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó
đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật và đăng ký hộ khẩu.
-Đối với ,người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thì việc đăng ký hộ tịch
được thực hiện tại nơi người đó dăng ký thương trú; nếu không có nơi đăng ks
thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm
trú.
3. Nguyên tắc đăng ký và quản lý hộ tịch
- Từ nay mọi việc thuộc về thủ tục đăng ký hộ tịch đề do Uỷ ban hành
chính các cấp phụ trách.
- Việc đăng ký hộ tịch thuộc quyền hạn và nhiệm vụ của các Ủy ban hành
chính cấp cơ sở tức là Uỷ ban hành chính cấp xã, thị xã, thị trấn, khu phố.
- Mọi việc sinh, tử, kế hôn đều phải khai xin đăng ký với Ủy ban hành
chính sở tại có xuất mtrinhf các chứng cớ cần thiết và không được để lâu quá
thời gian tói đa quy định. Áp dụng cho từng loại việc hộ tịch nguyên tắc này cần
được giải thích thêm và cụ thể hóa trong trường hợp sau:
+ Đăng ký việc sinh: Nếu nơi đứa trẻ mới sinh ra khác với nơi hiện cư trú
thích đáng.
+ Đăng ký kết hôn: Muốn xin đăng ký việc kết hôn thì một hoặc hai bên
nam nữ phải đế báo cho Ủy ban biết sáu ngày trước ngày định xin đăng ký. Mục
đích của việc báo trước này là để cho Ủy ban hành chính có đủ thì giờ điều tra,
nhận xét trước khi tuyên bố cho hai bên nam nữ chính thức thành vợ chồng
trước pháp luật. Ngoài hình thức yết thị, Ủy ban có thể dung mọi phương tiện
công bố hay điều tra khác; nếu có điều gì trở ngại hoặc có người phản kháng thì
việc điều tra càng thận trọng nhưng không được cố ý kéo dài. Giải quyết các
việc trở ngại hay phản kháng nào, phaior báo cho hai bên nam nữ và các người
phản kháng biết; nếu họ không đồng ý thì phải báo cáo lên Ủy ban hành chính
cấp trên trực tiếp quyết định. Gặp trường hợp hai bên nam nữ yêu cầu cấp bách
và có lý do chính đáng, nếu Ủy ban hành chính xét không có gì nghi ngại thì
thời hạn 8 ngày có thể rút ngắn.
4. Vai trò quản lý hành chính nhà nước và đăng ký hộ tịch
Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân
của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa
Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của công tác đăng ký và quản
lý hộ tịch mà trong 7 năm qua từ khi thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày
27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, trên địa bàn Thành
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
10
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân về vấn đề này (Sở Tư pháp, Phòng
Tư pháp)
- Công chức trực tiếp làm công tác hộ tịch.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
11
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Ở cấp xã, chủ thể thực hiện việc đăng ký hộ tịch có:
- Công chức Tư pháp- hộ tịch là công chức cấp xã giúp Ủy ban nhân dân
cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch. Đối
với những xã, phường, thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch
nhiều, thì phải có công chức chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm
nhiệm các công tác tư pháp khác.
Công chức tư pháp- hộ tịch phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ công
chức cấp xã theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và phải có thêm
các tiêu chuẩn sau đây:
+ Có bằng tốt nghiệp trung cấp luật trở lên
+ Được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch
+ Chữ viết rõ ràng
Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật đối với công
chức tư pháp-hộ tịch được thực hiện theo quy định chung của pháp luật đối với
công chức xã.
- Chủ tịch UBND cấp xã (hoặc Phó chủ tịch được phân công) cấp xã thực
- Thống kê nhà nước về hộ tịch;
- Tổng kết hoạt động hộ tịch; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt
động hộ tịch.
2. Nội dung quản lý và đăng ký hộ tịch
2.1 Đăng ký khai sinh và khai sinh quá hạn
*Đăng ký khai sinh
Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước
trong lĩnh vực đăng đăng ký hộ tịch. Thông qua việc đăng ký khai sinh đã giúp
cho nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó đề ra các
chính sách phát triển kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước cũng như từng địa
phương.
-Thẩm quyền đăng ký khai sinh:
Ủy ban nhân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện
đăng ký khai sinh.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người cha thì Ủy ban
nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký
khai sinh.
Việc đăng ký khai sinh cho ,trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ
sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng tre;r em đó.
-Thời hạn đi khai sinh:
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi
khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những
người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
-Thủ tục đăng ký khai sinh:
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
13
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
2015
Số người
166
160
214
194
169
51
đăng ký
khai sinh
-Thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn
Người đi đăng ký khai sinh quá hạn phải nộp các giấy tờ theo quy định
như trường hợp đăng ký khai sinh lần đầu tiên.
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký
khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và
cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy khai sinh. Trong cột ghi chú của
Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “Đăng ký quá hạn” Trường hợp cần phải xác
minh, thì thời hạn xác minh không quá 5 ngày.
Khi đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân
như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch
cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ, giấy tờ đó đă có sự thống nhất về
họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng
ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh;
dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó
không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong
trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa
danh hiện tại.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
15
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
• Theo số liệu của UBND xã Đông Cơ
lại
Nhận xét: Theo số liệu trên cho thấy số trường hợp đi khai sinh lại cũng
khá nhiều, người đi khai sinh lại càng ngày càng tăng.Người dân chưa ý thức
được việc cần phải tuân thủ pháp luật.Do đó những cán bộ công chức xã cần
phải phổ biến cho người dân hiểu biết hơn về pháp luật để đảm bảo quyền lợi
cho trẻ em khi được sinh ra.
2.2 Đăng ký khai tử và khai tử quá hạn
*Đăng ký khai tử:
Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của nhà nước ta về
đăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số. Đăng ký khai tử là
việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và
ghi vào Sổ đăng ký khai tử. Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối
với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người
chết.
-Thẩm quyền đăng ký khai tử
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện
việc đăng ký khai tử.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người
chết, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng kýkhai
tử.
-Thời hạn đi khai tử
Khi có người chết tại nhà hoặc khi nhận được giấy báo tử ,người thân
thích của người chết phải đi khai tử.Nếu người chết không có người thân
thích,thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị,tổ chức nơi
người đó chết đi khai tử.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
16
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Trẻ em sinh ra mà sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì vừa phải đăng
ký khai sinh, vừa đăng ký khai tử, nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết
ngay thì không phải đăng ký khai tử.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
17
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
• Theo số liệu của UBND xã Đông Cơ
Năm
2010
2011
2012
2013
2014
2015
Nếu người chết chưa có Giấy chứng tử thì thân nhân của họ có thể tiến
hành thủ tục đăng ký khai tử quá hạn để được cấp Giấy chứng tử.
Người đi đăng ký khai tử quá hạn phải nộp các giấy tờ theo quy định.
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng
ký khai tử và bản chính Giấy chứng tử. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và
cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy chứng tử. Trong cột ghi chú của
Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ “Đăng ký quá hạn” Trường hợp cần phải xác
minh, thh thời hạn xác minh không quá 5 ngày.
• Theo số liệu của UBND xã Đông Cơ thì không có trường hợp nào đi
đăng ký khai tử quá hạn.
2.3 Đăng ký kết hôn
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
18
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Kết hôn chính là hai người khác giới lấy nhau vì yêu thương và sau đó họ
đi đăng ký kết hôn.
Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình của mỗi con người. Từ đó phát sinh ra những quan hệ pháp lý giữa
vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu.
Trước đây quan hệ hôn nhân hầu hết chỉ xuất hiện trong phạm vi của một
quốc gia nhưng vài năm trở lại đây với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ mối quan
hệ hôn nhân không chỉ phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc qia mà còn có cả
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú ở
khu vực biên giới với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới
với công dân Việt Nam.
-Thủ tục đăng ký kết hôn
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy
định) và xuất tŕnh Giấy chứng minh nhân dân.
Trong trường hợp một người cư trú tại xă, phường, thị trấn này, nhưng
đăng ký kết hôn tại xã phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Uỷ ban
nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.
Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước
ngoài về nước đăng ký kết hôn, thh phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao,
Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.
Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ
trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào
Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy
định tại chương V của Nghị định 158/2005/NĐ-CP.
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai
bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong
trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không
quá 5 ngày.
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Uỷ ban nhân
dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng
ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng
nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký
kết hôn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một
57
70
47
61
63
17
đăng ký
kết hôn
Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy số vụ kết hôn có chiều
hướng gia tăng.Số độ tuổi đăng ký kết hôn vào khoảng 25 tuổi ( chiếm 70%).Ở
các khu vực nông thôn thường kết hôn sớm hơn so với khu vực thành thị.
2.4 Đăng ký nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi là một việc làm nhân đạo mang tính xă hội cao, mục đích
của việc đăng ký nhận nuôi con nuôi là nhằm đem lại lợi ích tốt nhất, tìm mái
ấm gia đình cho trẻ em khi trẻ em đó không nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng
từ cha mẹ, họ hàng hay người thân thích. Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó thnh
cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm
quyền được chăm sóc, nuôi dạy cho người con nuôi chưa thành niên. Việc nuôi
con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đă được đăng ký lại tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
-Thẩm quyền nuôi con nuôi
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận con nuôi thực hiện
đăng ký việc nuôi con nuôi.
cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc
hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo,
chiếm đoạt trẻ em.
Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của
chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì
không áp dụng quy định “Hơn con nuôi 20 tuổi trở lên” và “Có điều kiện về sức
khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”.
• Người được nhận làm con nuôi:
Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định người được nhận làm con nuôi như
sau:
- Trẻ em dưới 16 tuổi
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây: Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; Được cô, cậu, dì, chú,
bác ruột nhận làm con nuôi.
- Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả
hai người là vợ chồng.
- Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
• Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm:
- Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định).
- Bản sao Hộ chiếu, Giấy CMND hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
22
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trường hợp trẻ em có cha đẻ, mẹ đẻ bị mất năng lực hành vi dân sự;
+ Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.
Sinh viên: Trần Thị Thanh Thủy
23
Lớp: CĐ Dịch vụ Pháp lý 12A