luận văn quản lý nhà nước Thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
BỘ MÔN QUẢNG CÁO
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Cục
Sở hữu trí tuệ Việt Nam ( National Office of Industrial Property of
Vietnam )
Họ và tên sinh viên: Phan Văn Hùng
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Lưu Văn Nghiêm
HÀ NỘI, NĂM 2008
1
Lời mở đầu
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế
giới WTO được một năm nhưng tình trạng vi phạm về SHTT lại diễn biến
ngày càng phức tạp, ý thức người dân chưa có chuyển biến rõ rệt… gây lo
lắng cho không chỉ các doanh nghiệp, các tổ chức trong nước mà còn làm
mất uy tín, lòng tin đối với các tổ chức và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Và các doanh nghiệp quảng cáo cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của
những bất cập đó. Đợt thực tập chuyên đề tốt nghiệp tại cục SHTT trong giai
đoạn đầu là cơ hội để tôi tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý
nhà nước về SHTT , giúp ích rất nhiều khi ra trường và đi làm trong lĩnh vực
quảng cáo của mình. Và cũng là cơ hội để tôi trau rồi, học hỏi kỹ năng quản
lý thông tin, sử dụng phương tiện công nghệ và đức tính cần, kiệm, liêm,
chính của các cán bộ đang công tác tại Cục Sở hữu trí tuệ.
2
I/ Khái quát quá trình hình thành và phát triển của cục sở hữu trí tuệ Việt
Nam
Ngày 29.07.1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị
định số 125/HĐBT về sửa đổi tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật
Nhà nước (sau này là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) trong đó có quy
định rằng một trong các tổ chức thuộc bộ máy của Ủy ban này là Cục sáng chế với

quan đến thương mai (TRIPS) thì giá trị hàng hoá và dịch vụ tham gia trong
thương mại quốc tế ngày càng thể hiện sự kết tinh của yếu tố công nghệ và tính
sáng tạo trong hàng hoá dịch vụ đó, hay nói cách khác hàng hoá và dịch vụ cũng
bao hàm trao đổi sự sáng tạo của trí tuệ con người, tức là “sở hữu trí tuệ” kết tinh
trong hàng hoá dịch vụ đó. Và sở hữu trí tuệ được định nghĩa trong điều 1.2 của
hiệp định bao gồm : Bản quyền và các quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hoá; chỉ
dẫn địa lý; kiểu dáng công nghiệp; patent; thiết kế bố trí mạch tích hợp; thông tin
bí mật;
2- Luật sở hữu trí tuệ do quốc hội khóa X sửa đổi, bổ sung từ hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Đây là bộ luật quan trọng nhất, cơ bản nhất và cụ thể nhất làm căn cứ pháp lý
cho các hoạt động quản lý của cục sở hữu trí tuệ. Các điều luật trong bộ luật tương
đối đầy đủ và sát thực tế, phù hợp với tình hình và nhu cầu được bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ của các tổ chức và người dân. Tuy nhiên do khuôn khổ của chuyên đề
nên tôi chỉ có thể quan tâm đến những điều luật quan trọng và chủ yếu của bộ luật
này giúp ích cho quá trình nghiên cứu hoạt động quản lý của cục sở hữu trí tuệ.
Một số vấn đề quan trọng:
2.1- Căn cứ xác lập quyền sở hữu trí tuệ
Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện
dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình
thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa
đăng ký.
Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được
định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng
bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại

học;
+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
+ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
5
Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu
không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác
phẩm phái sinh.
Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác
giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác
phẩm của người khác.
Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1
Điều này.
2.3. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Điều 198. Quyền tự bảo vệ
Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ của mình:
- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ;
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải
chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan;
- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc
phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng
hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.

- Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù đã được chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí
tuệ theo quy định tại
Điều 212. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự
Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành
tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
3/ Một số văn bản pháp luật, pháp chế khác ( tham khảo tại trang web”
http://www.wincolaw.com.vn/vn/overview_vn.html”)
3.1 Công ước stockholm về thành lập Tổ chức trí tuệ Thế giới-WIPO.
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, tiếng Anh viết tắt là WIPO, được thành lập
trên cơ sở Công ước ký tại Stockholm này 14.07.1967 gọi là Công ước về việc
7
thành lập "Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới". Đây là một tổ chức liên chính phủ có
trụ sở tại Geneve, Thụy Sỹ và là một trong 16 Tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp
Quốc. WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm
vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định,
hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý sở hữu trí
tuệ. Tính đến ngày 22.06.1999 số nước thành viên của WIPO là 171. Việt Nam là
thành viên của WIPO từ ngày 02.07.1976
3.2. điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá đi kèm với Nghị định số 197/HĐBT
(14.12.1982): Điều lệ này ban hành nhằm bảo hộ pháp lý các nhãn hiệu hàng hoá,
bảo vệ quyền lợi chính dáng của người tiêu dùng và của các cơ sở sản xuất, kinh
doanh
Để thống nhất quản lý nhãn hiệu hàng hoá trong phạm vi cả nước, thúc đẩy các
cơ sở sản xuất, kinh doanh bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm hàng hoá, góp phần quản lý việc lưu thông hàng hoá trên thị trường trong và
ngoài nước, chống làm hàng giả và kinh doanh trái phép.
3.3. Thoả ước madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá (1891-1979).
Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký

của các chuyên gia máy tính. Kết quả là Ấn Độ đã có ngành công nghiệp công
nghệ cao sản xuất những phần mềm tiên tiến nhất thế giới và sử dụng hàng ngàn
nhân công mà lẽ ra đã rời Ấn Độ để sang những nước giàu có hơn.
Trong khi đó Việt Nam lại là một trong những quốc gia có tỉ lệ vi phạm quyền
sở hữu trí tuệ cao nhất thế giới. Việt Nam đứng trên top 5 thế giới về tỉ lệ phần
mềm lậu (88%), phim ảnh và âm nhạc là 90% ( theo bài viết : tản mạn về sở hữu
trí tuệ lậu: http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/.) Tình trạng xâm phạm quyền
SHTT đang ngày càng nghiêm trọng và phổ biến. Các vụ vi phạm, tái vi phạm về
sản xuất, kinh doanh nhãn hiệu, kiểu dáng, xuất xứ và bản quyền doanh nghiệp
dường như không giảm. Thậm chí tái phạm với quy mô và mức độ nặng hơn.
Về phía doanh nghiệp vẫn còn thờ ơ với việc bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.
Khi cơ quan quản lý thị trường, cơ quan công an phát hiện có sự vi phạm về quyền
SHTT, báo cho chủ thể quyền nhưng không nhận được sự hợp tác của họ với lý do
rất đơn giản là ngại tốn kém hoặc ngại ảnh hưởng đến uy tín và kết quả là nhiều
doanh nghiệp đã phải trả giá cho vấn đề này (Nhận định của cục trưởng ông Trần
Việt Hùng http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Baoho-
ThuongHieu/Thuc_thi_quyen_So_huu_tri_tue_-
Che_tai_lam_kho_doanh_nghiep/).
Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa ý thức được và thấy hết ý nghĩa của việc
tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể khác và của chính mình. Chính vì
thế mà so với các đơn đăng kí quyền bảo hộ của Việt Nam chỉ chủ yếu hướng vào
9
nhãn hiệu trong khi các doanh nghiệp nước ngoài họ đăng kí cả phát minh sáng
chế, chỉ dẫn địa lý hay kiểu dáng công nghiệp một cách đầy đủ và chi tiết. Theo
thống kê của cục sở hữu trí tuệ thì số lượng đăng kí phát minh sang chế của Việt
Nam chỉ chiếm 8% trên tổng số so với 92% của các doanh nghiệp nước ngoài.”
http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Baoho-
ThuongHieu/Bao_ho_quyen_SHTT-Con_nhieu_lo_hong/”.
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và tỉ lệ người lao động làm
trong ngành vẫn chiếm đa số. Mặc dù vậy tỉ lệ đăng kí bảo hộ giống cây trồng là

như vậy. Và như vậy cũng có thể liên hệ tới sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Từ
người đi mua và tiêu dùng sản phẩm đến người cung cấp sản phẩm thì ý thức về
10
hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ là rất kém, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ
thông tin. Ngay cả đến các doanh nghiệp có quy mô lớn đôi khi lại lợi dụng sự
mập mờ và lách luật để kinh doanh những sản phẩm vi phạm về quyền sở hữu trí
tuệ chẳng hạn công ty Cát tường cố ý lấy tên một sản phẩm đã được một nước ở
trung đông đăng kí làm một phần tên cho sản phẩm của mình hay các doanh
nghiệp Việt Nam đa số vẫn sử dụng các phần mềm không có bản quyền mà ước
tính có vụ lên tới cả tỉ đồng. Hay chính cái tâm lý mọi người như vậy ta cũng vậy
làm cho vấn nạn này càng khó giải quyết. Người dân Việt ta đúng là chưa có thói
quen trả giá cho những sản phẩm trí tuệ và sản phẩm vô hình như các quốc gia
khác.
Thứ hai là khía cạnh về kinh tế. Cũng có thể chúng ta viện vào lý do này để
biện minh cho hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng trên khía cạnh thực tế
nếu GDP và đời sống của người dân Việt Nam đủ cao để người dân coi trọng việc
sử dụng các sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì tỉ lệ vi phạm chắc chắn
sẽ không cao như bây giờ. Việc mức thu nhập bình quân quá thấp sẽ ảnh hưởng rất
nhiều đến hiệu quả của các chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Để mua một
phần mềm có bản quyền cài đặt window Xp chúng ta phải trả cả trăm đôla Mỹ
trong khi nó lại là một khoản tiền lớn đối với hầu hết mọi người vì thu nhập bình
quân của người Việt Nam chỉ khoảng 835 USD/ năm và vẫn chưa thoát ra khỏi
nước có thu nhập thấp. Trong khi đó chỉ với 7000/đĩa là chúng ta đã có một đĩa cài
đặt đầy đủ các chức năng cần thiết cho công việc. Với tính kinh tế như vậy thì các
chính sách của Nhà nước nếu thẳng tay thì cũng chưa chắc mang lại hiệu quả cao
và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội.Chẳng hạn trong lĩnh vực
phần mềm, Việt Nam đang rất cần phổ cập tin học nếu áp giá có bản quyền thì các
trường học phải bỏ ra hàng trăm triệu đồng chỉ riêng cài đặt phần mềm có bản
quyền trong khi ngân sách chi cho giáo dục lại quá hạn hẹp. Như thế các em sẽ
còn lâu mới biết đến ngài Billgate, internet, blog…

công nghiệp, hoàn thành Dự thảo Nghị định về Sáng kiến trình Lãnh đạo Bộ, góp
ý xây dựng các dự thảo Thông tư liên tịch với Toà án về bảo vệ quyền SHTT( do
Toà án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với viện kiểm soát nhân dân tối cao)
hướng dẫn áp dựng một sô quy định của Luật sở hữu trí tuệ trong việc giải quết
các tranh chấp về quyền SHTT tại toà án nhân dân; đề xuất các nội dung cần sửa
đổi trong Thông tư 132/2004/TT-BTC ngày 30/12/2004 của Bộ Tài chính hướng
dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí SHCN; góp ý các dự thảo khác
văn bản khác liên quan đến SHTT.
1.2. Tổ chức thi hành các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ
Tổ chức thi hành hệ thống luật mới: Xây dựng và đưa vào áp dụng các mẫu
công văn, thông báo, quyết định mới của Cục Sở hữu trí tuệ phù hợp với Lluật sở
hữu trí và Thông tư 01/2007/TT-BTC; thống nhất căn cứ áp dụng đối với việc xử
lý đơn đăng kí SHCN trong giai đoạn chuyển tiếp sang hệ thống pháp luật mới;
giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật mới về SHCN của các cơ quan,
tổ chức và các doanh nghiệp, ấn hành bộ tài liệu hướng dẫn các thủ tục về SHCN
được biên soan the hệ thống pháp luật mới.
12
Xây dựng Đề án cấp Bộ về nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước về SHCN; thẩm định hồ sơ và làm thủ tục ghi nhận 78
Tổ chức dịch vụ đại diện SHCN và cấp 235 Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện
SHCN.
Nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động này, cục sở hữu trí tuệ đã thành lập và đưa
Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và Đại diện tại Đà Nẵng. Nhờ đó,
việc giao dịch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiến hành thủ tục về sở hữu
công nghiệp đã thuận tiện hơn. Các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ tiếp tục
được đơn giản hóa theo hướng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và các chủ thể
khác và từng bước hiện đại hóa theo tiêu chuẩn chung của thế giới. Chế độ phân
biệt đối xử được xác lập và một số thủ tục khó khăn không cần thiết đã bị xóa bỏ.
Cùng với những cải tiến về mặt thủ tục, cách thức tổ chức thực hiện các thao tác
chuyên môn, nghiệp vụ cũng tiếp tục được đổi mới. Các công nghệ mới hiện đại-

- Phòng nhãn hiệu hàng hoá số 1
- Phòng nhãn hiệu hàng hoá số 2
- Phòng chỉ dẫn địa lý
- Trung tâm nghiên cứu và đào tạo
- Trung tâm thông tin
- Trung tâm Hỗ trợ và tư vấn
Sơ đồ cơ cấu tổ chức (năm 2005)
Từ năm 2005 trở về trước cục sở hữu trí tuệ có đến 3 cục phó nhưng đến nay cơ
cấu chỉ còn hai
14
2.2. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý
Một trong những khó khăn lớn đối với hoạt động sở hữu trí tuệ ở Việt Nam là
sự thiếu hụt nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy trong bối cảnh Việt
Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới hoạt động đạo tạo và bồi dưỡng cán bộ là
một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của lĩnh vực này. Để nâng
cao chất lượng và đảm bảo thời hạn xét nghiệm đơn yêu cầu xác lập quyền sở hữu
trí tuệ, chỉ riêng trong năm 2007, Cục sở hữu trí tuệ đã tổ chức tập huấn, bồi
dưỡng nghiệp vụ sở hữu công nghiệp cho 3.147 lượt người, bao gồm các cán bộ
quản lý, cán bộ thực thi quyền SHCN, cán bộ nghiên cứu và các doanh nghiệp
thuộc địa phương trong cả nước . Ngoài ra, các khoá đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ cán bộ của Cục cũng thường xuyên được
tổ chức. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng được thiết kế phù hợp với các mục
tiêu khác nhau như đào tạo cơ bản cho cán bộ mới tuyển dụng, đào tạo lại cán bộ
và bồi dưỡng nâng cao cho cán bộ đang làm việc.
Cũng trong giai đoạn này các khoá bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ dành
cho cán bộ quản lý và đảm bảo thực thi quyền sở hữu công nghiệp cũng được tổ
chức thường xuyên Ngoài các khoá đào tạo nghiệp nghiệp vụ, các lớp tập huấn,
bồi dưỡng trong nước, trong 3 năm qua có hơn 400 lượt cán bộ các cơ quan quản
lý nhà nước, các trường đại học, doanh nghiệp…được cử tham gia các hội thảo tập
huấn, khoá đào tạo về sở hữu trí tuệ ở nước ngoài trong khuôn khổ hợp tác song

Hội thảo thủ tục giải quyết khiếu nại liên quan đến nhãn hiệu và kiểu dáng công
nghiệp…
3. Công tác hổ trợ, tư vấn
Hoạt động hỗ trợ, tư vấn về SHTT được thực hiện thường xuyên, dưới nhiều
hình thức nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, địa phương:
- Tăng cường hỗ trợ các Sở Khoa học và Công nghệ triển khai hoạt động
xây dựng, đăng kí và quản lý chỉ dẫn địa lý dùng cho sản phẩm đặc sản của địa
phương: chỉ dẫn địa lý “Lạng Sơn” cho sản phẩm hoa hồi (Lạng Sơn), “Thanh Hà”
cho sản phẩm vải thiều Hải Dương, “Phan Thiết’ cho sản phẩm nước mắm;
“Vinh” cho sản phẩm Cam của Nghệ An; “Hải Hậu” cho sản phẩm gạo tám Nam
Định; “Tân Cương” cho sản phẩm chè Thái Nguyên, trực tiếp khảo sát, hỗ trợ
công tác quản lý các chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu dùng cho sản phẩm đặc trưng cảu
các địa phương như Thái Nguyên, Phú Thọ, Kiên Giang, Tiền Giang, Bình Thuận,
Yên Bái, Điện Biên, Gia Lai, Quảng Nam, Quảng Trị, Sơn la, Quảng Ninh, Bắc
Ninh;
- Công tác tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng kí SHCN, giải đáp vướng mắc
về SHTT tiếp tục được Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện, đáp ứng yêu cầu của hàng
trăm lượt người. Hoạt động của các Văn phòng đại diện tại Thành phố Hổ Chí
Minh và Đà Nẵng tiếp tục ổn định, công tác hỗ trợ tư vấn nghiệp vụ chuyên môn
đã được tiến hành cho hàng nghìn doanh nghiệp, cá nhân ở địa phương; hoạt động
phối hợp, tư vấn cho các Sở Khoa học và Công nghệ cũng như các cơ quan có
thẩm quyền thực thi trong các vụ tranh chấp, xâm phạm quyền SHCN tại các khu
vực phía nam và miền Trung được đẩy mạnh.
4. Cấp và thực hiện các thủ tục liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác
giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở
hữu công nghiệp,
16
Đối tượng
Tiếp nhận đơn
Cấp văn bằng/chấp nhận bảo

vẫn gia tăng. Tính đến ngày 31/12/2007(chỉ riêng năm 2007) đã tiếp nhận và xử lý
308 đơn khiếu nại về xác lập quyền SHCN, 529 đơn yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ
hiệu lực văn bằng bảo hộ, thẩm định hành vi xâm phạm quyền SHCN (18 vụ),
cung cấp ý kiến chuyên môn về SHTT theo yêu cầu của các cơ quan thực thi cũng
như trả lời đơn thư, công văn theo yêu cầu của các cơ quan tổ chức, cá nhân khác
trong và ngoài nước (tổng số 502 công văn trả lời).
Trước thực trạng trên, cục sở hữu trí tuệ bên cạnh việc giám sát, thanh tra và
kiểm tra vào các thời điểm nóng về vi phạm sở hữu trí tuệ như dịp Tết nguyên đán
thì cũng thường xuyên tiến hành thanh tra tại các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp đặc
biệt đã có nhiều vụ phát hiện xâm phạm hàng trăm triệu đồng về sở hữu trí tuệ
trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
6. Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ.
Dự án UTIPINFO “ứng dụng công nghệ thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam”
(utilization of intellectual property information in Viet Nam) được triển khai từ
01/01/2005 kéo dài trong khoảng 4 năm 3 tháng nhằm:
17
Xây dựng hệ thống tra cứu thông tin sở hữu công nghiệp phục vụ cho việc xét
nghiệm đơn đăng kí sở hữu công nghiệp
Xây dựng thư viện điện tử sở hữu công nghiệp cho công chúng
Xây dựng hệ thống nộp/nhận đơn đăng kí sở hữu công nghiệp dưới dạng điện tử
Bên cạnh đó hoạt động thống kê và giám sát về sở hữu trí tuệ vẫn liên tục cập
nhật, cung cấp số liệu và thông tin nhằm quản lý số lượng các đơn và văn bằng gia
tăng ngày càng nhanh. Hoạt động thống kê còn giúp hoạt động quản lý nắm bắt
được tình hình và kết quả của hoạt động quản lý và giám sat sở hữu trí tuệ. Cơ sở
dữ liệu đã dần có sự liên kết và đồng bộ giữa các bộ phận mặc dù chưa thực sự
hiệu quả. Và dự án MOIPA đã xây dựng hệ thống quản trị sở hữu công nghiệp
(Industrial property administration system – IPAS) nhằm khắc phục những hạn
chế trên. Các thông tin về đơn và kết quả xử lý đơn được lưu trữ, cập nhật kịp thời,
và rất hữu ích cho các nhà quản lý, cũng như những người quan tâm đến đơn sở
hữu công nghiệp.

7.2. Nâng cao nhận thức của công chúng về sở hữu trí tuệ
Nhận thấy rằng nhận thức của công chúng về hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ là yếu tố nền tảng tạo nên một xã hội mà ở đó quyền sở hữu trí tuệ được sử
dụng và có hiệu quả. Từ quan điểm này, trong những năm qua đã diễn ra hàng loạt
các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về sở hữu trí tuệ dưới nhiều hình thức. Hầu
như ngày cũng xuất hiện các bài viết, phóng sự về sở hữu trí tụê trên báo chí, từ
việc giới thiệu tầm quan trọng, ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, ý
kiến của các nhà khoa học, của doanh nghiệp về hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ,
đến tình trạng xâm phạm quyền và xử lý xâm phạm quyền. Đặc biệt, một đợt tập
huấn sâu rộng về luật sở hữu trí tuệ đã được bắt đầu ngay sau khi Luật này được
Quốc hội thông qua tháng 11/2005.
Để nâng cao hiệu quả của việc tuyên truyền, phổ biến về sở hữu trí tuệ trên các
phương tiện thông tin đại chúng, trong năm 2005, Cục sở hữu trí tuệ đã phối hợp
với Khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh và Hội Nhà báo thành phố Hồ
Chí Minh tập huấn về sở hữu trí tuệ cho khoảng 50 nhà bào chuyên viết về sở hữu
trí tuệ của các cơ quan báo chí trung ương và địa phương
8. Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ
Trong giai đoạn này các hoạt động hợp tác quốc tế trong khuôn khổ song
phương và đa phương về sở hữu trí tuệ tiếp tục được duy trì, phát triển và đạt được
nhiều kết quả đáng ghi nhận
8.1. Hợp tác với Nhật Bản
Dự án “hiện đại hoá quản trị sở hữu trí tuệ” do chính phủ Nhật Bản tài trợ được
thực hiện từ năm 2000 đến 2004. Hệ thống quản trị đơn sở hữu công nghiệp (viết
tắt IPAS) là sản phẩm của dự án này được đưa vào khai thác vận hành và đã thực
sự phát huy hiệu quả tại cục Sở hữu trí tuệ. Với việc sử dụng Hệ thống IPAS, các
thao tác cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến xử lý đơn sở hữu công
nghiệp, vốn trước đây được thực hiện một cách thủ công, đã được tự động hoá,
nhờ đó Cục Sở hữu trí tuệ đã tiết kiệm được đáng kể nguồn nhân lực, góp phần
đẩy nhanh tiến độ xử lý đơn. Ngoài ra, thông qua Dự án này, Cục sở hữu trí tuệ
đào tạo được một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực tiếp quản và vận hành hệ thông

giúp các doanh nghiệp Việt Nam đăng kí nhãn hiệu quôc tế ra nước ngoài cũng
như người nước ngoài đăng kí vào Việt Nam.
8.3. Hợp tác với Hoa Kỳ
Trong quá trình soạn thảo Luật sở hữu trí tuệ, Việt Nam đã nhận được nhiều ý
kiến đóng góp của phía Hoa Kỳ. Đặc biệt, với tài trợ cảu Hoa Kỳ một đoàn cán bộ
chuyên gia Việt Nam đã sang Washington D.C để trao đổi ý kiến và quan điểm
liên quan đến nội dung cụ thể trong Dự thảo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Trong
những năm qua, Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã tiếp nhận
một số cán bộ của Việt Nam tham gia khoá đào tạo về sở hữu trí tuệ và thường
xuyên cung cấp các thông tin về patent và nhãn hiệu do cơ quan này công bố.
8.4. Hợp tác với các đối tác khác
20
Ngoài các đối tác trên, trong những năm qua Cục Sở hữu trí tuệ đã duy trì quan
hệ hợp tác với nước các nước khác như Pháp, Hàn Quốc, Thái Lan, Ôxtrâylia.
Cuộc họp Uỷ ban hỗn hợp Việt-Pháp về Sở hữu công nghiệp được tổ chức tại Hà
Nội ngày 26/1/2005 với sự tham gia của đại diện Viện Sở hữu trí tuệ Pháp (INPI),
Đại sứ quan Pháp và Cục Sở hữu trí tuệ. Trong những năm gần đây, một số cán bộ
Việt Nam đã được mời tham dự các khoá đào tạo và hội thảo tại Hàn Quốc. Cơ
quan Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc (KIPO) và Cục Sở hữu trí tuệ đã kí Thoả thuận về
việc Việt Nam chọn KIPO là cơ quan tra cứu và xét nghiệm sơ bộ quốc tế đối với
các đơn sáng chế đăng kí theo PCT có nguồn gốc Việt Nam. Cục Sở hữu trí tuệ đã
phối hợp với cơ quan Sở hữu trí tuệ Ôxtrâylia triển khai một số hoạt động hợp tác
trong khuôn khổ APEC cũng như hoạt hợp tác song phương.
Trong giai đoạn này Việt Nam cũng đã chuẩn bị tích cực cho việc tham gia Tổ
chức thương mại Thế giới (WTO) và đến nay đã trở thành thành viên chính thức
của tổ chức này. Vì vậy sở hữu trí tuệ được coi là một lĩnh vực quan trọng. Là cơ
quan chuyên môn, Cục Sở hữu trí tuệ đã xử lý kịp thời và chính xác các tình
huống liên quan đến sở hữu trí tuệ nảy sinh trong quá trình đàm phán.
Việt Nam đã tham gia các hoạt động hợp tác về sở hữu trí tuệ trong APEC
nhằm mục tiêu tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư. APEC đã tài trợ

Tuy nhiên, trong bối cảnh khối lượng và đòi hỏi công việc ngày càng lớn, hội
nhập quốc tế càng ngày càng diễn ra sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, sự đa dạng
và phức tạp của các vụ vi phạm ngày càng tăng… trong khi đó nhân lực cũng như
điều kiện vật chất kĩ thuật, cơ chế tài chính còn bị hạn chế vì thế hoạt động quản lý
về sở hữu trí tuệ của Cục chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn, bộc lộ
nhiều yếu kém trong quản lý cũng như những khó khăn còn chưa giải quyết được
như:
Tốc đọ tăng trưởng về số lượng đơn đăng kí nộp tại Việt Nam không ngừng gia
tăng so với tốc độ xử lý đơn, nên tình trạng quá tải và tồn đọng đơn chưa được xử
lý triệt để.
Cơ chế tài chính và cơ cấu tổ chức được áp dụng cho Cục Sở hữu trí tuệ chưa
thực sự phù hợp với bản chất công việc của Cục và mô hình phổ biến của các nước
trên thế giới. Chức năng quản lý hành chính của nhà nước và chức năng đảm bảo
phát triển sự nghiệp về SHTT của Cục chưa được phân biệt rạch ròi; quy định hiện
hành về tỉ lệ phí, lệ phí SHCN được trích để lại cho cơ quan SHTT (35%) và các
hạn chế về việc sử dụng nguồn thu này gây khó khăn lớn trong việc duy trì hiệu
suất công việc bình thường, chính sách thu hút và đầu tư phát triển nguồn nhân lực
và cả việc tái đầu tư phát triển đối với cả hệ thống SHTT.
22
Thực thi quyền SHTT chưa thực sự hiệu quả, thậm chí là khâu yếu nhất trong
quản lý, nhiều vụ vi phạm chưa bị xử phạt đúng mức hay xử lý qua loa, đại khái.
Việc quy định đối với hàng nhái yêu cầu chủ quyền phải thông báo cho bên vi
phạm, nếu họ không đình chỉ thì các cơ quan thực thi mới vào cuộc đã gây nhiều
thiệt hại cho các doanh nghiệp và làm cho việc thực thi không có hiệu quả tạo
thêm cho bên vi phạm cơ hội tiêu hủy chứng cư, mở rộng sản xuất hàng loạt rổi
mới đình chỉ làm cho chủ sở hữu quyền không kiểm soát được tình hình…Bản
thân các nhà đầu tư nước ngoài cũng có đánh giá chung về vấn đề thực thi ở Việt
Nam, họ cũng nhận thấy mặc dù có nhiều cơ quan thực thi ( ở Việt Nam có 5 cơ
quan thực thi quyền SHTT là: Ủy ban nhân dân các cấp; cơ quan công an; quản lý
thị trường; Hải quan; thanh tra khoa học công nghệ và thanh tra văn hoá thông

về sở hữu trí tuệ
Mặc dù luật SHTT đã ra đời được 3 năm nhưng các văn bản hướng dẫn Luật
SHTT vẫn chưa hoàn chỉnh. Điều này làm hoạt động quản lý gặp rất nhiều khó
khăn từ khâu giám sát, kiểm tra đến khâu thực thi. Vì vậy một trong những biện
pháp giúp cải thiện tình hình khó khăn này là nhanh chóng hoàn thiện hệ thống
văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT bởi đây là một bộ luật lớn với nhiều điều
và ngôn ngữ dễ hiểu lầm, khó áp dụng vì nó chưa sát với thực tế biến động và nhu
cầu của đông đảo nhân dân và các tổ chức. Cần hướng dẫn chi tiết hơn các điều
khoản, các mức độ vi phạm, hình phạt và tình huống cũng như quyền hạn xử lý
giúp các cơ quan thực thi dễ vận dụng vào trong thực tế để tránh hiểu nhầm vì có
nhiều tình huống các điều luật chồng chéo nhau, quy định chung một vấn đề, ranh
rới không rõ ràng minh bạch. Các Văn bản hướng dẫn cần kết hợp với thực tế sao
cho khả thi và tránh những giải thích, hướng dẫn rườm rà, vòng vo không đi đúng
vào vấn đề cần giải quyết. Tình trạng này không phải của chỉ các văn bản hướng
dẫn Luật SHTT mà còn là thực trạng chung của các văn bản hướng dẫn Luật khác
của Việt Nam.
Đẩy mạnh hoạt động SHTT của các địa phương, các Bộ, ngành trong phạm vi
cả nước nhẳm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về SHTT. Biện
pháp này cần lấy chất lượng thay cho số lượng, lấy hiệu quả thay cho hình thức.
Một mặt giúp các địa phương, Bộ, ngành nâng cao ý thức về tầm quan trọng của
SHTT, đồng thời giúp tăng cường hoạt động cũng như kinh nghiệm trong hoạt
động sở hữu trí tuệ, giúp hoạt động này trở nên thường trực hơn và sâu rộng hơn.
Áp dụng các biện pháp đồng bộ nhẳm đảm bảo chất lượng và tiến độ xử lý đơn
đăng kí SHCN, giảm bớt đơn tồn đọng và phiền hà cho người dân và các tổ chức
bằng cách áp dụng một cách thống nhất các quy trình xử lý giữa các cơ quan. Tăng
cường ứng dụng công nghệ thông tin, chú trọng hoàn thiện hệ thống nộp đơn điện
tử nhằm giảm thời gian và chi phí cho người đi nộp đơn cũng như người tiếp nhận
và xử lý đơn.
Đẩy mạnh hoạt động thông tin SHTT, nâng cao hiệu suất và chất lượng cung
cấp thông tin, tạo nhu cầu và thói quen sử dụng thông tin của toàn xã hội. Thông

đặc biệt là lớp cán bộ trẻ vì họ mới là lực lượng chính trong tương lai gần. Hợp
tác các chương trình hỗ trợ đào tạo và nâng cao nghiệp vụ với các nước để học hỏi
kinh nghiệm quản lý cũng như bắt kịp với tốc độ phát triển cũng cần đẩy mạnh.
Chi ngân sách cho các hoạt động này cần rõ ràng, minh bạch và “Chi đúng chỗ cần
chi”. Hoạt động giải trí thể dục thể thao mới chỉ dừng ở những ngày cuối tuần,
chưa thực sự phát triển, cần đẩy mạnh hoạt động này để nâng cao tinh thần đoàn
kết, hỗ trợ tập thể và nhu cầu giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng.
Mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất-kỹ thuật của Cục nhằm đáp ứng nhu cầu
hoạt động chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới. Bên cạnh
việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thì yêu cầu sự nâng cấp và mở rộng cơ sở vật chất
cũng cần được đầu tư có chiến lược hơn nữa. Trọng tâm cần xây dựng, nâng cấp
nền tảng công nghệ bảo mật dữ liệu, hệ thống quản lý nhân sự, dữ liệu thương
mại…Cơ sở vật chất kỹ thuật được đánh giá là chưa tương xứng với hoạt động của
Cục nhưng trong hoàn cảnh Ngân sách nhà nước luôn phải tìm nguồn tài trợ, các
chính sách tiết kiệm, vốn FDI thì xây dựng sao cho tránh lãng phí, hướng đến giải
quyết các vấn đề dài hạn, khó khăn trước mắt cố gắng khắc phục.
Phối hợp với các cơ quan thực thi khác để nâng cao hiệu quả thực thi, xây
dựng và liên kết cơ quan các ngành, lĩnh vực cùng thống nhất quy trình giám sát,
xử lý về SHTT. Kết hợp và có đầu tư chiến lược đối với các chương trình đào tạo
trong đại học, giúp sinh viên trong ngành có trình độ nắm bắt được thực tiễn và có
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status