1
2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------------o0o------------------
------------------o0o------------------
LÊ VIỆT HÙNG
LÊ VIỆT HÙNG
hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần xây
dựng giao thông i thái nguyên
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN XÂY DỰNG GIAO THÔNG I
THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.PHẠM THỊ GÁI
trên thế giới và bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp
Việt Nam
1.3.1.Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị của một số nước phát triển
trên thế giới
1.3.2.Bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG GIAO THÔNG I THÁI NGUYÊN
2.1.Tổng quan về Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CPXD giao thông I
Thái Nguyên
2.1.2.Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2.Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I
Thái Nguyên
i
1
5
5
5
7
8
9
19
27
28
34
36
38
38
3.2.1.Phân loại chi phí phục vụ cho kế toán quản trị
3.2.2.Hoàn thiện tổ chức vận dụng phương pháp kế toán tập hợp chi phí
sản xuất phục vụ kế toán quản trị chi phí
3.2.3.Hoàn thiện hệ thống định mức chi phí và lập dự toán chi phí
3.2.4.Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí
3.2.5.Ứng dụng phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi
nhuận phục vụ cho việc ra quyết định
3.2.6.Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị để thu nhận và xử lý
thông tin
3.3.Điều kiện cơ bản để thực hiện các giải pháp
3.3.1.Về phía Nhà nước và ngành chủ quản
3.3.2.Về phía các tổ chức đào tạo, tư vấn về kế toán, tài chính và quản lý
kinh tế
3.3.3.Về phía doanh nghiệp
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
57
59
71
74
80
81
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay,
các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời,
thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý, điều hành hoạt
động kinh doanh của đơn vị.
101
103
109
Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ có hệ
thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục vụ cho công tác
quản lý và ra quyết định hầu như chưa có. Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toán
111
115
115
117
118
121
quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức.
Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy,
chế độ hướng dẫn về hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh
nghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với
các doanh nghiệp trong thời gian gần đây.
7
8
Mặc dù vậy, kế toán quản trị vẫn được coi là một hoạt động thiết yếu trong một
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với mục đích đã xác định, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận chung về kế toán
Ngành xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng
quản trị chi phí trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toán
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Việc triển khai và ứng dụng kế toán quản trị vào
quản trị chi phí tại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên. Đề tài chủ yếu khảo sát
công tác quản lý tại các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng chưa
và sử dụng tài liệu của Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên trong năm 2009 để
được quan tâm đúng mức. Qua quá trình nghiên cứu thực tế tổ chức công tác kế toán
minh hoạ cho bài viết.
tại Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên cũng không nằm ngoài xu thế đó và công
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
tác kế toán quản trị cũng còn bộc lộ những mặt hạn chế nhất định cần phải hoàn thiện.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
Việc hoàn thiện công tác kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêng
nghĩa duy vật lịch sử, trong đó đặc biệt chú trọng quan điểm lịch sử cụ thể, phương
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
9
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng
giao thông I Thái Nguyên
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty Cổ phần xây dựng
giao thông I Thái Nguyên
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị chi phí
1.1.1. Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Kế toán ra đời là tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội để phục vụ quản lý
kinh tế. Khi nền sản xuất xã hội phát triển với trình độ ngày càng cao cùng với những
tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì kế toán không ngừng phát triển và hoàn thiện về nội
dung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng
cao của nền sản xuất xã hội. Kế toán thực sự trở thành môn khoa học trong hệ thống
khoa học quản lý. Kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về
tài sản và sự vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra giám sát toàn bộ hoạt
động kinh tế tài chính của đơn vị đó.
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của
một đơn vị, một tổ chức cho các đối tượng sử dụng thông tin nhằm cung cấp các báo
cáo tài chính, hoạch định các kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của đơn vị, kiểm
trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,
khác nhau từ kế toán quản trị.
kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản
quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất; nhằm đề ra
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp tồn tại và hoạt động phải chi
các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo
nhiều khoản chi phí khác nhau trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và chi phí có
từng hoạt động. Cho đến nay, khi bàn về bản chất của kế toán quản trị có nhiều quan
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó, vấn đề được đặt ra là làm
điểm khác nhau, chẳng hạn như:
sao có thể kiểm soát được tất cả các khoản chi phí. Kế toán quản trị chi phí là công cụ
Theo Ronald W. Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): "Kế toán quản trị là một
hữu hiệu đáp ứng nhu cầu thông tin chi phí cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết
phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho
nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh
ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm
nghiệp.
vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và
quản lý chặt chẽ các tài sản này" [16, tr. 7]
Theo Điều 4 Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thu
thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và
quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" [2, tr. 15]
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính
trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp. Những thông tin đó chỉ có
ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý doanh
nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài.
13
- Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
để đưa ra các quyết định điều hành sản xuất kinh doanh.
- Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính định lượng vì nó gắn
với các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
14
1.2.1. Phân loại chi phí
15
16
mức độ cụ thể nào đó. Ví dụ: Chi phí bảo dưỡng máy móc, chi phí tiền lương của bộ
phận công nhân phụ ....
Định phí bắt buộc là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng,
chúng thường liên quản đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức sản xuất kinh doanh của
Chi phí
doanh nghiệp. Thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao TSCĐ hay tiền lương nhân viên
Chi phí
quản lý ở các phòng ban chức năng. Các định phí bắt buộc gắn liền với các mục tiêu
Biến phí cấp bậc
Biến phí tỷ lệ
dài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu
sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn, không thể cắt giảm hết trong
thời gian ngắn. Để quản lý loại chi phí này cần tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử
dụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp.
Định phí không bắt buộc là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng
các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp. Chúng thường được kiểm soát theo các
kế hoạch ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà
Định phí thường có đặc điểm sau:
hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn
- Trong giới hạn của quy mô hoạt động, xét về tổng chi phí thì định phí thường
phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm.
không thay đổi. Nếu xét định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ lệ
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong
nghịch với mức độ hoạt động. Doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫn
các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,...
tồn tại. Do vậy, các nhà quản trị muốn cho cho định phí đơn vị sản phẩm thấp cần khai
thác tối đa công suất của các tài sản đã tạo ra các định phí đó.
Trong thực tế các nhà quản trị muốn kiểm soát các khoản chi phí hỗn hợp cần
phải xác định quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sử dụng các phương pháp phân
- Định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng và phong phú. Xét ở khía cạnh
tích chi phí hỗn hợp thành 2 bộ phận biến phí và định phí. Việc phân tích này được
quản lý chi phí, định phí được chia thành 2 loại: định phí bắt buộc và định phí không
thực hiện bằng một trong các phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu; phương
(1.1)
Chênh lệch mức độ hoạt động cao nhất và
thấp nhất
Biến phí
Xác định tổng biến phí và định phí:
Tổng biến phí ở mức hoạt động
cao nhất (thấp nhất)
Định phí
(a)
=
=
Mức hoạt động cao nhất
(thấp nhất)
Chi phí hỗn hợp ở mức hoạt
động cao nhất (thấp nhất)
-
X
Biến phí
đơn vị (b)
Tổng biến phí ở mức hoạt
tuyến tính:
Y = a + bX
(1.5)
Trong đó:
Y: là hàm chi phí
b: là biến phí/một đơn vị sản lượng
a: là định phí
X: là qui mô hoạt động (còn gọi là sản lượng)
Từ phương trình này, tập hợp n phần tử quan sát, ta có hệ phương trình sau:
n
n
n
i=1
i=1
i=1
XY = a X + b X
n
Y
i =1
1.2.2.2. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
trích theo lương và các khoản khác phải trả cho nhân viên phân xưởng, đội sản xuất
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động có
như: Quản đốc, phó quản đốc phân xưởng, đội trưởng, đội phó các đội sản xuất, nhân
chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia
viên kinh tế....
- Chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: văn phòng phẩm,
thành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
* Chi phí sản xuất
các vật liệu khác cần thiết khi sửa chữa, bảo dưỡng phân xưởng...
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng
- Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: quần áo
sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị. Chi phí sản
bảo hộ lao động của công nhân, các dụng cụ phục vụ công nhân sản xuất như búa, cưa,
xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
que hàn...
- Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất như nhà
phí và biến phí. Do vậy, các nhà quản trị muốn kiểm soát được các yếu tố trong khoản
theo lương, tiền ăn ca... của những lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm. Chi phí nhân
công trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho đối tượng chịu chi phí. Khoản mục chi phí này
thường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức cho một đơn vị sản phẩm
nhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống dự toán chi phí.
mục chi phí này cần phải tách các yếu tố thành hai bộ phận định phí và biến phí.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất ngoài 3 khoản mục trên còn có
khoản mục chi phí sử dụng máy thi công.
Chi phí sử dụng máy thi công:
21
22
Chi phí sử dụng máy thi công là các khoản chi phí phục vụ cho đội máy thi công
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố cũng thường bao gồm
hoặc mua ngoài để thi công cho các công trình và hạng mục công trình. Chi phí sử
cả định phí và biến phí. Do vậy, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành 2 bộ
dụng máy thi công bao gồm: Tiền lương phải trả cho công nhân điều khiển máy thi
phận định phí và biến phí. Chi phí ngoài sản xuất được coi là chi phí gián tiếp nếu xét
công, chi phí nguyên vật liệu sử dụng cho máy thi công, chi phí dụng cụ sản xuất, chi
Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản
* Chi phí ngoài sản xuất
phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán. Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản
Chi phí ngoài sản xuất là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản
phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung
sản xuất chung. Thực chất chi phí sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất là chi phí sản
toàn doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán
xuất tính cho sản phẩm của doanh nghiệp, đó là sản phẩm dở dang khi sản phẩm chưa
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
hoàn thành, là giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành và trở thành giá vốn hàng
Chi phí bán hàng:
bán khi sản phẩm đã tiêu thụ. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì chi phí
Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ
sản phẩm là giá vốn của hàng mua và trở thành giá vốn hàng bán khi hàng hoá đã được
23
24
nghiệp. Các chi phí này được ghi nhận ở chi tiêu "Chi phí bán hàng" và "chi phí quản
lý doanh nghiệp" trên báo cáo kết quả kinh doanh.
1.2.1.4. Các tiêu thức phân loại chi phí khác
- Chi phí chênh lệch là những chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một
phần hoặc không có ở phương án khác. Đây là một khái niệm rộng về chi phí dùng để
nhận thức, so sánh chi phí lựa chọn các phương án kinh doanh.
- Chi phí chìm: là loại chi phí mà doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu, bất kể đã lựa
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí, chi phí chia
thành: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
chọn phương án hoặc hành động nào. Chi phí chìm được xem như là khoản chi phí
- Chi phí trực tiếp: là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp thẳng cho
không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương
từng đối chịu chi phí. Ví dụ: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
án nào. Vì vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết
tiếp...
thành: Chi phí cơ hội, chi phí chênh lệch, chi phí chìm.
Như vậy, mục đích xác định chi phí nhằm cung cấp thông tin về giá thành sản
phẩm, dịch vụ cần thiết cho nhà quản trị để điều hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Các doanh nghiệp khác nhau có đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau, do
vậy nhiều khoản chi phí phát sinh khác nhau, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm cũng khác nhau. Trong thực tế các doanh nghiệp thường sử
dụng một trong hai phương pháp xác định chi phí: Phương pháp xác định chi phí theo
công việc (hay gọi là đơn đặt hàng) và phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản
xuất.
1.2.2.1. Phương pháp xác định chi phí theo công việc
- Đối tượng áp dụng:
- Chi phí cơ hội: là lợi ích tiềm tàng bị mất đi do chọn phương án (hoặc hành
Phương pháp xác định chi phí theo công việc thường được áp dụng tại các
động) này thay vì chọn phương án (hoặc hành động) khác. Chi phí cơ hội không thể
doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt nhỏ, công
hiện trên bất cứ sổ sách kế toán nào nhưng lại là cơ sở rất cần thiết để lựa chọn phương
việc sản xuất thường được tiến hành theo đơn đặt hàng. Đơn đặt hàng có thể là một sản
án kinh doanh.
phẩm riêng biệt hoặc một số sản phẩm cùng loại. Để áp dụng phương pháp này thì sản
phẩm thường có các đặc điểm dưới đây:
bán.
- Đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng, còn đối tượng tính giá thành
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định căn cứ vào Phiếu xuất kho
có thể cũng là đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm của đơn đặt hàng. Do độ dài thời
nguyên liệu, các chứng từ mua nguyên vật liệu khi đưa ngay nguyên vật liệu vào sản
gian cho sản xuất của từng đơn hàng có thể xác định riêng và không như nhau nên kỳ
xuất không qua kho.
tính giá thành là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Vì thế, vào cuối kỳ kế toán, nếu đơn
Chi phí nhân công trực tiếp được xác định dựa trên Phiếu theo dõi lao động.
chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí lũy kế cho công việc (đơn đặt hàng) đó được xem
Chi phí sản xuất chung được xác định theo mức phân bổ ước tính. Chi phí sản
là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
xuất chung thường liên quan đến hoạt động sản xuất của nhiều đơn hàng, không thể
- Nội dung và quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo công việc:
tập hợp ngay khi phát sinh chi phí nên sẽ tập hợp trên một thẻ chi phí riêng. Đến cuối
tháng, toàn bộ chi phí sẽ được tổng hợp và phân bổ cho từng đơn hàng theo tiêu thức
sản xuất chung
Sơ đồ 1.3. Quy trình vận động của chứng từ
=
Tổng chi phí sản xuất chung ước tính
Tổng mức hoạt động chung ước tính
(1.7)
27
Mức phân bổ chi phí
sản xuất chung ước tính =
cho từng công việc
Hệ số phân bổ chi phí
sản xuất chung
28
Cuối kỳ, kết chuyển sang tài khoản 154 để tính giá thành công việc:
Mức hoạt động
x
ước tính của
liệu, kế toán phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào sản xuất sản phẩm.
Nợ TK 621 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu
giao nhận sản phẩm, bảng thanh toán tiền lương... kế toán phản ánh chi phí nhân công
trực tiếp.
Nợ TK 622 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 334 - Phải trả người lao động
Có TK 338 - Phải trả phải nộp khác
Cuối kỳ, kết chuyển sang tài khoản 154 để tính giá thành công việc:
Nợ TK 154 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Có TK 622 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Đối với chi phí sản xuất chung:
Căn cứ vào các chứng từ có liên quan, tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế
phát sinh trong kỳ vào bên Nợ tài khoản 627. Bên Có tài khoản này phản ánh số phân
bổ chi phí sản xuất chung ước tính đầu kỳ. Cho nên bên Nợ và bên Có TK 627 thường
có chênh lệch vào cuối kỳ.
Nếu bên Nợ bằng bên Có thì nghĩa là số phát sinh thực tế đã phân bổ hết.
Nếu có sự chênh lệch và mức chênh lệch là nhỏ thì phân bổ cả mức chênh lệch
đó vào tài khoản 632 "Giá vốn hàng bán" trong kỳ.
Nếu có sự chênh lệch và mức chênh lệch là lớn thì phân bổ mức chênh lệch vào
tài khoản 632 'Giá vốn hàng bán", tài khoản 155 "Thành phẩm", tài khoản 154 "Chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang" theo tỷ lệ số dư của các tài khoản này.
Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế:
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Có TK liên quan (TK 111, TK 112, TK152, TK153,…)
Phân bổ chi phí sản xuất chung ước tính cho từng đơn đặt hàng:
Nợ TK 154 (chi tiết cho từng đơn đặt hàng)
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
- Trong phương pháp này, đối tượng tập hợp chi phí là từng công đoạn hay từng
phân xưởng sản xuất khác nhau của doanh nghiệp. Đối tượng tính giá thành là bán
thành phẩm hoàn thành ở từng giai đoạn công nghệ và thành phẩm ở giai đoạn công
nghệ cuối cùng. Do hoạt động sản xuất diễn ra liên tục trong điều kiện sản xuất số lớn
nên kỳ tính giá thành thường là cuối kỳ kế toán (tháng, quí, năm).
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán
- Nội dung và quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo quá trình sản xuất:
Trường hợp chênh lệch giữa bên Nợ và bên Có TK 627 là lớn:
Phản ánh chi phí sản xuất chung phân bổ thiếu vào tài khoản liên quan:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Nợ TK 155 - Thành phẩm
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Phản ánh chi phí sản xuất chung phân bổ thừa vào tài khoản liên quan:
Trình tự tập hợp chi phí sản xuất theo quá trình sản xuất có thể biểu diễn qua Sơ
đồ 1.4.
CP NVL trực
tiếp
Giá thành BTP
bước 1
Giá thành BTP
bước n-1
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán
1.2.2.2. Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
- Đối tượng áp dụng: Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo quy trình công
nghệ sản xuất liên tục qua nhiều giai đoạn chế biến. Bán thành phẩm của giai đoạn
Sơ đồ 1.4. Trình tự tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất
Chi phí của phân xưởng đầu tiên bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
31
Chi phí ở các phân xưởng sau bao gồm: Chi phí sản xuất bán thành phẩm của
phân xưởng trước chuyển sang và chi phí chế biến phát sinh ở phân xưởng đó.
Ở phân xưởng cuối cùng, chi phí của phân xưởng kề trước chuyển sang sẽ được
cộng với chi phí chế biến phát sinh ở phân xưởng này - để hình thành trị giá của thành
phẩm nhập kho.
32
cáo sản xuất”. Báo cáo sản xuất có vai trò như một phiếu tính giá thành, có ý nghĩa
quan trọng trong việc kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động của từng phân
xưởng. Báo cáo sản xuất có thể lập theo một trong 2 phương pháp: Phương pháp trung
bình trọng (bình quân), phương pháp nhập trước - xuất trước.
1.2.3. Dự toán chi phí trong doanh nghiệp
kết quả thực hiện, qua đó phát hiện ra nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt giữa dự toán
xuất.
và thực tế để có các biện pháp điểu chỉnh kịp thời và qua đó đánh giá định mức, dự
Nếu khối lượng sản phẩm sản xuất của phân xưởng ổn định và chi phí sản xuất
toán xây dựng phù hợp thực tế chưa để có cơ sở xây dựng định mức mới hoàn chỉnh;
chung phát sinh đều đặn, thì toàn bộ chi phí sản xuất chung phát sinh thực tế ở phân
Nó kết hợp toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bằng kế hoạch của từng bộ phận khác
xưởng sẽ được kết chuyển hết vào TK 154 “Chi phí sản xuất dở dang” của phân xưởng.
nhau, nhờ vậy đảm bảo cho kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung
Nếu khối lượng sản phẩm sản xuất của phân xưởng không ổn định và chi phí
của doanh nghiệp. Như vậy, dự toán chính là cơ sở để đưa ra các quyết định tác nghiệp
sản xuất chung phát sinh không đều, thì có thể phân bổ chi phí sản xuất chung. Kế toán
phải xác định hệ số phân bổ để tính được mức chi phí sản xuất chung thực tế phân bổ
cho các phân xưởng.
của nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp.
Dự toán chi phí thường được lập từ cấp cơ sở trở lên trong các doanh nghiệp và
do các chuyên gia kỹ thuật, kế toán quản trị tại các phân xưởng, đội sản xuất kết hợp để
4. Sản phẩm hoàn thành của phân xưởng này được chuyển sang phân xưởng sản
34
- Cung cấp tài liệu, số liệu cần thiết giúp cho các cấp quản trị khác nhau trong
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
nội bộ doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập dự toán sản xuất
- Dự toán chi phí sử dụng máy thi công
kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
- Dự toán chi phí sản xuất chung
Báo cáo kế toán quản trị là sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán quản trị
- Dự toán chi phí bán hàng
nên việc tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị quyết định đến chất lượng, hiệu quả
- Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
của thông tin do kế toán quản trị cung cấp. Tuỳ theo sự phân cấp quản lý và yêu cầu
Khi xây dựng dự toán chi phí để đảm bảo có tính khả thi cao phải xây dựng trên
quản lý từng chỉ tiêu có thể xác định nội dung, thiết kế mẫu biểu kế toán quản trị và lựa
cơ sở khoa học, muốn vậy phải dựa vào chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, điều
nghiệp như sau:
nhất quán giữa các kỳ với nhau.
- Cung cấp thông tin kinh tế tài chính cần thiết giúp nhà quản trị doanh nghiệp
kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí của một doanh nghiệp thường bao
gồm các loại báo cáo sau:
- Báo cáo dự toán phục vụ cho chức năng lập kế hoạch: Báo cáo dự toán là rất
- Cung cấp thông tin cần thiết giúp nhà quản trị doanh nghiệp phân tích mọi
cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp. Báo cáo dự toán là một kế hoạch hành động, nó
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đánh giá khách quan toàn diện
lượng hoá các mục đích của tổ chức theo các mục tiêu về tài chính và hoạt động của
quá trình sản xuất kinh doanh, xác định chính xác kết quả cũng như hiệu quả mọi hoạt
doanh nghiệp. Cùng với chức năng hệ thống hoá việc lập kế hoạch, các thông tin trên
động kinh doanh.
báo cáo dự toán cũng đưa ra những tiêu chuẩn cho việc đánh giá kết quả hoạt động,
- Là căn cứ để phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế tài chính, dự đoán
dự toán chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp.
Đơn vị tính: triệu đồng
Báo cáo này có thể lập theo nhiều phương pháp khác nhau, cho nhiều đối tượng và
phạm vi khác nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp mà xây
Chỉ tiêu
dựng loại báo cáo này cho phù hợp. Một số báo cáo chủ yếu:
+ Báo cáo sản xuất: Báo cáo sản xuất của doanh nghiệp có thể được lập theo
nhiều phương pháp khác nhau, cho nhiều đối tượng và phạm vi khác nhau. Có thể lập
cho từng loại sản phẩm, từng công đoạn sản xuất, từng dây chuyền công nghệ, từng
phân xưởng hay lập cho toàn doanh nghiệp. Có thể lập theo phương pháp xác định chi
phí theo công việc, hoặc có thể lập theo phương pháp xác định chi phí theo quá trình
sản xuất. Theo phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất báo cáo sản xuất
được chia ra các trường hợp lập theo phương pháp bình quân hoặc theo phương pháp
nhập trước xuất trước.
+ Báo cáo giá thành sản xuất sản phẩm: Báo cáo giá thành sản xuất sản phẩm
có thể được lập cho từng loại sản phẩm, công việc, dịch vụ hay cho từng bộ phận trong
phân xưởng, cho từng phân xưởng sản xuất hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Tuỳ theo mục
tiêu phân tích khác nhau, việc phân tích giá thành có thể được thiết kế theo các mẫu
biểu khác nhau.
Chẳng hạn báo cáo giá thành công trình A của đội thi công 1 của một doanh
nghiệp xây lắp X (Biểu 1.1).
A
Công trình A
Kế hoạch
-26
4. Chi phí SX chung
80
50
-30
2.550
2.460
-90
-
-
-
7. Chi phí quản lý DN phân bổ
1.550
1.500
-50
toàn doanh nghiệp.
dây chuyền hay phân xưởng sản xuất, từng bộ phận hay lập cho toàn doanh nghiệp.
Ví dụ báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng X lập theo chức
37
38
năng của chi phí và theo từng loại hoạt động xây lắp và thiết kế (Biểu 1.2).
xây lắp (62%>45%). Vì vậy để góp phần tăng lợi nhuận, doanh nghiệp cần đầu tư tăng
Biểu 1.2. BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH (theo chức năng của chi phí)
doanh thu của hoạt động xây lắp.
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng doanh nghiệp có thể
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH
lập các báo cáo kế toán quản trị khác như: Báo cáo tiến độ sản xuất, Báo cáo sử dụng
(Theo chức năng của chi phí)
Đơn vị tính: tỷ đồng
1. Doanh thu tiêu thụ
260
60
6. Lợi nhuận thuần trước thuế
260
170
90
7. Thuế thu nhập doanh nghiệp
8. Lợi nhuận thuần sau thuế
65
195
43
128
23
68
Chỉ tiêu
Tổng số
lao động, báo cáo tình hình biến động nguyên vật liệu,...
lượng và lợi nhuận. Mặt khác, báo cáo kết quả kinh doanh lập theo cách ứng xử và theo
7. Lợi nhuận thuần
260
Báo cáo kết quả kinh doanh lập theo cách ứng xử của chi phí giúp nhà quản trị
đưa ra các quyết định điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bởi vì chi phí được
chia thành biến phí và định phí giúp nhà quản trị hiểu đúng bản chất sự vận động của
Tỷ lệ
(%)
100
49
51
22
29
Hoạt động
xây lắp
Tỷ lệ
Số tiền
(%)
1.100
100
600
55
500
250
250
các hoạt động và đánh giá trách nhiệm của nhà quản lý các cấp. Hoạt động của một
trung tâm trách nhiệm quy định phạm vi trách nhiệm của một nhà quản lý. Các đơn vị
1.3).
Căn cứ vào báo có kết quả kinh doanh của doanh nghiệp X lập theo cách ứng xử
chi phí cho thấy hoạt hoạt động xây lắp đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp cao hơn
hoạt động thiết kế, song hoạt động thiết kế có tỷ lệ số dư đảm phí lớn hơn hoạt động
hoặc bộ phận doanh nghiệp có thể phân loại thành một trong bốn loại trung tâm trách
nhiệm: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu
tư.
Để đánh giá trách nhiệm của các bộ phận thường thông qua việc phân tích báo
39
40
cáo bộ phận sau một kỳ hoạt động hoặc dự đoán các chỉ tiêu kinh tế cho kỳ tới. Báo
cáo bộ phận nhằm phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của từng bộ phận
Số dư đảm phí
Tỷ lệ số dư đảm phí
=
x
100%
đảm phí cho phép người quản lý xác định khả năng sinh lợi của từng loại sản phẩm.
nhuận là xem xét mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố giá bán, sản lượng, chi phí
biến đổi, chi phí cố định và tác động của chúng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
* Kết cấu chi phí: Là mối quan hệ tỷ trọng của từng loại chi phí khả biến và chi
phí bất biến trong tổng chi phí.
Nắm vững mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác khả năng
Những doanh nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn thì khả biến chiếm tỉ
tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sơ cho việc ra các quyết định lựa chọn hay điều
trọng nhỏ, tỉ lệ số dư đảm phí lớn, nếu tăng giảm doanh thu thì lợi nhuận tăng giảm
chỉnh về sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp như: chọn dây
nhiều hơn. Ngược lại, những doanh nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng nhỏ, khả
chuyền sản phẩm sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán hàng....
biến chiếm tỉ trọng lớn, vì vậy tỉ lệ số dư đảm phí nhỏ, nếu tăng giảm doanh thu thì lợi
Để phân tích mối Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận, kế toán sử dụng một số chỉ
tiêu chủ yếu sau:
* Số dư đảm phí (còn gọi là lãi trên biến phí): Là số chênh lệch giữa doanh thu
với chi phí khả biến. Số dư đảm phí sau khi đã bù đắp chi phí bất biến chính là lợi
nhuận. Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một loại sản phẩm và một
41
42
tổng số dư đảm phí đúng bằng tổng định phí và lợi nhuận thuần bằng 0. Phân tích điểm
- Tổ chức hệ thống kế toán quản trị kết hợp với kế toán tài chính trong cùng một
hoà vốn giúp các nhà quản trị doanh nghiệp biết được mức sản xuất và tiêu thụ là bao
bộ máy: Theo mô hình này, các nhân viên kế toán vừa tổ chức kế toán tài chính và kế
nhiêu thì hoà vốn hoặc giá bán bao nhiêu thì không bị lỗ. Từ đó các nhà quản trị có thể
toán quản trị kết hợp theo từng phần hành kế toán. Để thu nhận thông tin, kế toán quản
lựa chọn những phương án sản xuất kinh doanh khác nhau nhằm gia tăng lợi nhuận cho
trị sử dụng hệ thống tài khoản của kế toán tài chính và được mở chi tiết theo yêu cầu
doanh nghiệp.
cung cấp thông tin, đồng thời xác định nội dung, phương pháp ghi chép trên các tài
* Phạm vi an toàn: Là phần thị trường (sản lượng sản phẩm hoặc doanh thu của
khoản chi tiết phù hợp với việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cụ thể. Sổ kế toán
doanh nghiệp) có thể bị giảm bớt tới điểm trước khi bị lỗ. Chỉ tiêu này có giá trị càng
bộ phận.... Đây thực sự là nghệ thuật của sự kết hợp khai thác các yếu tố về chi phí, giá
lượng nghiệp vụ phát sinh với tần suất ít. Mô hình này có ưu điểm kết hợp chặt chẽ
cả, khối lượng nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp. Muốn vận
thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị, thu nhận thông tin nhanh chóng, tiết
dụng mối quan hệ này cho việc ra quyết định thì phải phân biệt hợp lý toàn bộ thành 2
kiệm được chi phí. Song có hạn chế là gặp khó khăn trong việc thực hiện chuyên môn
bộ phận biến phí và định phí. Đồng thời khi lựa chọn quyết định phương án sản xuất
hoá hai loại kế toán theo công nghệ hiện đại.
kinh doanh cần căn cứ vào các dấu hiệu:
- Tổ chức hệ thống kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính: Theo mô hình
- Lợi nhuận thuần của các phương án mang lại.
này, bộ phận thực hiện kế toán quản trị độc lập với bộ phận thực hiện kế toán tài chính.
- Khả năng sản xuất và tiêu thụ trước mắt và lâu dài.
Cùng dựa trên hệ thống chứng từ ban đầu, kế toán quản trị sử dụng hệ thống tài khoản
- Uy tín thương hiệu của doanh nghiệp
trị tiên phong trên thế giới với khuynh hướng cung cấp thông tin hữu ích, thiết lập các
cho việc chuyên môn hoá, hiện đại hoá. Song có hạn chế là chưa khái quát được thông
quyết định quản lý bằng những mô hình, kỹ thuật định lượng thông tin.
tin của hai phân hệ với nhau, tốn kém thời gian và chi phí so với mô hình kết hợp kế
Hệ thống kế toán quản trị ở Mỹ được tổ chức kết hợp với hệ thống kế toán tài
toán tài chính và kế toán quản trị vì phải tăng thêm khâu luân chuyển, xử lý thông tin
chính trong cùng một bộ máy kế toán. Bộ máy kế toán không phân chia thành bộ phận
và phải chi phí cho bộ phận kế toán quản trị.
kế toán quản trị và bộ phận kế toán tài chính mà được chia thành các bộ phận kế toán
- Hình thức hỗn hợp (kết hợp hai hình thức trên): Tổ chức bộ phận kế toán quản
trị chi phí giá thành riêng, nội dung khác theo hình thức kết hợp.
thực hiện các phần hành công việc kế toán theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.
Các bộ phận này vừa làm công việc của kế toán tài chính, vừa làm công việc của kế
Như vậy, mỗi mô hình tổ chức kế toán quản trị đều có nội dung, ưu nhược điểm
toán quản trị nhằm thoả mãn, đáp ứng nhu cầu thông tin cho cả đối tượng bên trong và
nhất định cho nên việc lựa chọn mô hình tổ chức kế toán quản trị nào cần căn cứ vào
quan trọng giúp các nhà quản trị điều hành, hoạch định và ra các quyết định kinh
doanh. Để có được nguồn thông tin này, điều quan trọng là doanh nghiệp phải tổ chức
kế toán quản trị theo mô hình thích hợp. Kế toán quản trị đã hình thành, phát triển vô
cùng nhanh chóng cả về lý luận và thực tiễn trên thế giới, quá trình đó vừa tạo nên
những điểm chung và khuynh hướng riêng ở từng nước. Tuy nhiên, hiện nay trên thế
giới có 2 mô hình tổ chức kế toán quản trị mà các doanh nghiệp có thể xem xét, nghiên
cứu và vận dụng:
1.3.1.1. Mô hình tổ chức kế toán quản trị ở Mỹ
Mỹ là một nước có nền kinh tế thị trường phát triển, tiềm lực kinh tế và phong
cách quản lý tài chính theo thị trường mở. Kế toán quản trị ở Mỹ là nền kế toán quản
Kế toán quản trị Mỹ cũng coi trọng việc phân loại chi phí, đặc biệt là phân loại
chi phí theo cách ứng xử của chi phí nhằm phân tích mối quan hệ Chi phí - Khối lượng
- Lợi nhuận để trả lời các câu hỏi như: Lợi nhuận sẽ như thế nào ở các mức tiêu thụ
khác nhau? Mức tiêu thụ là bao nhiêu để đạt mức lợi nhuận cá biệt đó?
Để hạch toán chi phí sản xuất, kế toán sử dụng hai phương pháp cơ bản là hạch
toán chi phí theo công việc và hạch toán chi phí theo quá trình sản xuất.
Việc kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện trong kế toán quản trị Mỹ đặt trọng
tâm vào quá trình ra các quyết định kinh doanh ngắn hạn, dài hạn và phân tích các báo
cáo tài chính.
Kế toán quản trị Mỹ xem quá trình lập dự toán có ý nghĩa quan trọng trong việc
nắm bắt và phản ánh các kết quả của các quyết định lập kế hoạch, từ các quyết định về
giá, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu chi phí đến các quyết định về cổ tức và các khoản đầu
tư mới.
45
Như vậy, kế toán quản trị Mỹ chú trọng đến công tác lập dự toán, xây dựng các
trị cao.
- Nên tổ chức bộ máy kế toán quản trị theo mô hình của Mỹ, nghĩa là kết hợp
1.3.1.2. Mô hình tổ chức kế toán quản trị ở Pháp
giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng bộ máy kế toán nhằm tiết kiệm chi
Cộng hoà Pháp là một nước Tây Âu có nền kinh tế phát triển lâu đời, công tác
phí và thời gian trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin, phù hợp với trình độ
quản lý kinh tế nói chung và kế toán nói riêng ở trình độ cao.
Hệ thống kế toán Pháp bao gồm hai bộ phận kế toán tài chính (kế toán tổng
của cán bộ kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đồng thời đảm bảo thuận
lợi cho việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước.
quát) và kế toán quản trị (kế toán phân tích). Kế toán quản trị ở Pháp có đặc trưng là kế
- Kế toán quản trị nên sử dụng các tài khoản của kế toán tài chính nhưng mở chi
toán "tĩnh" ở kế toán tài chính, kế toán động ở kế toán quản trị. Hệ thống kế toán quản
tiết theo yêu cầu quản lý và các báo cáo bộ phận để thu thập, xử lý và cung cấp thông
trị được tổ chức thành bộ máy riêng (phòng kế toán quản trị hay bộ phận kế toán quản
tin một cách kịp thời phục vụ cho quá trình ra các quyết định kinh doanh.
quản trị được thu thập, xử lý thông qua các phương tiện kỹ thuật cao thông qua các
47
48
lợi nhuận thuần như dự kiến. Từ đó có căn cứ định giá bán cho phù hợp để đáp ứng
CHƢƠNG 2
nhu cầu thị trường và khai thác tối đa tiềm năng của doanh nghiệp.
- Chú trọng đến việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế
kỹ thuật và dự toán quá trình sản xuất kinh doanh một cách khoa học, hợp lý. Đặc biệt
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG GIAO THÔNG I THÁI NGUYÊN
chú trọng đến phân tích kết quả hoạt động trong mối quan hệ với chi phí bỏ ra, tìm ra
2.1. Tổng quan về Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên
nguyên nhân của mọi sai lệch, chỉ ra bộ phận chịu trách nhiệm để có giải pháp điều
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CPXD giao thông
chỉnh hợp lý, kịp thời.
I Thái Nguyên
UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Thái. Căn cứ vào tiêu chuẩn xếp loại năm 1986, xí
chất kế toán quản trị chi phí. Từ đó tập trung vào nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề cơ
nghiệp được tỉnh Bắc Thái xếp vào loại Xí nghiệp hạng 2 theo Quyết định số 125/QĐ-
bản của kế toán quản trị chi phí về phân loại chi phí; Các phương pháp xác định chi phí
UB ngày 13/9/1986 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Thái. Tại thời điểm đó, nhiệm vụ
sản xuất sản phẩm dịch vụ; Dự toán chi phí trong doanh nghiệp; Hệ thống báo cáo kế
hàng năm của Xí nghiệp là: Xây dựng mới, nâng cấp nền mặt đường các loại (kể cả hệ
toán quản trị chi phí; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận; Các
thống thoát nước ngang, dọc và các cầu bản gỗ khẩu độ nhỏ) thuộc các tuyến đường
mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Trên cơ sở lý luận cơ bản
trong phạm vi tỉnh Bắc Thái.
chương này đi nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị chi phí ở một số nước
Để phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện
phát triển trên thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh
chủ trương vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân,
Phủ, Công ty Công trình Giao thông I Thái Nguyên được UBND tỉnh Thái Nguyên phê
được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 11 kỳ họp thứ 8 thông
duyệt phương án cổ phần hóa theo Quyết định số 3317/QĐ-UB ngày 17/12/2003 và
qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Công ty đã không ngừng phát triển các hoạt động sản
được đổi tên thành Công ty cổ phần xây dựng giao thông I Thái nguyên. Công ty cổ
xuất kinh doanh của mình nhằm tối đa hoá lợi nhuận để cải thiện điều kiện làm việc,
phần xây dựng giao thông I Thái Nguyên bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 1 năm
nâng cao thu nhập, đời sống người lao động, làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước và
2004. Giấy phép đăng ký kinh doanh số: 17030000072 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh
phát triển công ty ngày càng lớn mạnh.
Thái Nguyên cấp ngày 01/01/2004; đăng ký thay đổi lần đầu ngày 02/01/2004, đăng ký
thay đổi lần 2 ngày 05/08/2008.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh
Công ty CPXD giao thông I Thái Nguyên tổ chức quản lý theo mô hình hai cấp
Công ty cổ phần xây dựng giao thông I Thái Nguyên được thành lập từ việc cổ
(công ty - đội thi công). Với kiểu tổ chức theo mô hình này, các đội chịu sự chỉ đạo
- Sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn.
- Mua bán vật tư thiết bị ngành giao thông.
- Xây dựng điện dân dụng và công nghiệp.
giám đốc.
- Ban kiểm soát: Gồm 3 thành viên trong đó có một trưởng ban.
- Các phòng ban: Bao gồm phòng tổ chức hành chính, phòng kế hoạch kỹ thuật
và phòng kế toán tài vụ.
- Các đơn vị thi công: Các đội, công trường sản xuất trực tiếp. Công ty gồm 5
đội thi công (đội 1, đội 3, đội 5, đội 7, đội 9) và đội xe.
- Tư vấn khảo sát thiết kế các công trình giao thông.
Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty:
- Kinh doanh bất động sản và cơ sở hạ tầng.
* Đại hội đồng cổ đông:
Việc mở rộng, thu hẹp hoặc thay đổi nội dung ngành nghề, phạm vi hoạt động
sản xuất kinh doanh do đại hội đồng cổ đông quyết định.
Bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của
công ty gồm có: