TIỂU LUẬN
Đề tài:
VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hà Nội, 2014
MỞ ĐẦU
Thuật ngữ “xã hội hoá” đã được nhắc tới ngày càng nhiều từ khi Đảng
và Nhà nước ta có chính sách đổi mới. Tuy vẫn còn có các nhận thức khác
nhau về hoạt động XHH, nhưng tất cả đều có một điểm chung khi đều coi
XHH là sự phối hợp giữa Nhà nước và nhân dân để cùng làm, cùng triển khai
một công việc nào đó mà trước đây vốn chỉ là của Nhà nước. XHH thể hiện
trách nhiệm, sự đóng góp của các thành phần trong xã hội vào sự phát triển
chung của đất nước.
Ở Việt Nam, đối với một số ngành, một số lĩnh vực, thuật ngữ và
hoạt động XHH được bàn luận và thực hiện khá hiệu quả, trong đó nổi bật
là ngành giáo dục, ngành y tế. Ngay đối với các tờ báo in, việc tổ chức mở
rộng đội ngũ cộng tác viên, phát huy năng lực của xã hội để làm cho thông
tin thêm phong phú đa dạng cũng được xem là hoạt động XHH và là một
việc làm tốt rất được khuyến khích. Nhưng khi nói đến XHH SXCTTH thì
các ý kiến lại rất dè dặt và chưa thống nhất. Một số quan điểm cho rằng:
XHH SXCTTH là một xu thế, là một việc làm cần kíp. Nếu không mở cửa
đón nhận xu thế này truyền hình sẽ đánh mất cơ hội vàng để phát triển.
Nhưng cũng có quan điểm lại cho rằng: không nên tiến hành XHH đối với
lĩnh vực tư tưởng nói chung đối với truyền hình nói riêng. Theo quan điểm
này, XHH đồng nghĩa với tư nhân hoá và là một vấn đề nhạy cảm cần hết
sức thận trọng. Thậm chí, có người còn lo lắng khi thực hiện XHH
SXCTTH, loại hình truyền thông này sẽ bị thao túng bởi các quyền lợi cá
trợ, quảng cáo, quảng bá thương hiệu để đầu tư cho sự phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động XHH SXCTTH
cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với truyền hình trên nhiều
phương diện: quản lý nội dung, cấu trúc nhân sự, xây dựng chiến lược phát
triển, đặc biệt là giữ vững định hướng tuyên truyền… Hiện tại, phương thức
khai thác nguồn lực xã hội, sự phối hợp giữa đài TH và các đối tác vẫn còn
nhiều điểm chưa được thống nhất làm cho việc sản xuất chương trình rơi vào
tình trạng bị động, lúng túng trong quá trình thực hiện. Điều này thể hiện
trong giải quyết mối quan hệ giữa định hướng chính trị và lợi ích kinh tế;
3
trong việc giám sát, lựa chọn các chương trình hợp tác. Đài TH thì muốn huy
động nguồn chất xám, kỹ thuật, tài chính từ bên ngoài đài nhưng lại không thể
phát ngôn theo quan điểm của các đơn vị phối hợp. Trong khi đó, là người bỏ
tiền đầu tư, các đơn vị phối hợp thì lại muốn thông tin được đưa theo cách
thức của họ.
Bị động trong cách quản lý, trong vai trò của người tổ chức thực hiện,
và cho đến nay, truyền hình vẫn chưa đưa ra được những phương thức hợp
tác phù hợp nhất để đem lại lợi ích thiết thực cho mình và cho cả phía đối
tác. Ngoài ra, cách thức tiếp nhận sự tham gia, đóng góp của các đơn vị bên
ngoài ở mỗi đài TH mỗi khác, chính vì vậy làm cho đối tác gặp nhiều phức
tạp khi phối hợp sản xuất.
Như vậy, từ hai bình diện, lý luận và thực tiễn, hoạt động XHH
SXCTTH đều đặt ra những yêu cầu cần phải được nghiên cứu, giải quyết, chỉ
ra cơ sở, nội dung, lối đi và cơ chế vận hành, mở đường giải quyết vấn đề cấp
thiết này. Mặt khác, giải quyết được lời giải cho vấn đề XHH SXCTTH cũng
là điều kiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển đa dạng, phong phú, nâng cao
chất lượng của truyền hình Việt Nam, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thưởng thức
Information: A History, a Theory, a Flood) [113]; “Báo chí phát thanh truyền
hình trong thế kỷ 21” (Broadcast Journalism in the 21st Centuary) [115],
“Truyền hình đòi hỏi trách nhiệm xã hội” (Television Requires
Responsibility) [112]; “Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản và truyền thông
đại chúng” (Communism, Capitalism and the Mass media) [118]; “Truyền
5
hình trong cuộc sống hàng ngày” (La télévision dans la vie quotidienne)
[121], “Sự liên tục của truyền hình” (Permanence de la télévision) [120] ...
Các tài liệu nghiên cứu sâu về hoạt động XHH trong truyền thông hay
truyền hình mặc dù rất ít nhưng cũng đã khẳng định vai trò, sự tất yếu của xã
hội trong việc hợp tác, tham gia vào lĩnh vực này. Sự tham gia của xã hội làm
cho hoạt động truyền thông thêm sôi động và đa dạng.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu cũng cho thấy: mỗi nước, mỗi xã hội do đặc
điểm văn hóa và chính trị khác nhau nên mỗi quốc gia có một hệ thống báo
chí và mô hình báo chí riêng với cách quản lý riêng. Điều này làm cho hệ
thống báo chí trở nên đa dạng. Trên thế giới có hai mô hình quản lý truyền
hình: truyền hình công và truyền hình tư nhân (thương mại). Tùy mỗi nước
mà tồn tại chỉ một hay song hành cả hai. Một số công trình tiêu biểu đã phân
tích rõ điều này như: “Tiếp cận của nước Anh với truyền hình phục vụ công
chúng”; “Giá trị châu Á trong báo chí” (Asian Values in Journalism) [116];
“Điều gì đã xảy ra với giá trị châu Á” (Whats happened to Asian Values –
Australian national University) [117]...
Các nghiên cứu này đã chỉ ra những “giá trị phương Tây” và “giá trị
châu Á” – chỉ ra sự khác nhau trong nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm,
sự tham gia của xã hội, đối tượng quản lý của báo chí nói chung, truyền hình
nói riêng đặc biệt là ở các nước phương Tây và châu Á. Tuy nhiên, cũng qua
các nghiên cứu thấy rằng, hầu hết các nhà nghiên cứu, các tài liệu nghiên cứu
nhỏ lẻ và thường được nghiên cứu như một tác nhân nhỏ thúc đẩy sự phát
triển của truyền hình trong xã hội hiện đại hoặc một giải pháp giúp truyền
hình hội nhập phát triển. Các công trình đó có thể kể tới đó là:
+ “Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập” (Nguyễn Thị Mai Hồng (2006), Tiểu luận, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, Hà Nội 2006).
Tiểu luận chỉ ra một số xu hướng phát triển của truyền hình về nội
dung, công nghệ, sự phát triển của thể loại truyền hình tương tác. Vấn đề
XHH tuy cũng được tác giả đề cập nhưng do khuôn khổ và mục đích của tiểu
luận nên nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở sự liệt kê những biểu hiện của
hoạt động XHH SXCTTH. Việc phân tích sâu, kỹ để chỉ ra bản chất, lộ trình,
nguyên tắc thực hiện XHH và những vấn đề ngành truyền hình Việt Nam phải
đối mặt khi tham gia tiến trình này còn rất chừng mực, sơ sài.
7
+ “Truyền hình Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hoá thông tin”
(Nguyễn Thị Tuyết (2007), Khoá luận tốt nghiệp Đại học - Học viện Báo chí
và Tuyên truyền, Hà Nội).
Khoá luận này chủ yếu tập trung phân tích vai trò, trách nhiệm của
truyền hình Việt Nam với việc thông tin tuyên truyền trong bối cảnh toàn cầu
hoá. Toàn cầu hoá vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với xã hội nói chung,
đối với các phương tiện truyền thông nói riêng. Để hội nhập, cạnh tranh được
với truyền hình các nước phát triển trên thế giới những người làm truyền hình
phải không ngừng nâng cao chất lượng chương trình, mở rộng diện phát sóng.
Khoá luận khẳng định để làm được điều này, một trong những giải pháp cần
đề cập tới là phải đẩy nhanh XHH truyền hình. Toàn bộ khoá luận 69 trang,
nhưng chỉ có một trang đề cập đến vấn đề XHH. Điều này chưa thể phân tích
một cách cặn kẽ về XHH - một vấn đề lớn và nóng trong lĩnh vực truyền hình
hiện nay.
Việt Nam trên cơ sở lựa chọn một chương trình cụ thể là “Làm giàu không
khó” phát sóng trên VTV1, thời gian khảo sát chương trình trong 3 tháng.
Như vậy, có thể thấy vấn đề đặt ra lớn nhưng phạm vi, đối tượng khảo sát
nhỏ, hẹp, chính vì vậy việc đánh giá xu thế và đưa ra giải pháp mới chỉ dừng
lại ở một mức độ nhất định chưa mang tính khái quát, chưa đáp ứng được
những đòi hỏi của sự phát triển chung của ngành truyền hình Việt Nam.
+“Xã hội hoá sản xuất chương trình TH hiện nay - Khảo sát tại Đài
Phát thanh và Truyền hình Hà Tây 2004 - 2006” (Vũ Thu Hà (2007), Luận
văn Thạc sĩ Khoa học Báo chí - Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội)
Luận văn tập trung vào việc phân tích đặc điểm, thực trạng, ưu, nhược
điểm của hoạt động XHH truyền hình ở Đài PTTH Hà Tây. Những đúc rút
đưa ra mới chỉ dừng lại ở quy mô, tính chất của một đài TH địa phương, chưa
bao quát được mọi lĩnh vực của vấn đề XHH của cả ngành truyền hình Việt
Nam nói chung.
+“Xã hội hoá truyền hình qua sản xuất chương trình Thế hệ tôi ở
VTV6 Đài TH Việt Nam - Khảo sát từ tháng 8/2007 đến tháng 4/2008”
(Phan Thị Hoài (2008), Khoá luận tốt nghiệp Đại học - Học viện Báo chí
và Tuyên truyền, Hà Nội).
9
Giống như những nghiên cứu trên, khóa luận này cũng chỉ đề cập đến
nhìn nhận vấn đề XHH SXCTTH qua khảo sát một chương trình cụ thể.
Chính vì vậy, việc đúc rút để tìm ra quy luật, cùng những phương thức, mô
hình XHH SXCTTH ở quy mô lớn hoàn toàn chưa thực hiện được.
+ “Tác động của các công ty truyền thông tới hoạt động sản xuất
Gameshow của VTV3 – Đài TH Việt Nam (Khảo sát chương trình “Hãy chọn
giá đúng” từ tháng 1/2008 đến tháng 5/2008) (Nguyễn Hồng Dương (2008),
+ “Những yếu tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển hoạt động xã hội hóa
sản xuất chương trình TH ở Việt Nam” (Khảo sát ở Đài THVN từ năm 2006
đến năm 2011) (Dương Như Ý (2011), Khóa luận tốt nghiệp Đại học -Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội)
Tính đến thời điểm này, đây là nghiên cứu mới nhất về vấn đề XHH
SXCTTH. So với các nghiên cứu trước, công trình này đã xác định được đối
tượng nghiên cứu rõ ràng vì vậy quá trình triển khai tương đối mạch lạc.
Khóa luận đã bước đầu chỉ ra được nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện của hoạt
động XHH ở THVN – đây là cơ sở quan trọng giúp đài và các đơn vị tham
gia hoạt động truyền hình có thể tham khảo để phát huy hiệu quả, hạn chế
những nhược điểm để hoạt động XHH ngày càng phát triển mạnh mẽ, lành
mạnh. Tuy nhiên, do điều kiện đây chỉ là một khóa luận tốt nghiệp (thời gian
nghiên cứu ngắn, dung lượng văn bản ít) nên khóa luận chưa chỉ ra một cách
thấu đáo ưu, nhược của từng yếu tố đó; yếu tố nào cần phát huy và yếu tố nào
cần có những giải pháp cụ thể để thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển theo
chiều hướng tiêu cực trong điều kiện của Việt Nam. Chính vì vậy, khóa luận
chưa đưa ra được một khung lý thuyết đầy đủ về góc độ nghiên cứu này.
- Nhóm thứ ba: vấn đề XHH SXCTTH được đề cập tới trong những
tham luận tại các hội thảo khoa học.
Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (2006) và 26 (2007) tại Nha
Trang và TP. Hồ Chí Minh là hai điển hình. Hai kỳ Liên hoan này đã có một
số cuộc hội thảo đề cập đến vấn đề XHH SXCTTH. Nhưng đa số các tham
luận và các ý kiến ở đây mới chỉ mang tính đặt vấn đề, thậm chí lại đặt ra một
loạt câu hỏi lớn khác mà chưa có câu trả lời thuyết phục như: XHH truyền
hình: Cạnh tranh hay hợp tác?; XHH truyền hình: đã đến lúc?” ….
Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 31 tại Đà Nẵng có hội thảo
mang tên: “Sức mạnh của tin tức địa phương”. Không nói trực tiếp đến thuật
11
nghệ thuật, thông tin với bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng
vùng. Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu
12
tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, khuyến khích các
tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia...[43, tr.214].
Từ những định hướng trong văn kiện của Đảng, nhiều Nghị quyết đã ra
đời nhằm cụ thể hóa những định hướng đó, như Nghị quyết số 05/2005/NQ CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh các hoạt động XHH trong lĩnh vực giáo dục,
y tế, văn hóa thể dục thể thao và du lịch.
Gần đây nhất, có Thông tư số 19/2009/TT - BTTTT của Bộ TT & TT,
quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh,
truyền hình. Hay, Nghị định số 02/2011/NĐ - CP của Chính phủ, quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản...
Đó là những định hướng tư tưởng, những quy định, quy chế quan trọng
góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển hoạt động XHH nói chung, XHH
SXCTTH nói riêng. Những qui định này đã giúp cho các hoạt động XHH
trong truyền hình được quản lý tốt hơn, tuy nhiên do còn mang tính khái quát,
còn những điểm chưa bắt kịp yêu cầu thực tế vì vậy sự phát triển của hoạt
động XHH SXCTTH thời gian qua vẫn còn khá nhiều bất cập.
- Ngoài những công trình nghiên cứu trên, một số tờ báo, trang web
cũng có những bài viết đơn lẻ đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn
đề XHH truyền hình như: “Xã hội hoá chương trình TH: nhà nước và tư
nhân đều có nỗi niềm” [86], “Xã hội hoá truyền hình: không phải phân lô,
bán sóng”[108], “Xã hội hóa nhưng phải nắm sóng” [76]...
3. Kết quả nghiên cứu, khảo sát
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên bước đầu đã đề cập đến
một số khía cạnh của vấn đề XHH sản xuất truyền hình như: ý nghĩa của hoạt
động XHH, vai trò của các thành viên trong việc phối hợp sản xuất chương
cơ sở chúng tôi sẽ thực hiện luận án nghiên cứu sinh của mình. Đây sẽ là công
trình đầu tiên đề cập một cách khá đầy đủ và có hệ thống về hoạt động này.
Trong luận án, chúng tôi sẽ kế thừa những ý tưởng khai phá của những nhà
nghiên cứu đi trước và coi đó là tiền đề lý luận và thực tiễn để triển khai đề tài
nghiên cứu của mình.
14
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu lí luận cũng như thực tiễn thấy rằng XHH sản xuất
chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay đang là một vấn đề lớn
không chỉ các cơ quan quản lý nhà nước, các đài TH quan tâm mà còn là
đối tượng nghiên cứu của nhiều đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân trong xã
hội. Bởi đây là một hoạt động đem lại nhiều lợi ích hấp dẫn cho những
người tham gia. Tuy nhiên, quá trình phát triển và quản lý hoạt động
XHH ở Việt Nam hiện nay đã nảy sinh nhiều điểm bất cập đòi hỏi cấp
thiết phải có những tổng kết thực tiễn, khái quát thành lí luận đây là
những cơ sở quan trọng để khai thác, phát huy tối đa hiệu quả của hoạt
động này ở Việt Nam.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. Alvin Toffler (2002), Thăng trầm quyền lực, Tập 2, Nxb Thanh niên, Hà
Nội
2. Trâm Anh (2007), Xã hội hoá các chương trình truyền hình: cạnh tranh hay
hợp tác?, Thanhnien online
15. Chính phủ (2008), Báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật
về công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe nhân dân, Hà Nội.
16. Chính phủ (2010) Quy hoạch phát triển Đài TH Việt Nam đến năm 2010,
Hà Nội
17. Chính phủ (2011), Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
báo chí, xuất bản, Hà Nội
18. Vũ Chung (2004), Xã hội hoá truyền hình - xu thế tất yếu, Tạp chí Báo chí
và Tuyên truyền
19. Lê Văn Duy (1998), Xã hội hóa điện ảnh - thực trạng và giải pháp, Văn
hóa nghệ thuật
20. Đinh Xuân Dũng (2000), Xã hội hoá hoạt động văn hoá - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
21. Nguyễn Văn Dững (1998), Phạm vi bao quát và tăng cường hiệu lực
quản lý nhà nước thi hành Luật Báo chí, Tạp chí Báo chí và Tuyên
truyền, số 4.
22. Ngô Thành Dương (2006), Bàn về khái niệm xã hội hóa, Tạp chí Cộng
sản, số 6.
23. Đài PTTH Đà Nẵng (2009), Báo cáo tình hình liên kết sản xuất các
chương trình Phát thanh - Truyền hình, Đà Nẵng
24. Đài PTTH Đà Nẵng (2009), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm
2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Đà Nẵng
25. Đài PTTH Hà Giang, Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ công
tác
PT - TH và phong trào thi đua năm 2009, 2010.
17
26. Đài PTTH Nghệ An, Báo cáo tổng kết hoạt động Phát thanh - Truyền
hình năm 2009, 2010, 2011
42. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
43. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
44. G.V. Cudơnhetxốp, X.L.Xvich, A.la.lurốpxki (2004), Báo chí truyền hình,
tập 2, Nxb Thông tấn.
45. Phan Hồng Giang (1999), Mấy ghi nhận về xã hội hoá văn hoá và điện
ảnh ở Trung Quốc, Văn hoá Nghệ thuật.
46. Phan Thanh Giang (2000), Điện ảnh trong xu thế xã hội hoá, Văn hoá nghệ
thuật
47. Grabennhicop (2003), Báo chí trong kinh tế thị trường, NXB Thông tấn,
Hà Nội
48. Vũ Thu Hà (2007), Xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình hiện
nay - Khảo sát tại Đài PTTH Hà Tây 2004 - 2006, Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Báo chí - ĐH Quốc gia Hà Nội.
49. Phạm Minh Hạc (1997), Xã hội hoá công tác giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
50. Đinh Thị Thuý Hằng, Báo chí thế giới xu hướng phát triển, NXB Thông
Tấn, 2008
51. Trần Thanh Hiệp (1999), Bước đầu nhận thức về xã hội hoá hoạt động
điện ảnh, Văn học nghệ thuật
52. Chử Kim Hoa (2002), Quản lý nhà nước về báo chí thời kỳ đổi mới (khảo
sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ 1986 - 2001), Luận văn
Thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn, Phân viện Báo chí và Tuyên
truyền, Hà Nội
53. Lê Như Hoa (chủ biên) (1996), Xã hội hoá hoạt động văn hoá, NXB Văn
hoá - Thông tin, Hà Nội
54. Như Hoa (2009), Nhiều kênh truyền hình xã hội hóa hay tư nhân hóa, Sài
Gòn giải phóng online
trình triết học Mác - Lê nin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
66. Hội nhà báo Việt Nam (1998), Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân
của nhà báo, Hà Nội
20
67. Bình Huyền (2011), Tỉnh đề nghị “cho tồn tại” kênh truyền hình “lụi”
(báo
Công an nhân dân điện tử, ngày 17/5/2011).
68. Đinh Quang Hưng (1995), Truyền hình Việt Nam trước những thử thách
mới, Tạp chí Truyền hình
69. Đinh Quang Hưng (1996), Đa dạng hoá nguồn tài chính phát triển ngành
truyền hình, Tạp chí Tài chính.
70. Đinh Quang Hưng (1996), Đa dạng hoá sản phẩm truyền hình đáp ứng
nhu cầu xã hội, Tạp chí tia sáng
71. Đinh Quang Hưng (1996), Những phương hướng và biện pháp chủ yếu
nhằm phát triển sản phẩm truyền hình cho phù hợp với cung cầu về
truyền hình ở Việt Nam hiện nay, Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế,
Hà Nội
72. Đinh Quang Hưng (1996), Về mô hình sản xuất chương trình truyền hình,
Tạp chí Khoa học và phát triển
73. Đinh Quang Hưng (1996), Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam,
Tạp chí khoa học và phát triển
74. John hohenberg (1974), Kí giả chuyên nghiệp, NXB Sài Gòn
75. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
76. Ngọc Lành (2009), Xã hội hóa nhưng phải “nắm” sóng, Nhà báo Công luận,
số 46.
77. Ngọc Linh (2011), Ngưng chiếu Anh chàng vượt thời gian, Tuổi trẻ
Hà Nội.
90. Trường Phong (2008), Chúng tôi nghi ngờ kết quả khảo sát của TNS,
Thanh niên online, 8/4/2008
91. Bảo Phương (2011), Thảm họa phim Việt, An ninh Thủ đô, 27/3/2011
92. Dương Xuân Sơn (1996), Báo chí nước ngoài, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà
Nội]
93. Tạp chí cộng sản (2000), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp
đổi mới đất nước, tập 1 và 2, Hà Nội.
22
94. Trần Ngọc Tăng (1999), Vai trò của truyền thông đại chúng trong việc
giáo dục thẩm mỹ cho nhân dân ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ
Triết học, Hà Nội
95. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
96. Tạ Ngọc Tấn (2005), Những bài học của một nền báo chí chiến đấu, Tạp
chí cộng sản điện tử, số 85.
97. Tạ Ngọc Tấn (2006), Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, NXB Văn hoá
thông tin, Hà Nội
98. TNS media Vietnam, Báo cáo truyền hình hàng tháng năm 2009, 2010,
2011
99. Thái Kế Toại (1999), Tiếp cận vấn đề xã hội hoá các hoạt động văn hoá,
Văn hoá nghệ thuật
100. Tiền phong online (2007), Trung Quốc: người dân tham gia làm truyền
hình, 9/8/2007
101. Trần Đăng Tuấn (1998), Kết hợp với truyền hình: một hướng xã hội hóa
điện ảnh, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 3 (tháng 5 - 6), 1998
102. Lê Xuân Tùng (2001), Công tác tư tưởng, văn hóa, khoa giáo và nâng
University press
115. K. M. Shrivastava, Broadcast Journalism in the 21st Centuary (Báo chí phát
thanh truyền hình trong thế kỷ 21)
116. Masterton, Murray (1996), Asian Values in Journalism (Giá trị châu Á
trong báo chí), AMIC
117. Milner, Anthony (1999), Whats happened to Asian Values? (Điều gì đã
xảy ra với giá trị châu Á) – Australian national University)
118. Sparks and Reading (1998), Communism, Capitalism and the Mass media
(Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản và truyền thông đại chúng), Sage
Foundation.
- Tiếng Pháp:
119. Kim Djeung (1996), Le cinéma et la mise en scene, Éditions en langues
Etrangerés
120. Gilles Delavaud (2011), Permanence de la télévision, Éditions Apogée
121. Lozenzo Viches (1996), La télévision dans la vie quotidienne, Éditions Apogée
24