tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở việt nam hiện nay - Pdf 19

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình hiện đang ngày một phát
triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhận thức về hoạt động này vẫn còn có nhiều ý
kiến chưa thống nhất. Một số quan điểm cho rằng: XHH sản xuất chương
trình truyền hình là một xu thế, là một việc làm cần kíp. Nếu không mở cửa
đón nhận xu thế này truyền hình sẽ đánh mất cơ hội để phát triển. Nhưng
cũng có quan điểm lại cho rằng: không nên XHH đối với truyền hình, vì nó sẽ
khiến cho truyền hình dễ bị thao túng bởi các quyền lợi cá nhân và các mục
đích kinh doanh thuần tuý. Trong khi, người ta đang còn tranh cãi nhau, thì
XHH trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình vẫn diễn ra. Hoạt động
này mặc dù thúc đẩy quá trình phát triển nhưng lại cũng đang đặt ra những
thách thức không nhỏ đối với đài truyền hình, các đối tác cùng các đơn vị liên
quan trên nhiều phương diện: quản lý nội dung, cấu trúc nhân sự, xây dựng
chiến lược phát triển, đặc biệt là giữ vững định hướng tuyên truyền.
Như vậy, cả trong lý luận và thực tiễn, hoạt động XHH sản xuất chương trình
truyền hình đều đặt ra những yêu cầu cần phải được nghiên cứu, giải quyết
nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của truyền hình Việt Nam, đáp ứng tốt
nhất nhu cầu thông tin, thưởng thức của khán giả.
Với lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương
trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện luận án tiến sĩ chuyên
ngành báo chí học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lí luận và thực tiễn, luận án bổ sung, phát triển
khung lí thuyết về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình; từ cơ
sở này luận án nghiên cứu, dựng nên một bức tranh toàn diện, khái quát về
thực trạng, làm rõ những thành công, hạn chế của hoạt động XHH sản xuất
chương trình truyền hình ở Việt Nam; dự báo xu hướng phát triển và kiến
nghị các giải pháp nhằm giải quyết hợp lý, có hiệu quả hoạt động đó trong
thời gian tới.

ương - địa phương, vùng miền, đoàn thể. Đây là những đài TH hoạt động
XHH xuất hiện sớm và phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lí luận:
Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở quán triệt các văn
kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các kỳ Đại hội gần đây, các chủ trương,
văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hoạt động XHH, hoạt động
báo chí và hệ thống lý luận báo chí nói chung, báo chí truyền hình nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát thực tiễn: được dùng để xác định ý tưởng nghiên
cứu, phác thảo bức tranh về thực trạng, xác định những vấn đề đặt ra trong
hoạt động XHH của ngành truyền hình Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được tiến hành đối với các công trình
khoa học lí luận về truyền hình của các tác giả trong và ngoài nước đã công
bố. Phương pháp này được sử dụng với mục đích khái quát, bổ sung hệ thống
lí thuyết về truyền hình nói chung và hoạt động XHH sản xuất chương trình
truyền hình nói riêng. Đây chính là những lí thuyết cơ sở đánh giá các kết quả
khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê - so sánh: được sử dụng nhằm xác định tần số xuất
hiện, mức độ phát triển, chất lượng, hiệu quả những chương trình có sự phối
hợp sản xuất giữa đài truyền hình với các đối tác bên ngoài với những
chương trình hoàn toàn do phóng viên của đài độc lập sản xuất. Phương
pháp này được dựa chủ yếu vào các báo cáo thống kê định kỳ, các điều tra và
khảo sát chuyên môn của các Đài, các công ty truyền thông và các đơn vị liên
quan thực hiện.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:được dùng để phân tích, đánh giá và
tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những thành công, hạn chế,
nguyên nhân cùng những thách thức trong quá trình thực hiện XHH sản xuất
chương trình truyền hình ở nước ta.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với 35 cán bộ lãnh đạo quản

- Thứ nhất: Luận án triển khai nghiên cứu hệ thống và khái quát hóa khung
lý thuyết về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình: (1)Làm rõ
khái niệm về XHH sản xuất chương trình truyền hình và một số khái niệm liên
quan để so sánh. (2)Tính tất yếu của hoạt động XHH. (3)Các hình thức XHH
sản xuất chủ yếu. (4)Những nguyên tắc để đảm bảo tính định hướng nhưng
vẫn khai thác, khuyến khích được các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt
động sản xuất chương trình truyền hình Khung lý thuyết này cùng các cơ sở
thực tiễn sẽ làm nền tảng, chỗ dựa cho việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề
liên quan đến XHH truyền thông nói chung và XHH sản xuất các chương trình
truyền hình nói riêng.
- Thứ hai: Điều tra, phân tích các hoạt động XHH ở một số đài truyền hình ở
Việt Nam hiện nay một cách toàn diện, chi tiết qua các yếu tố cơ bản: đối
tượng hợp tác, hình thức, nội dung XHH, các phương thức tổ chức, quản lí
hoạt động XHH từ đó nhận định khái quát về thực trạng của hoạt động này
trên thực tế. Luận án khẳng định tính tích cực của hoạt động XHH, đồng thời
chú trọng chỉ rõ những hạn chế cần sớm khắc phục đặc biệt là về nhận thức
cũng như quá trình quản lí hoạt động này.
- Thứ ba: Trên cơ sở các kết luận khái quát đó, kết hợp với phân tích những
kinh nghiệm phát triển lĩnh vực này của một số nước trên thế giới luận án dự
báo những vấn đề đặt ra trong thời gian tới và đưa ra một hệ thống những
giải pháp nhằm góp phần để hoạt động XHH sản xuất chương trình ở Việt
Nam thực hiện có hiệu quả, phù hợp với thực tiễn.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7.1. Ý nghĩa lí luận: Luận án là công trình khoa học đầu tiên tổng kết một
cách hệ thống rút ra các luận điểm, các kết luận có tính lý luận về một vấn đề
mới, đang có nhiều tranh cãi ở Việt Nam đó là XHH hoạt động truyền hình.
Luận án được nghiên cứu thành công sẽ góp phần làm phong phú hơn những
tri thức về truyền hình nói chung, vấn đề sản xuất, hợp tác sản xuất chương
trình truyền hình nói riêng.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực

các văn bản pháp quy. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, một số quy
định về hoạt động này mang tính chất khái quát, chưa bắt kịp yêu cầu thực tế
vì vậy còn nhiều điểm bất cập.
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, một số tờ báo, trang web cũng có
những bài viết đơn lẻ đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề XHH
truyền hình Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên mới bước đầu đề
cập đến một số lát cắt của vấn đề XHH truyền hình.Về mặt học thuật, các công
trình này chưa lý thuyết hóa được một cách khoa học những vấn đề cơ bản
liên quan đến XHH sản xuất chương trình truyền hình. Về mặt thực tiễn, các
công trình này cũng chưa chỉ ra được mạch lạc xu hướng của quá trình XHH
truyền hình, chưa phác hoạ được bức tranh khái quát về thực trạng, lộ trình,
những mô hình, nguyên tắc, những trở ngại khi tiến hành XHH sản xuất
chương trình của ngành truyền hình Việt Nam hiện nay, do vậy, chưa đưa ra
được giải pháp cụ thể để phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động này nhằm
giúp cho ngành truyền hình phát triển mạnh mẽ. Đây chính là khoảng trống
cần tiếp tục được bổ sung và phát triển.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
VỀ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
1.1. Khái niệm
1.1.1. Xã hội hoá
Thuật ngữ “xã hội hóa”, hiện được nhìn nhận, nghiên cứu dưới đa dạng các
góc độ: xã hội học, kinh tế - chính trị học, triết học Mặc dù, mỗi nghiên cứu
có sự định nghĩa khác nhau về cụm từ này nhưng nhìn chung có sự tiệm cận
ở việc cùng cho rằng: “xã hội hóa” chính là quá trình hình thành và khẳng
định tính xã hội của mỗi thành viên hay một sự vật, sự việc nào đó. Trên cơ sở
các phân tích, chúng tôi đưa ra một khái niệm riêng để tiện cho quá trình
nghiên cứu tiếp theo: “Xã hội hóa là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ
của xã hội với một hoạt động, một dịch vụ hay một tri thức vốn là độc quyền

chính. Vậy nên, việc cần có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức, đặc biệt là
các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế vào hoạt động sản xuất chương trình
truyền hình là điều cần thiết.
1.2.2. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Khoa học kỹ thuật phát triển đã giúp cho các thiết bị thực hiện sản xuất
chương trình truyền hình ngày một hiện đại, tiện nghi và đặc biệt là rẻ hơn
rất nhiều so với trước. Đây là cơ hội giúp các cá nhân, tổ chức trong xã hội có
thể dễ dàng tham gia vào hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình
cho đài truyền hình.
1.2.3. Khả năng của các đối tác
Sản phẩm truyền hình được làm ra với một quy trình phức tạp, đòi hỏi nhiều
nguồn lực lớn. Thực tế, có nhiều cá nhân, tổ chức có tiềm lực mạnh về nhân
lực cũng như kinh tế họ sẵn sàng đầu tư làm nên những chương trình chất
lượng thậm chí chương trình “dài hơi” có giá trị để đóng góp với các đài TH.
1.2.4. Lợi ích về kinh tế
Quá trình hợp tác giữa đài TH và đối tác để làm nên sản phẩm truyền hình
bao giờ cũng gắn chặt với lợi ích của các bên. Đặc biệt, đối với đối tác, lợi ích
đó là: được quảng bá thương hiệu nâng cao uy tín của mình trong xã hội và
tìm kiếm các lợi ích về kinh tế từ nhiều nguồn nhưng trong đó lớn nhất là
nguồn thu từ quảng cáo.
1.2.5. Tác động toàn cầu hóa - mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế
Kỷ nguyên toàn cầu hóa không những giúp truyền hình các quốc gia tiếp cận
nhanh chóng với công nghệ sản xuất hiện đại mà còn giúp cho các chương
trình truyền hình các quốc gia trở nên phong phú hơn thông qua các hoạt
động đặt hàng, mua bán, trao đổi chương trình với những đối tác có khả
năng ở nước ngoài.
1.2.6. Áp lực cạnh tranh thông tin
Những nước phát triển có điều kiện về mọi mặt, thông tin truyền hình của họ
phủ sóng rộng khắp mọi ngóc ngách của xã hội, tạo nên áp lực cạnh tranh
thông tin mạnh mẽ giữa các nước, các phương tiện truyền thông. Việc mở

Nếu hình thức hợp tác, khai thác và đặt hàng sản xuất, sản phẩm đài sử
dụng phải trả đối tác bằng tiền hoặc quyền lợi quảng cáo thì hình thức trao
đổi sản phẩm là sự trao đổi chéo các chương trình giữa các đài, các tổ chức
với nhau, không phải chi trả bằng khoản tài chính nào khác.
1.4. Những yêu cầu và điều kiện để hoạt động XHH sản xuất chương trình TH
thành công
1.4.1. Mục đích, yêu cầu đối với hoạt động XHH
- Mục đích: huy động các nguồn lực (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật
chất) từ các tổ chức, cá nhân ngoài đài TH cùng tham gia với đài để tạo ra
nhiều sản phẩm truyền hình chất lượng đáp ứng nhu cầu đa dạng của công
chúng.
- Yêu cầu: sản phẩm truyền hình được sản xuất theo hình thức XHH phong
phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức, đúng định hướng, hài hòa lợi ích của
mỗi bên tham gia; khai thác, sử dụng tối đa và hiệu quả các tiềm năng của
đối tác vào quá trình hợp tác sản xuất; mối quan hệ giữa các bên trong quá
trình hợp tác sản xuất lành mạnh, ổn định và không ngừng phát triển
1.4.2. Những điều kiện để hoạt động XHH sản xuất chương trình TH thành
công
1.4.2.1. Xác định được năng lực sản xuất: Mỗi bên phải xác định được khả
năng về nhân sự, về công nghệ, kỹ thuật và tài chính của mình trước khi tham
gia làm nên sản phẩm truyền hình. Đây là cơ sở quyết định chất lượng sản
phẩm cũng như tốc độ, sức bền của việc hợp tác sản xuất.
1.4.2.2. Xác định được năng lực quản lí: Nhà quản lí phải nắm vững được mục
đích, điểm mạnh, yếu của việc mở rộng phối hợp sản xuất chương trình và trả
lời được các câu hỏi: sản xuất chương trình đó cho ai xem? sản xuất cái gì?
sản xuất bao nhiêu? ai sản xuất? quản lí, duyệt chương trình đó như thế
nào? Từ đó xây dựng chiến lược, lập kế hoạch và điều hành quá trình tạo ra
sản phẩm hiệu quả.
1.4.2.3. Xác định, phân tích được cơ hội và thách thức: Ngoài xác định được
những điểm nội tại của mình (điểm mạnh, điểm yếu), mỗi đơn vị cần phân

Quan điểm phát huy nguồn lực trong xã hội đóng góp cùng với nhà nước để
giải quyết những vấn đề chung của xã hội đã được xác định, đề cập trong
phương hướng phát triển bắt đầu từ đại hội Đảng VIII và các đại hội tiếp sau
này.
1.5.2.2. Phương hướng phát triển của ngành truyền hình trước thực tế XHH
Phát triển theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước trên cơ sở điều kiện,
nhu cầu của mỗi đài truyền hình nhằm mục đích có được nhiều nhất những
chương trình với nội dung phong phú, hấp dẫn phục vụ nhu cầu đa dạng của
khán giả.

Tiểu kết chương 1:
Bản chất của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình là sự tham
gia của mọi cá nhân, tổ chức một cách tự nguyện vào hoạt động làm nên sản
phẩm truyền hình cho một đài TH - nơi mà trước đây vốn là hoạt động độc
quyền của nhà nước. Có nhiều hình thức để xã hội tham gia vào hoạt động
này. Mỗi hình thức có những ưu điểm và hạn chế riêng. Sự đa dạng này tạo ra
sự phong phú cho hoạt động của ngành truyền hình nói chung và hoạt động
tổ chức sản xuất chương trình của mỗi đài nói riêng.
Để hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình thành công, điều
sống còn, quyết định sự tồn tại, thương hiệu của mỗi đơn vị khi tham gia hoạt
động này đó là phải xác định được rõ ràng năng lực sản xuất, trình độ quản lí
của bản thân cũng như đối tác, cơ hội, thách thức phải đối mặt và đặc biệt
phải xây dựng được môi trường hợp tác - cái nôi nuôi dưỡng các mối quan
hệ đa chiều nhưng bền vững.
Những vấn đề lí luận và một số thực tiễn về hoạt động XHH trình bày ở
chương 1 là tiền đề, cơ sở quan trọng để triển khai nội dung các chương tiếp
theo của luận án.
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

lại một số kênh khác thực hiện theo hình thức XHH một phần.
2.2. Đối tượng tham gia hoạt động XHH sản xuất chương trình TH ở Việt
Nam
2.2.1. Các doanh nghiệp truyền thông
Hiện, ở Việt Nam có gần 3.000 doanh nghiệp truyền thông nhưng khảo sát từ
năm 2008 đến 2011 thấy chỉ có khoảng hơn 50 công ty (20 ở miền Bắc, 30
miền Nam) hợp tác thường xuyên với các đài TH. Khảo sát cũng cho thấy, có
công ty chỉ là đối tác duy nhất của một đài nhưng cũng có công ty lại là đối
tác, phối hợp sản xuất cùng một lúc nhiều chương trình với nhiều đài. Mặc
dù, số công ty tham gia thường xuyên còn chưa nhiều nhưng nhóm đối tượng
này đã đóng góp thời lượng sóng gần như lớn nhất so với các đối tượng khác.
2.2.2. Các hãng phim tư nhân
Điều 17, nghị định 54/2010, luật Điện ảnh quy định: tỷ lệ thời lượng phát
sóng phim Việt Nam của mỗi đài TH đạt ít nhất 30% so với tổng thời lượng
phát sóng phim. Nghĩa là cứ hai phim nước ngoài phải có một phim Việt
Nam. Vậy nên, chỉ với các hãng phim truyền hình Nhà nước thì không lo đủ số
lượng phim đó để phát sóng trên các đài. Đến 2010, Việt Nam có khoảng hơn
40 hãng phim tư nhân đã, đang hợp tác sản xuất cung cấp phim cho các đài.
2.2.3. Các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương
Đây là những cơ quan không chỉ cung cấp những nguồn tin nóng hổi, nguồn
tài trợ kịp thời để các phóng viên tác nghiệp mà còn là những cơ quan có mối
quan hệ hợp tác từ lâu và quan trọng trong sản xuất chương trình cho nhiều
đài TH ở Việt Nam. Ví dụ: Bộ Y tế - cơ quan bảo trợ thông tin cho kênh O2TV…
2.2.4. Các cơ quan báo chí
Nhận thức được thế mạnh của truyền hình, hiện nay, ở Việt Nam, nhiều cơ
quan thông tấn, báo chí (báo in, báo mạng điện tử, báo phát thanh ) đã phối
hợp với truyền hình để chia sẻ thông tin và mở rộng tầm ảnh hưởng cũng
như hình ảnh của cơ quan mình. Ví dụ: năm 2009, báo Thời báo kinh tế Việt
Nam, báo Đầu tư đã tham gia một phần với Đài THVN sản xuất “Bản tin tài
chính” (VTV1)…

một đối tác sản xuất. Đài chỉ là người ra đề bài, tư vấn về fomat và nghiệm
thu những chương trình hoàn chỉnh của kênh đó. Hiện, cả nước có 4 đài có
những kênh đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh: Đài THVN, Đài TH
TP. HCM, Đài TH kỹ thuật số VTC, Đài PTTH Hà Nội, với tổng số hơn 20 kênh.
Với hình thức, mức độ này, đối tác đảm đương được thời lượng sản xuất mới
trung bình 3 giờ/19 giờ/ngày.
2.3.3. Khai thác chất liệu và sản phẩm truyền hình
Trong thời gian khảo sát từ 2009 đến 2011, thấy rằng việc khai thác và sử
dụng chất liệu xuất hiện phần lớn ở Đài THVN còn các đài địa phương rất
hãn hữu. Ở Đài THVN, hình thức này lại chỉ thấy sử dụng ở trong một số
chương trình thời sự và số lượng cũng không đáng kể.
So với thành phẩm là chất liệu thô, thành phẩm là những chương trình hoàn
chỉnh chiếm số lượng nhiều hơn. Sản phẩm thuộc đa dạng các thể loại: từ
phim, trò chơi, ca nhạc đến các chương trình văn hóa, thể thao Nhiều đài đã
khai thác sản phẩm của hàng chục đối tác, điều này tạo nên sự phong phú
cho chương trình.
2.3.4. Trao đổi sản phẩm
Ở Việt Nam, hình thức này mới chỉ xuất hiện ở một số đài TH và tần xuất
cũng như mức độ còn rất ít.
Tóm lại, qua khảo sát các hình thức XHH thấy rằng, có 23/40 chương trình
sản xuất theo hình thức đặt hàng được lựa chọn xem thường xuyên (chiếm
57.5%) - xếp vị trí đầu tiên; đứng vị trí được lựa chọn nhiều thứ hai là
chương trình sản xuất theo hình thức hợp tác: 11/40 chương trình (chiếm
27.5%); xếp thứ ba là chương trình sản xuất theo hình thức khai thác: 6/40
chương trình (chiếm 15.0%)
2.4 Thể loại và nội dung các chương trình sản xuất theo hình thức XHH
2.4.1. Chương trình giải trí
Các đối tác tham gia sản xuất đa dạng các dạng chương trình nhưng trong
đó việc sản xuất chương trình giải trí chiếm số lượng lớn với khoảng hơn
50% tổng thời lượng các chương trình XHH ở các đài. Trong số đó, phim, trò

Để có thể tham gia vào hoạt động XHH sản xuất chương trình, các đối tác đều
phải thực hiện quy trình gần giống nhau và đều phải trải qua các bước: nộp
hồ sơ, đài lập hội đồng thẩm định, duyệt. Sau đó sẽ kí kết và thực hiện theo
hợp đồng. Trung tâm quảng cáo - dịch vụ truyền hình và Phòng (hoặc Ban
Thư kí biên tập) của đài TH là hai đầu mối chính giúp đối tác giải quyết về
mặt thủ tục.
2.5.2. Phương thức quản lí hoạt động XHH
- Quản lí cấp nhà nước
Hoạt động XHH phát triển rầm rộ ở nhiều đài nhất là từ đầu những năm
2000, nhưng đến tháng 5/2009 Bộ TT &TT mới có thông tư số 19/2009/TT-
BTTTT quy định về việc “Liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát
thanh, truyền hình”. Mặc dù ra đời muộn nhưng với những điều khoản cụ thể
trong thông tư này đã góp phần làm cho hoạt động XHH ở các đài TH đi vào
khuôn khổ hơn sau một thời gian gần như phát triển tự phát. Tuy nhiên, bên
cạnh những mặt được, việc quản lí hoạt động này vẫn còn tồn tại những thực
tế cần khắc phục.
- Quản lí cấp Đài:
Cách thức duyệt chương trình XHH ở các đài TH hiện nay đều được phân
công cụ thể, quy trình có nhiều điểm chung. Đối với chương trình ở khu vực
quảng bá hay trả tiền đều theo quy trình với khoảng 3 đầu mối duyệt: lãnh
đạo phòng, hội đồng cấp ban và lãnh đạo ban (đài). Tuy nhiên, một số chương
trình ở một số kênh do đặc thù về sản xuất, để đảm bảo chất lượng, chương
trình đã có thêm một số khâu duyệt nữa (ví dụ: SCTV).
Tiểu kết chương 2:
- Hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình hiện phát triển rộng
khắp ở các đài TH trên cả nước. Nhưng hoạt động này phát triển mạnh mẽ
nhất ở bốn đài TH là: Đài THVN, Đài TH TP. HCM, Đài TH kỹ thuật số VTC, Đài
PTTH Hà Nội - đây là những đài ở những địa bàn có mật độ dân cư lớn, trình
độ dân trí cao, điều kiện kinh tế phát triển.
- Qua một thời gian thực hiện XHH thấy rằng việc tham gia vào hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status