TIỂU LUẬN: Quan điểm lịch sử cụ thể với công cuộc đối mới kinh tế ở Việt Nam hiện này - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Quan điểm lịch sử cụ thể với
công cuộc đối mới kinh tế ở
Việt Nam hiện này
A.Đặt Vấn Đề Bước vào thiên niên kỷ mới, loài người đã và đang có những bước
tiến quan trọng trong công cuộc trinh phục thế giới. Những thành tựu
trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật nói riêng và trong mọi mặt của đời

1. Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là
cơ sở hình thành quan điểm lịch sử cụ thể. Mọi sự vật hiện tượng của thế
giới đều tồn tại, vận động và phát triển trong những điều kiện không gian
và thời gian cụ thể xác định. Điều kiện không gian và thời gian có ảnh
hưởng trực tiếp tới tính chất, đặc điểm của sự vật. Cùng một sự vật nhưng
nếu tồn tại trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể khác
nhau thì tính chất, đặc điểm của nó sẽ khác nhau, thậm trí có thể làm thay
đổi hòan toàn bản chất của sự vật.
2. Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể
Quan điểm lịch sử có 3 yêu cầu:
Thứ nhất: Khi phân tích xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó
trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem
những điều kiện không gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất,
đặc điểm của sự vật, hiện tượng. Phải phân tích cụ thể mọi tình hình cụ
thể ảnh hưởng đến sự vật, hiện tượng.
Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào
đó cần phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận
đó. Có như vậy mới đánh giá đúng giá trị và hạn chế của lý luận đó. Việc
tìm ra điểm mạnh và điểm yếu có tác dụng trực tiếp đến quá trình vận
dụng sau này.
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính
đến điều kiện cụ thể của nơi được vận dụng. Điều kiện này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả của sự vận dụng đó.

3. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?


Chính vì những lẽ đó, chúng ta cần phải vận dụng quan điểm lịch sử
cụ thể vào việc nghiên cứu quá trình xây dựng nền KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam.
II. Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa dưới góc nhìn của quan điểm lịch sử cụ thể
1. Những điều kiện cụ thể ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
a. Những điều kiện trong nước
Đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu xuất phát điểm về kinh tế của nước
ta khi bắt đầu đổi mới. Bức tranh chung của kinh tế Việt Nam năm trước
đổi mới là tăng trưởng thấp 3,7%/năm, làm không đủ ăn và dựa vào nguồn
viện trợ bên ngoài rất lớn. Thu nhập quốc dân trong nước, sản xuất chỉ
đáp ứng được 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng. Đến năm 1985 tỷ trọng
thu từ bên ngoài chiếm 10,2% thu nhập quốc dân sử dụng, nợ nước ngoài
lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Cũng vào các năm đó nền kinh tế rơi vào
tình trạng khủng khoảng trầm trọng, siêu lạm phát ở mức 774,7% vào
năm 1986 kéo theo giá cả leo thang và vô phương kiểm soát.
Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém kéo dài
đã để lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ sở vật chất thấp kém với nền KH -
CN, kỹ thuật lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xí nghiệp
đều do Liên Xô cũ giúp đỡ từ trong chiến tranh nên năng suất thấp, chất
lượng kém.
Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nền kinh tế. Về địa hình, nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến, bề
ngang hẹp, địa hình phức tạp mang đậm nét của sự phân dị sâu sắc về điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Các đặc điểm này chi phối sự phân công lao
động xã hội theo lãnh thổ và phát triển các vùng kinh tế. Nằm ở Tây Thái
Bình Dương và Đông Nam á, khu vực phát triển cao, ổn định, nơi cửa ngõ
của giao lưu quốc tế, Việt Nam có nhiều khả năng để phát triển nhiều loại

đổ hàng loạt đã gây nhiều hoang mang cho Đảng và nhân dân ta. Điều này
cũng chứng tỏ rằng đang có rất nhiều thế lực phản động không ngừng tìm
cách phá hoại, lật đổ chế độ CNXH ở nước ta.
b. Những điều kiện thế giới và khu vực

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mặc dù thế giới còn nhiều diễn
biến phức tạp nhưng hoà bình và hợp tác là xu thế chủ đạo, là đòi hỏi bức
xúc của các dân tộc và các quốc gia. Các cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ đạt được những bước tiến vượt bậc đặc biệt trong lĩnh vực tin
học, viễn thông, sinh học, vật liệu mới và năng lượng mới đang đẩy mạnh
quá trình quốc tế hoá cao độ các lực lượng sản xuất dẫn đến sự phân công
lao động quốc tế ngày càng sâu sắc. Như vậy có nghĩa là ngày nay, không
một nền kinh tế nào có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Tình hình
đó đòi hỏi một sự hợp tác ngày càng rộng tạo nên thế tuỳ thuộc lẫn nhau
giữa các nước dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển. Trong lịch
sử phát triển của xã hội có lẽ chưa bao giờ có một sự hợp tác để phát triển
rộng rãi đan xen lồng ghép và nhiều tầng lớp như hiện nay với sự hình
thành nhiều tổ chức kinh tế như ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam
á), WTO (tổ chức thương mại thế giới) AFTA, EU,
Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á,
Châu á Thái Bình Dương, một khu vực được coi là có nền kinh tế năng
động và có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong những năm gần đây.
Hầu hết các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Inđônêsia đều
đã tiến hành nền KTTT được mấy thập kỷ và một số nước đã trở thành các
nước công nghiệp mới (NIC).
Như vậy thế giới và khu vực đã phát triển vượt ta khá xa về mọi
mặt đặc biệt là về kinh tế. Vì thế đã đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức

yếu kém như trên chưa có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp với
từng vùng, từng miền, chúng ta đã rơi vào tình trạng đầu tư phát triển kinh
tế tràn lan, không tập trung, gây nên sự bất hợp lý giữa các vùng.
Cơ cấu giữa các thành phần kinh tế cũng là một vấn đề đáng quan
tâm. Trong giai đoạn này các thành phần kinh tế mới như kinh tế tư bản tư
nhân, kinh tế tư bản Nhà nước chưa phát triển, chủ yếu vẫn là thành phần
kinh tế Nhà nước. Nguyên nhân của vấn đề này là do ta vẫn còn chậm đổi
mới các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đã có trong nền kinh tế bao cấp
cũ và chưa có được những chính sách phù hợp để kinh tế tư bản tư nhân
và tư bản Nhà nước phát triển.
Tóm lại, trong giai đoạn này mặc dù đã đạt được một số thành tựu,
nền kinh tế đã từng bước ổn định và phát triển, các cơn sốt do hậu quả của

cơ chế quan liêu bao cấp đã dần dà vơi đi nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn
chưa bước hẳn ra sự khủng hoảng của những năm trước đổi mới.
2.2Giai đoạn 1991 đến nay
Giai đoạn này, do đã dần điều chỉnh phù hợp với những điều kiện,
nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến nền KTTT nên kinh tế Việt Nam đã đạt
được một số thành tựu đáng kể:
Điều đầu tiên cần nói đến là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương
đối ổn định. Giai đoạn 1986 - 1990, GDP tăng trung bình 3,9% thì đến
giai đoạn này GDP tăng bình quân 8,2%. Cơ cấu giữa các thành phần kinh
tế và các ngành cũng hợp lý hơn. Hàng loạt các công ty, doanh nghiệp tư
nhân hoạt động trong mọi lĩnh vực đã ra đời. Dịch vụ thương mại phát
triển tương đối mạnh đã tạo điều kiện cho việc sản xuất hàng hoá, làm cho
số lượng hàng hoá phong phú hơn và chất lượng không ngừng được cải
tiến. Giao thông vận tải được chú trọng sửa chữa và xây mới nên hàng hoá

III. Một số giải pháp nhằm xây dựng nền KTTT theo định hướng
XHCN
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang từng bước xây dựng cơ sở
vật chất để đẩy mạnh quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN
nhanh chóng đưa đất nước trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Và việc nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng để tìm ra các giải pháp
nhằm khắc phục những mặt yếu kém phát huy những mặt mạnh đang là vấn
đề bức thiết. Cụ thể :
Đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trước mắt
cần tiếp tục cải tiến hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài với
những qui định rõ ràng thông suốt và đơn giản. Về lâu dài cần tiến tới xây
dựng một hành lang pháp lý chung cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng
như trong nước để tạo một sân chơi bình đẳng.
Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước.
Trong lĩnh vực này, huy động tiết kiệm là mục tiêu hàng đầu, từ đó sẽ phát
huy được hết các nguồn nội lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tiếp tục cân đối lại các thành phần kinh tế và các ngành; chú trọng phát
triển kinh tế giữa các vùng hợp lý hơn. Tăng cường hội nhập hợp tác với các nền
kinh tế trong khu vực và thế giới; giữ vững vai trò của Nhà nước trong việc điều
tiết vĩ mô, định hướng nền KTTT theo định hướng XHCN, lấy công bằng xã hội

làm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm nguồn nhân lực thông qua hệ thống
giáo dục đào tạo, bảo đảm y tế, nâng cao trình độ văn hoá cho người lao động.
Giữ vững an ninh, trật tự xã hội, củng cố sự nghiệp quốc phòng an ninh nhằm
ngăn chặn mọi thế lực phản động phá hoại trong và ngoài nước; Tích cực cải tạo
xã hội, xoá bỏ các tệ nạn xã hội như tham nhũng, nghiện hút, mại dâm, ma tuý,
hạn chế ô nhiễm môi trường, giữ vững sự cân bằng sinh thái. Muốn vậy cần nâng

định hướng XHCN Việt Nam sẽ ngày càng phát triển ổn định và nhanh
chóng đuổi kịp trình độ của thế giới, trở thành một nước công nghiệp phát
triển trong tương lai không xa.
d.Tài liệu tham khảo
1. Sách:
- Nguyễn Sinh Cúc “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” - NXB Chính trị quốc gia TP - HCM, năm 1996.

- Giáo trình “Triết học Mác - Lênin” - Tập II, NXB Chính trị quốc
gia, 1997.
2. Tạp chí:
- Nghiên cứu trao đổi số 11 tháng 6 năm 1998.
- Triết học số 4 (110) - tháng 8 - 1998.
- Những vấn đề kinh tế thế giới số 1 (45) năm 1997.
- Cộng sản số 4 (2-2000).
- Triết học số 2 (96) tháng 4 - 1997.
- Triết học số 2 (108) tháng 4 - 1999.
- Triết học số 2 - 2001
Và một số tạp chí khác.

Mục lục

III. Một số giải pháp nhằm xây dựng nền KTTT theo định hướng
XHCN.
12

Kết luận 14

Tài liệu tham khảo 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status