Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết trong tố tụng dân sự việt nam - Pdf 37

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khi một người biệt tích quá lâu khỏi nơi cư trú đã làm gián đoạn các quan hệ xã
hội mà họ đã tham gia, làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của những người có
liên quan đến họ trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh
doanh, thương mại… Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có
liên quan đến người biệt tích trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, lao động,
kinh doanh, thương mại pháp luật quy định các chủ thể này có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
Vấn đề giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết lần đầu
tiên được đề cập đến trong Thông tư số 03-NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC về
trình tự giải quyết việc ly hôn. Sau đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã
chết được quy định tại Điều 10 PLTTGQCVADS và Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19
tháng 10 năm 1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hướng dẫn thi hành
PLTTGQCVADS. Về cơ bản, việc xác định công dân mất tích hoặc là đã chết theo các
quy định của pháp luật TTDS trước thời điểm BLTTDS được ban hành đều được thực
hiện theo một thủ tục chung không tách thành thủ tục việc dân sự và thủ tục án dân sự.
BLTTDS được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 15/6/2004 lần đầu tiên đã đưa quy định thủ tục giải quyết việc dân sự
pháp điển hóa chính thức trong luật. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã
chết là một loại việc dân sự được giải quyết theo một thủ tục độc lập quy định tại Phần
thứ năm: "Thủ tục giải quyết việc dân sự" của BLTTDS. Có thể nói, đây là một bước
đột phá về thủ tục tố tụng, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc giải quyết nhanh, giản
lược các việc mang tính chất đặc trưng là không có tranh chấp nhưng cá nhân, cơ quan,
tổ chức có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn
cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự... Bên cạnh những ưu điểm đạt được của việc
áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người
mất tích hoặc là đã chết, thực tiễn thụ lý và giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất

đại học Luật Hà Nội, năm 2006. Một số các bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý
như: "Xác định thời điểm chết trong trường hợp tuyên bố một người đã chết theo quy
định của pháp luật dân sự", Lê Hồng Hải, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 9/2004;
″Một số quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự″, Tưởng Duy Lượng, Tạp chí
Toà án nhân dân, số 6/2005; ″Những vấn đề cơ bản về thủ tục giải quyết một số việc
dân sự cụ thể″, Tưởng Duy Lượng, Tạp chí TAND, số 11/2005; "Thủ tục giải quyết
việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự", Lê Thu Hà, Tạp chí TAND, số
12/2006; "Tuyên bố một người là đã chết theo Điều 81 Bộ luật dân sự năm 2005",
Nguyễn Minh Hằng, Tạp chí TAND số 11/2009 …. Tuy vậy, các công trình trên mới
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát về thủ tục giải quyết việc dân sự,


3

tiếp cận dưới một vài góc độ của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất
tích hoặc là đã chết. Với tình hình trên, đề tài "Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố
một người mất tích hoặc là đã chết trong tố tụng dân sự Việt Nam", lần đầu tiên
được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ một cách chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ và
đảm bảo được tính logíc, hệ thống, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên
cứu khoa học đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện mục đích:
Một là, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thủ tục giải quyết việc dân sự nói chung
và thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết trong TTDS
nói riêng, tìm hiểu thực tế áp dụng luật thực định để giải quyết yêu cầu tuyên bố một
người mất tích hoặc là đã chết trong hoạt động xét xử của Tòa án;
Hai là, chỉ ra những điểm còn thiếu hoặc chưa hợp lý trong các quy định về thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết của pháp luật TTDS
Việt Nam hiện hành, từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật

cầu về dân sự nói chung cũng như nghiên cứu khái quát các quy định của BLDS về
tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người là đã chết. Tuy nhiên, cách tiếp
cận những vấn đề này chỉ là cơ sở để nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về
thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết theo quy định
của BLTTDS Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến
hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý Nhà nước,
quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng BLTTDS.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên
cứu như: Phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, qui nạp, đối chiếu, so sánh, khảo sát thăm
dò lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả
thống kê... nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về thủ tục giải quyết yêu cầu
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết trong TTDS Việt Nam - một vấn đề mới,
đã và đang gặp nhiều vướng mắc từ thực tiễn xét xử. Luận văn có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn sau đây:


5

Thứ nhất: Lần đầu tiên thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích
hoặc là đã chết được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về vấn đề lý
luận cũng như thực tiễn.
Thứ hai: Quá trình nghiên cứu đề tài tìm ra được những tồn tại trong công tác
xây dựng và thi hành pháp luật về thủ tục giải quyết việc dân sự nói chung và thủ tục
giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết nói riêng. Từ đó đưa ra

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam, nghiên cứu các quy định về việc dân sự trong pháp
luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới như pháp luật tố tụng dân sự của
nước Cộng hòa Pháp, pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga. Từ kết quả nghiên
cứu đó, tác giả rút ra được bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp về quyền
và lợi ích hợp pháp giữa các đương sự do các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp và yêu cầu Tòa án công nhận giá trị pháp lý của
sự thỏa thuận đó hoặc do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ có một bên đương sự
yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý, công nhận hoặc không công nhận quyền
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động.
- Lần đầu tiên tác giải xây dựng một khái niệm mới về thủ tục giải quyết việc
dân sự dự trên cơ sở bản chất của việc dân sự và khái niệm thủ tục tố tụng: Thủ

tục

giải quyết việc dân sự là cách thức, trình tự Tòa án có thẩm quyền tiến hành để xem xét,
giải quyết các việc dân sự theo quy định của pháp luật TTDS.
- Đưa ra trình tự tiến hành thủ tục giải quyết việc dân sự dựa trên các quy định tại
tại Phần thứ năm: "Thủ tục giải quyết việc dân sự" của Bộ luật Tố tụng dân sự:
+ Thủ tục thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự;
+ Thủ tục chuẩn bị xét đơn yêu cầu;
+ Thủ tục mở phiên họp giải quyết việc dân sự;
+ Giải quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm.
1.1.2. Đặc trưng của thủ tục giải quyết việc dân sự
Luận văn đã nêu và phân tích những đặc trưng của thủ tục giải quyết việc dân
sự trên cơ sở so sánh với thủ tục giải quyết vụ án dân sự
Thứ nhất, nguyên tắc giải quyết việc dân sự, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân
tham gia xét xử quy định tại Điều 11 BLTTDS không được áp dụng đối với việc giải
quyết việc dân sự. Ngoài ra, việc giải quyết việc dân sự thông thường do một thẩm
phán giải quyết nên trong nhiều trường hợp nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể quy định
tại Điều 14 BLTTDS cũng không được áp dụng khi giải quyết việc dân sự.

đã chết là trình tự, thủ tục tố tụng do Tòa án có thẩm quyền tiến hành để xem xét chấp
thuận hay không chấp thuận yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết từ
giai đoạn thụ lý đơn yêu cầu đến khi quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có
hiệu lực pháp luật.
- Bản chất của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là
đã chết là yêu cầu Tòa án xác nhận một sự kiện pháp lý, từ sự kiện pháp lý đó sẽ là cơ
sở để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan khởi kiện đề nghị Tòa án có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp trong một vụ án.
1.3. Tuyên bố mất tích, tuyên bố chết từ quy định của Bộ luật dân sự đến
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Trong phần này, Luận văn tiến hành phân tích mối quan hệ mật thiết giữa pháp


8

luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự. Do đó, khi pháp luật dân sự thay đổi tất yếu sẽ
dẫn đến sự thay đổi của pháp luật tố tụng dân sự.
1.4. Cơ sở của việc xây dựng thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người
mất tích hoặc là đã chết trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tại mục này, Luận văn nêu và phân tích các cơ sở của việc xây dựng thủ tục
giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết. Theo đó, cơ sở của việc
xây dựng thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết bao gồm:
1.4.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền là ″nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền
tảng pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm bảo đảm các quyền tự do,
dân chủ của nhân dân và công lý″. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và chế
định về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết trong
pháp luật tố tụng dân sự nói riêng là đòi hỏi tất yếu của yêu cầu xây dựng Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của

phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng là nhượng địa của Pháp. Tương ứng với các chế độ
chính trị khác nhau là hệ thống tổ chức tư pháp khác nhau và các bộ luật riêng biệt cũng
được ban hành. Luật ở Trung phần và Bắc phần lần đầu tiên đã đề cập đến vấn đề tuyên
cáo thất tung và thủ tục tuyên cáo thất tung, theo đó, ″nếu quá hai năm mà không có
được tin tức chi của người đi mất biệt, thân nhân có thể xin Tòa án chỗ trú sở của người
ấy để xác nhận sự thất tung. Tòa án này sẽ ra lệnh mở cuộc điều tra mà người đi mất
chưa về hay không cho tin tức về thì Tòa sẽ lên án tuyên cáo thất tung...″
1.5.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
- Từ năm 1945 - 1954, thủ tục tuyên cáo thất tung theo quy định trong các luật
lệ trước đó vẫn được áp dụng.
- Từ 1954 - 1975, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam, với hai chế độ
chính trị khác nhau do đó tồn tại hai hệ thống pháp luật khác nhau.

Ở miền Bắc, từ

những năm đầu hòa bình lập lại Nhà nước ta đã ban hành một loạt những văn bản pháp
luật TTDS mới và thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết bước
đầu đã được đề cập đến trong Thông tư số 3-NCLP ngày 03 tháng 3 năm 1966 của
TANDTC về trình tự giải quyết việc ly hôn
Ở miền Nam, trong vùng giải phóng, do phải tập trung lãnh đạo thực hiện cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam chưa có điều kiện xây dựng văn bản pháp luật. Trong khi đó,
ở vùng cai trị của chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn thời gian đầu vẫn áp dụng những
văn bản pháp luật TTDS được ban hành dưới thời Pháp thuộc. Từ năm 1960 trở đi,
chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới, đặc biệt phải kể đến


10

Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng được ban hành kèm theo Sắc luật số 030-TT/SLU

do một thẩm phán giải quyết.
- Người yêu cầu, người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được
Tòa án triệu tập tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu. Khi thấy cần thiết, Tòa án có thể
triệu tập người làm chứng, người phiên dịch tham gia phiên họp. Nếu những người này
vắng mặt thì tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án có thể hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến
hành phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
2.3.2. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một
người mất tích hoặc là đã chết
Phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết được
tiến hành theo trình tự sau:


13

- Chuẩn bị khai mạc phiên họp: Thư ký toà án tiến hành phổ biến nội quy phiên
họp; kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp theo
giấy triệu tập, giấy báo của Toà án; nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do;
ổn định trật tự trong phòng họp xét đơn yêu cầu; yêu cầu mọi người trong phòng họp
xét đơn yêu cầu đứng dậy khi thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu tuyên
bố một người mất tích hoặc là đã chết vào phòng họp.
- Khai mạc phiên họp: Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp tuyên bố khai mạc
phiên họp và đọc quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất
tích hoặc là đã chết; kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên họp theo
giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của họ, quyết định hoãn hoặc
vẫn tiến hành phiên họp ...
- Thủ tục hỏi tại phiên họp: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp hỏi người yêu cầu
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có rút yêu cầu không. Nếu họ rút yêu cầu
thẩm phán sẽ áp dụng Điều 311 và Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải
quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết. Nếu họ không rút yêu cầu
thì Chủ tọa phiên họp xét đơn yêu cầu yêu cầu người yêu cầu hoặc người đại diện hợp

có quyền yêu cầu Tòa án đã ra quyết định tuyên bố người đó mất tích hoặc là đã chết
hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
2.4.2. Xét đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là
đã chết
Khi nhận đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là
đã chết, Tòa án cũng tiến hành các thủ tục thụ lý đơn yêu cầu, chuẩn bị xét đơn yêu
cầu giống như khi tiếp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
và tiến hành mở phiên họp để xét đơn yêu cầu. Trên cơ sở xem xét các chứng cứ, tài
liệu do các đương sự cung cấp cho Tòa án, Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận yêu cầu.
2.5. Giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, yêu
cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết theo thủ tục
phúc thẩm
2.5.1. Quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố
một người mất tích hoặc là đã chết, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người
mất tích hoặc là đã chết
Khi không đồng ý với quyết định định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người
mất tích hoặc là đã chết, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc
là đã chết, người yêu cầu và cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, yêu
cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có quyền kháng


15

cáo, VKSND cùng cấp, VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định
giải yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, yêu cầu hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết để yêu cầu TAND cấp trên trực tiếp giải
quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
2.5.2. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết yêu cầu tuyên

- Thành phần xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết yêu cầu
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người mất tích hoặc là đã chết là một tập thể gồm ba thẩm phán.
- Thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự nói chung, quyết định
giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, yêu cầu hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết nói riêng được thực hiện như thủ tục
phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về vụ án dân sự bị kháng cáo
kháng nghị.
CHƯƠNG 3
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT
NGƯỜI MẤT TÍCH HOẶC LÀ ĐÃ CHẾT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Tại chương này, luận văn nêu rõ thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự Việt Nam trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc
là đã chết và đề xuất phương hướng hoàn thiện chế định thủ tục giải quyết yêu cầu
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS Việt Nam về thủ tục yêu
cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết và những khó khăn đặt ra
3.1.1. Tình hình giải quyết việc dân sự của ngành tòa án nhân dân
Qua nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng số việc dân sự nói chung và yêu
cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết nói riêng có xu hướng tăng năm sau
nhiều hơn năm trước, số việc dân sự còn tồn đọng cũng tăng theo. Qua tìm hiểu từ
thực tiễn xét xử, nguyên nhân chính của tình trạng này xuất phát từ sự thiếu vắng,
không đầy đủ, cụ thể của các quy định về thủ tục việc dân sự trong BLTTDS.
3.1.2. Những khó khăn khi áp dụng những quy định của BLTTDS Việt Nam
trong thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
Luận văn đã nêu ra một số khóa khăn khi áp dụng những quy định của
BLTTDS Việt Nam trong thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc
là đã chết. Cụ thể:

thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
- Hoàn thiện chế định thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích
hoặc là đã chết cần dựa trên thực trạng pháp luật về chế định thủ tục giải quyết yêu cầu


18

tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết ở nước ta hiện nay, dựa trên kinh nghiệm
của các nước cũng như của Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật.
3.2.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
3.2.2.1. Về quy định chung về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
- Bổ sung khái niệm đương sự trong việc dân sự, thành phần đương sự trong
việc dân sự. Đồng thời bổ sung các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của đương
sự trong việc dân sự
- Sửa đổi bổ sung quy định về hòa giải trong thủ tục giải quyết việc dân sự theo
hướng bổ sung một điều tại Chương XX BLTTDS về nguyên tắc hòa giải khi giải
quyết việc dân sự , theo đó, Tòa án không tiến hành hòa giải đối với các việc dân sự
trừ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
- Sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 313 BLTTDS theo hướng trường hợp
người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay không có lý
do chính đáng thì Tòa án đều phải hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự
- Sửa đổi quy định về sự tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự của người
có liên quan theo hướng tách đoạn ″Trong trường hợp cần thiết, Toà án có thể triệu
tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu có
người vắng mặt thì Toà án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp″
tại khoản 4 Điều 313 BLTTDS thành một khoản khác tại điều này. Đồng thời, sửa đổi,

việc người đó còn sống.
- Sửa đổi quy định về những tài liệu chứng cứ phải nộp kèm theo đơn yêu cầu
tuyên bố một người mất tích theo hướng bỏ cụm từ ″và chứng minh cho việc người yêu
cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm″ tại khoản 3 Điều 330
BLTTDS.
- Sửa đổi quy định về thông báo tìm kiếm người mất tích quy định tại khoản 1
Điều 331 BLTTDS theo hướng quy định rõ Tòa án không phải mở phiên họp để ra
quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.
- Bổ sung quy định về thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về người có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết theo hướng bỏ quy định người người
đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết khi trở về có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định
tuyên bố mình là đã chết. Đồng thời, bổ sung quy định người có quyền, lợi ích liên
quan có quyền và nghĩa vụ yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã
chết khi người đó trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống. Bên cạnh đó,
cũng cần hướng dẫn các cơ quan, tổ chức hữu quan như: Ủy ban nhân dân nơi người


20

người bị tuyên bố mất tích hoặc đã chết cư trú, cơ quan tiến hành tố tụng … cần áp
dụng Điều 311 và Điều 162 BLTTDS yêu cầu TAND có thẩm quyền hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
3.2.3. Hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự về tuyên bố một người
mất tích hoặc là đã chết
3.2.3.1. Sửa đổi quy định tại Điều 78 BLDS năm 2005 theo hướng bỏ cụm từ
"mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp
luật TTDS nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết" tại
Điều 78 BLDS năm 2005
3.2.3.2. Sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 81 BLDS năm 2005 theo hướng cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status