TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________
***
__________________
NGUYỄN HỮU TRÌNH
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của phương pháp quản lý
chuột hại cho lúa theo hướng bền vững sinh thái tại
xã Lê Hồ huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________
***
__________________
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của phương pháp
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn đến những cá nhân và tập thể đó:
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến người hướng dẫn
khoa học TS. Nguyễn Thị Dương Nga, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, tập thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Xin cám ơn tập thể các cơ quan, ban, ngành: Chi Cục BVTV tỉnh Hà
Nam, UBND và người dân xã Lê Hồ - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu để nghiên cứu khóa luận
này.
Xin cảm ơn tập thể lớp Kinh tế A khoá 51 Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội đã cùng chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân và bạn bè đã cùng chia
sẻ những khó khăn, động viên và tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu để hoàn
thành khóa luận.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ của tập thể,
người thân và bạn bè đã dành cho tôi!
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
NGUYỄN HỮU TRÌNH
ii
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI................................................................1
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN.........................................................1
Reference source not found
Biểu đồ 4.9.1: So sánh thời gian và số ngày cho quản lý chuột hại của hai nhóm
hộ điều tra......................................................Error: Reference source not found
iv
Bảng 4.10: Tỷ lệ thiệt hại năng suất so với trước khi dùng bẫy cây trồng cộng
đồng giữa các nhóm hộ..................................Error: Reference source not found
Bảng 4.11: Chi phí quản lý chuột theo phương pháp thông thường (Tr.đ/ha) Error:
Reference source not found
Bảng 4.12: Chi phí quản lý chuột theo phương pháp bẫy cây trồng (đ/ha)
......................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.13 : Hiệu quả của phương pháp diệt chuột bằng bẫy cây trồng so với
phương pháp thông thường cho lúa tại xã Lê Hồ, Kim Bảng, Hà Nam....Error:
Reference source not found
Bảng 4.14: Ý kiến của người dân về ảnh hưởng của sử dụng một số biện pháp
diệt chuột.......................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.15: Phương hướng áp dụng các biện pháp quản lý chuột hại của nông
dân trong thời gian tới....................................Error: Reference source not found
Biểu đồ 4.16.1 Số hộ trả lời sẽ áp dụng bẫy cây trồng trong thời gian tới. . .Error:
Reference source not found
Bảng 4.17: Các lý do nông dân tăng sử dụng thuốc hóa học trong thời gian tới
......................................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.18: Các lý do nông dân sẽ áp dụng biện pháp quản lý chuột hại theo
hưỡng bền vững sinh thái sử dụng bẫy cây trồng......Error: Reference source not
found
Bảng 4.19 Các khó khăn khi áp dụng biện pháp quản lý chuột hại theo hưỡng
bền vững sinh thái sử dụng bẫy cây trồng......Error: Reference source not found
SL
Số lượng
LĐ
Lao động
LĐNN
NN
NTTS
CN - TMDV
Lao động nông nghiệp
Nông nghiệp
Nuôi trồng thủy sản
Công nghiệp – Thương mại dịch vụ
C1
Cấp I
C2
Cấp II
GTSX
Giá trị sản xuất
Nông dân
TT
Thị trường
HTX
Hợp tác xã
vi
Phần I: Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuột là một loại dịch hại nguy hiểm, chúng phá hoại lớn, dễ gây thành
dịch, việc phòng trừ chuột rất khó khăn và tốn kém. Đa số các loài chuột gây hại
cho sản xuất nông nghiệp thuộc giống Rattus, họ chuột (Muridae), bộ gặm nhấm
(Rodentia). Trong những năm gần đây ở hầu hết các tỉnh trên toàn quốc các tỉnh
đồng bằng, trung du miền núi phía bắc, Miền Trung, Tây Nguyên, Miền Đông
Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long … Chuột đã gây hại lúa, ngô, đậu, mía và
những cây lương thực cây công nghiệp khác rất nghiêm trọng. Diện tích cây
trồng bị thiệt hại do chuột gây hại liên tục tăng lên. Năm 1995 là 245000 ha, năm
1997 là 375000 ha, năm 1998 hơn 600000 ha, năm 1999 là 540000, năm 2000 là
236000 ha. Nhà nước đã chi hàng chục tỷ đồng cho công tác phòng phòng trừ
chuột. Năm 1999 chi hơn 18 tỷ đồng trong đó các tỉnh phía bắc đã chi 7,7 tỷ
đồng. Năm 2000 kinh phí hỗ trợ kinh phí hỗ trợ nuôi mèo ở các địa phương để
bắt chuột là 8,04 tỷ đồng (Báo cáo tổng kết cục BVTV, 1998, 1999, 2000).
Chuột hại là nhân tố quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp lúa nước, gây hại
trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng cây lúa, từ khi gieo hạt đẻ nhánh, làm đồng
nông dân áp dụng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới này.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp quản lý
chuột hại cho lúa và hiệu quả kinh tế.
+
Phản ánh thực trạng áp dụng các biện pháp quản lý chuột hại cho lúa tại
xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng.
+ Đánh giá và so sánh hiệu quả kinh tế của phương pháp quản lý chuột hại
cho lúa theo hướng bền vững sinh thái và phương pháp quản lý chuột hại thông
thường của hộ nông dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam.
2
+
Đề xuất một số kiến nghị nhằm khuyến khích các hộ nông dân áp dụng
phương pháp quản lý chuột hại cho lúa theo hướng bền vững sinh thái.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của việc áp dụng phương pháp quản lý chuột
hại theo hướng bền vững sinh thái thông qua việc điều tra, khảo sát các hộ nông
dân trồng lúa tại xã Lê Hồ huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tổng quát về HQKT là so sánh kết quả đạt được với chi phí đã bỏ ra để
đạt được kết quả đó. Tuy nhiên khái niệm HQKT của các nhà kinh tế ở nhiều
nước và nhiều lĩnh vực có quan điểm nhìn nhận rất khác nhau. Ở đây chúng tôi
chỉ đưa ra một số quan điểm sau:
- Quan điểm 1: Xem xét HQKT trong trạng thái tĩnh.
HQKT được xác định bởi tỷ số giữa các kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả đó, bao gồm cảc nhân tài và vật lực. Công thức:
4
H=
Trong đó:
Q
C
-
H: HQKT
-
Q: Kết quả đạt được
-
C: Chi phí bỏ ra
Theo Culicop, HQKT là kết quả của một nền sản xuất nhất định, tức là
này nhằm so sánh giữa phương pháp quản lý chuột hại theo hướng BVST và
theo cách làm thông thường của người dân.
Như vậy, HQKT cần phải được xem xét một cách toàn diện, trên quan
điểm toàn diện. Có quan điểm cho rằng: Xem xét HQKT là không thể loại bỏ
mục tiêu về lợi ích xã hội, giữ gìn và bảo vệ môi trường, nâng cao trình độ Văn
hoá – Xã hội của cộng đồng. Đây là quan điểm rất đúng đắn, phù hợp với xu thế
phát triển kinh tế trên Thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Cùng với một số quan điểm của các tác giả Phạm Vân Đình, Đỗ Kim
Chung, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà,… đã phân biệt 3 khái niệm cơ bản về
HQKT, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ các nguồn lực, chỉ khi nào đảm
bảo cùng đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì mới đạt được hiệu
quả kinh tế.
+ Hiệu quả kỹ thuật: Là đơn vị số lượng sản phẩm có thể đạt được trên
một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sản xuất trong những điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật được áp
dụng phổ biến trong Kinh tế Vĩ mô để xem xét việc sử dụng nguồn lực cụ thể,
nó chỉ ra rằng nếu một đơn vị nguồn lực được đưa vào sản xuất đem lại bao
nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật
và công nghệ áp dụng vào trong sản xuất nông nghiệp, kỹ năng của người nông
dân, môi trường kinh tế xã hội mà trong đó kỹ thuật được áp dụng.
+ Hiệu quả phân bổ: Chỉ tiêu trong các yếu tố giá sản phẩm, giá đầu vào
được tính để phản ánh giá trị thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào
hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến
các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra.
+ Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất đạt
được cả hai hiệu quả là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều này có
6
hoặc là quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép trừ) mà nên
xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và
đại lượng tuyệt đối. HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, thu
nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung - cầu.
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần.
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích được tạo ra
như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể nào, có được
chấp nhận hay không? Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào
và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp là
rất đa dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí
vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Việc đánh giá phần lớn
phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp gắn bó giữa các yếu tố đầu vào và
khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong việc
đánh giá HQKT. Tuỳ thuộc vào từng ngành, quy mô, đặc thù của ngành sản xuất
khác nhau thì hiệu quả kinh tế được xem xét dưới góc độ khác nhau, cũng như
các yếu tố tham gia sản xuất. Xác định các yếu tố đầu ra: Các mục tiêu đạt được
phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hoá sản xuất ra
phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản
phẩm, lợi nhuận… Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là những yếu tố chi phí về
vật chất, công lao động, vốn…
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị
trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao, phân
bổ chi phí, hạch toán chi phí… Yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ.
9
đại lượng tuyệt đối. Tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá về kết quả sản xuất và
tối thiểu hoá về chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn.
- Hiệu quả xã hội:
Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội do sản
xuất mang lại, thông qua các chỉ tiêu như giải quyết công ăn việc làm, bảo vệ
môi trường, an ninh xã hội…
- Hiệu quả môi trường:
Đây là vấn đề bức bách nhất hiện nay, đã và đang được nhiều ngành, nhà
quản lỹ và nhà khoa học quan tâm. Hoạt động sản xuất được coi là hiệu quả thì
không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Nếu chỉ quan tâm đến HQKT mà
không quan tâm đến hiệu quả môi trường thì có thể sẽ gây ra những tổn thất lớn
hơn nhiều so với HQKT đạt được, bên cạnh đó việc khắc phục rất khó khăn và
tốn nhiều chi phí do hiệu quả môi trường được phân tích bằng các chỉ tiêu định
tính như: Bảo vệ sự đa dạng sinh học, tạo sự cân bằng sinh thái, hạn chế xói mòn
đất, hạn chế lũ lụt, tăng cường độ che phủ đất…
Căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế có thể chia ra:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn
bộ nền sản xuất xã hội.
- Hiệu quả kinh tế ngành.
- Hiệu quả kinh tế vùng, lãnh thổ.
- Hiệu quả kinh tế theo quy mô, tổ chức.
- Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật.
Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương thức tác
động vào sản xuất, có thể chia ra:
- Hiệu quả sử dụng vốn.
- Hiệu quả sử dụng đất đai.
với điều kiện môi trường. Vì vậy những hiểu biết về hệ sinh thái nông nghiệp
chính là cơ sở khoa học để xây dụng chương trình phòng trừ tổng hợp dịch hại
trong sản xuất nông nghiệp.
Phòng trừ chuột hại là một trong những vấn đề nan giải cho sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp và y tế công đồng. Để phòng trừ chuột hại có hiệu quả
chúng ta phải dựa trên cơ sở sinh học, sinh thái học của các loài chuột gây hại,
và hiểu biết về sinh thái học nông nghiệp. Từ đó mới có thể xây dụng được chiến
lược phòng trừ chuột hại mang tính tổng hợp có sự tham gia của cộng đồng.
12
Chuột là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm đối với sản xuất
nông nghiệp. Là loại động vật có vú có khả năng sinh sản nhiều, sự sinh sản phụ
thuộc vào nguồn thức ăn trên đồng ruộng; khi nguồn thức ăn dồi dào, nơi cư trú
an toàn rọng chuột sinh sản nhiều; khi nguồn thức ăn ít và nơi cư trú an toàn hẹp
lại chuột sinh sản ít đi, gây hại tập trung ở những điểm xác định, chúng phải đi
xa để kiếm ăn, đi lại nhiều tạo thành đường mòn trên đồng ruộng và thường làm
tổ và đào hang ở những nơi có nhiều cây bụi.
Vì vậy có thể giải thích những nguyên nhân làm cho số lượng chuột hại
tăng lên nhiều trong những năm gần đây là:
Do cấy một năm 3 vụ, trong đó có hai vụ lúa và một vu màu đối với Miền
Bắc và ba vụ chính ở miền nam cùng với việc thời gian gieo một vụ kéo dài, trên
đồng ruộng lượng thức ăn luôn luôn dư thừa quanh năm và từ năm này sang năm
khác.
Săn bắt các loài thiên địch của chuột quá mức để làm thực phẩm đặc sản
hay xuất khẩu lậu ra nước ngoài làm giảm số lượng quần thể các loài thiên địch
của chuột, không đủ khả năng khống chế sự gia tăng số lượng của chuột dẫn đến
sự bùng phát số lượng chuột.
Có quá nhiều bờ ruộng và nhiều nơi cư trú cho chuột sinh trưởng và phát
hại trên đồng ruộng và phát triển những phương pháp quản lý chuột hại trực tiếp
ở mức độ hệ sinh thái nông nghiệp (Nhà xuất bản Nông Nghiệp TP.HỒ CHÍ
MINH, Quản lí chuột hại lúa, 2005, PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất, ThS. Nguyễn
Hữu Huân). Lý thuyết này là cơ sở cho một nền nông nghiệp bền vững và ít ảnh
hưởng đến môi trường. Những kế hoạch quản lý chuột hại phải đưa ra yêu cầu
hiểu biết sâu sắc về sinh học và sinh thái học của từng loài chuột. Dựa vào cơ
cấu cây trồng trên đồng ruộng, thời điểm sinh trưởng của cây trồng trên đồng
ruộng cho phép chúng ta hiểu được biến động quẩn thể, biến động sinh sản và
mùa sinh sản, sinh thái của một số loài chuột.
14
2.1.3 Các biện pháp quản lý chuột lúa
2.1.3.1 Biện pháp quản lý chuột hại lúa theo hình thức “Bẫy cây trồng cộng
đồng” (cTBS- Community Trap Barrier System)
Ở Việt Nam trong thập niên 1990, chuột đã gây hại cho lúa càng ngày
càng nhiều và nông dân đã có rất nhiều biện pháp để phòng trừ như đào hang,
săn bắt, các loại bẫy rồng, bẫy đập, bẫy sập, bẫy bã bằng thuốc, hệ thống rào cản
bằng vải nhựa, thậm chí đã tiến hành bằng bẫy điện mà biện pháp này không
được Nhà nước cho phép. Trong khoảng 2 năm 1996- 1997, chúng ta cũng đã
học tập biện pháp phòng trừ chuột tử Indonesia và Malaysia được gọi là “Hệ
thống rào cản và đặt bẫy” hay còn gọi là “Bẫy cây trồng” trong bẫy được gieo
lúa sớm hơn 10 – 15 ngày so với chung quanh để dụ chuột vào bẫy ở giai đoạn
“mạ mộng” và “đòng đòng”. Biện pháp “Bẫy cây trồng” đã tiến hành ở rất nhiều
nơi đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả của biện pháp “Bẫy
cây trồng” rất hữu hiệu để hạ thấp mật số quần thể chuột hại đến mức thấp nhất
trong thời gian tiến hành đặt bẫy. Tuy nhiên khi tiến hành làm mô hình chỉ thực
hiện tại ruộng của một nông hộ, chủ ruộng chụi trách nhiệm toàn bộ các thao tác
tiến hành đặt bẫy, chăm sóc sửa chữa và thăm bẫy hằng ngày, thậm chí còn mất
Biện pháp canh tác: Gieo sạ đồng loạt; hạn chế lúa chét; không để đất
hoang hoá và nhiều lùm bụi; sau thu hoạch nên dọn sạch rơm rạ và đốt đồng để
nhằm hạn chế nguồn thức ăn, nơi cư trú và sinh sản của chuột.
Biện pháp cơ lý: Chủ động diệt chuột ngay từ đầu vụ bằng hệ thống bẫy
cây trồng, bẫy rào cản, săn bắt thủ công (dùng nước hoặc đào hang săn đuổi).
Dùng bẫy lồng, bẫy đập bằng các kiểu bẫy sáng tạo của nông dân đặt ở các
đường đi của chuột khi phát hiện thấy chuột.
Biện pháp sinh vật học: Bảo vệ các loài chim, thú, rắn... là các thiên địch
của chuột để giữ cân bằng sinh thái. Cố gắng hạn chế sử dụng các hoá chất độc
có hại cho người, súc vật và môi trường. Tăng cường nuôi các động vật như chó,
mèo, trăn... ăn chuột.
Biện pháp hoá học: Là biện pháp làm giảm mật số chuột tức thì, cần tiến
hành đồng bộ trên diện tích rộng để diệt chuột triệt để hơn. Nhóm thuốc hóa học
16
có thể sử dụng là Fokeba, Zinphos (nên hạn chế sử dụng vì rất độc). Hiện nay,
nông dân diệt chuột phần lớn bằng các hợp chất đông máu như Brodifacoum
(tên thương mại Klerat, Forwarat), Bromadiolone (Killrat, Musal), Diphacinone
(Yasodion), Warafin, Flocoumafen (Storm). Tuy nhiên, biện pháp này chỉ áp
dụng khi thật cần thiết và chỉ áp dụng một lần vào lúc lúa có đòng. Dùng thuốc
xông hơi nên áp dụng cuối mỗi vụ luá: Tìm hang chuột còn hoạt động, dùng bột
lưu huỳnh đốt và xông khói vào để giết chuột.
2.1.3 Lợi ích của “Bẫy cây trồng cộng đồng” và “Hệ thống bẫy chuột cộng đồng”
Lợi ích của “Bẫy chuột cộng đồng” hoặc “Hệ thống bẫy chuột cộng đồng”
được thấy rõ qua hiệu quả kinh tế, tính chi phí đầu tư cho một bẫy “TBS” và duy
trì bẫy “TBS” trong 3 hay 4 vụ lúa liên tục, so sánh với các biện pháp phòng trừ
chuột khác thì lợi ích kinh tế trực tiếp do bẫy cây trồng “TBS” mang lại vượt xa
các chi phí đầu tư do bẫy cây trồng với tỷ lệ 10 : 1. Vì bẫy cây trồng “TBS” có