skkn hấp dẫn GIỜ dạy vật lý với câu hỏi THỰC tế và THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH TRONG dạy học vật lý 10 THPT - Pdf 37

I. TÊN CƠ SỞ ĐƯỢC YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
- UBND tỉnh Ninh Bình
- Sở GD&ĐT Ninh Bình
- Trường THPT Kim Sơn A
II. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
- Tên tác giả : NGUYỄN THỊ NGHĨA
- Chức danh: Giáo viên
- Học vị: Cử nhân
- Địa chỉ: Trường THPT Kim Sơn A
- Hộp thư điện tử:
- Số điện thoại: 0962029455
III. TÊN SÁNG KIẾN, LĨNH VỰC ÁP DỤNG
- Tên sáng kiến:
"HẤP DẪN GIỜ DẠY VẬT LÝ VỚI CÂU HỎI THỰC TẾ VÀ THÍ NGHIỆM
THỰC HÀNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 10 THPT"
- Lĩnh vực áp dụng:
SKKN này có thể áp dụng làm tư liệu tham khảo cho một số bài giảng vật lý
lớp 10 THPT hiện hành và áp dụng tham khảo cho chương trình đổi mới SGK sắp
tới.
Vận dụng hệ thống các câu hỏi về hiện tượng thực tiễn vào bài giảng nhằm
giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, để vật lí không còn
mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
IV. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Giải pháp cũ thường làm
Môn vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu không
có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học
sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận. Đã có hiện tượng một số bộ phận học
sinh không muốn học vật lí, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của vật lí.
Nguyên nhân có liên quan tới một số giải pháp cũ sau đây:
Thứ nhất, do chương trình hiện nay vẫn còn quá nặng về mặt kiến thức.
Trong một tiết học, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, giáo viên cố gắng để

khoa học và hứng thú nhưng thực tế số đông các giáo viên vật lý lại không chịu tìm
tòi, đào sâu hoặc ngại mất thời gian công sức nên chỉ dạy “chay”, truyền đạt kiến
thức một cách đơn điệu tẻ nhạt.
Thứ ba là do cách ra đề kiểm tra đánh giá học sinh lại ra theo một lối mòn
đã rất cũ là hỏi lí thuyết học thuộc từ sách giáo khoa, bài tập dùng để kiểm tra đánh
giá phần lớn chỉ áp dụng công thức để tính toán đơn thuần, đề kiểm tra chưa gắn liền
kiến thức với thực tiễn và thí nghiệm thực hành điều đó cũng làm cho các em học
sinh cũng học theo xu hướng ra đề của giáo viên.Các đề thi bán kỳ, thi học kỳ, thi thử
THPT Quốc gia, thi THPT Quốc gia còn rất ít vận dụng kiến thức thực tế và thí
nghiệm thực hành làm giáo viên dạy và học sinh học theo xu hướng ra đề thi .

2


Tuy nhiên giải pháp cũ cũng có ưu điểm là giáo viên chủ động được kiến thức
cần truyền tải, chủ động thời gian, lượng kiến thức GV cần truyền đạt lớn hơn.
Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội
tri thức vật lí, gắn vật lí với thực tiễn cuộc sống và thí nghiệm thực hành nếu không
cứ gặp các câu hỏi gắn với thí nghiệm thực hành và vận dụng thực tế là học sinh bế
tắc.
2. Giải pháp mới cải tiến:
2.1. Bản chất của giải pháp mới cải tiến
Mục tiêu để giải quyết giải pháp cũ là tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê;
học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học vật lí, giúp học sinh trở
thành con người phát triển toàn diện. Để thực hiện được, thì có hai yếu tố quan trọng
nhất phải thay đổi:
Thứ nhất, phải thay đổi phương pháp dạy của giáo viên, phải có tư duy đổi
mới gắn kiến thức vật lý với thực tế và thí nghiệm thực hành, người giáo viên cần
nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các
vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc

hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp
làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được mối liên quan giữa
các môn học với nhau.
Ví dụ: Tại sao càng lên cao không khí càng loãng?
Trả lời: Do phân tử khối của O2 lớn nên ảnh hưởng của lực hút mạnh hơn nên
tập trung chủ yếu ở dưới gần mặt đất.
2.1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội
dung học với thực tiễn.
Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và học
giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời
sống hằng ngày.
Ví dụ: Tại sao viên bi thép lại có thể nảy lên khi rơi xuống sàn lót gạch nhưng
lại nằm yên khi rơi xuống cát ?
Trả lời: Va chạm giữa hòn bi với sàn nhà mang đặc tính biến dạng đàn hồi
nên sinh ra lực đàn hồi và làm cho viên bi nảy lên. Còn va chạm giữa viên bi và lớp
cát là va chạm mềm mang đặc tính biến dạng không đàn hồi nên không có lực đàn
hồi xuất hiện và viên bi không thể nảy lên được.
2.1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định
bằng các hiện tượng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm cho
học sinh nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép vào
nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh luận vừa
phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải mái để các
em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.

4


2.2. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “Vận dụng câu hỏi thực


5


để hiểu rõ hiện tượng, tăng hấp dẫn, Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò
của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông.
2.2.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới
thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là
một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn
gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.Bài giảng
quấn hút được học sinh từ đầu do phần đặt vấn đề vào bài mới.Tuy nhiên, những câu
hỏi thực tế hoặc thí nghiệm thực hành dùng cho đặt vấn đề vào bài phải đảm bảo
được các yêu cầu:
- chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau và với kiến thức muốn đề cập đến trong
tiết học.
- chúng có thể mô tả được một cách ngắn gọn, xúc tích sao cho học sinh dễ
dàng và nhanh chóng nhận ra sự mâu thuẫn giữa thực tế với những hiểu biết sẵn có.
2.2.4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài
tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại
lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán vật lí đó
học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu
gì? Và giải quyết như thế nào?
2.2.5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với
nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật. Làm cho học sinh
không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù
của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày.
2.3. Các hình thức tổ chức thực hiện:
2.3.1. Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh hay
không là nhờ vào người hướng dẫn. Trong đó phần mở đầu là rất quan trọng, nếu ta
biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu,

theo xu hướng ra đề thi .
2.5. HỆ THỐNG MỘT SỐ CÁC CÂU HỎI THỰC TẾ VÀ THÍ NGHIỆM
THỰC HÀNH DÙNG CHO CÁC BÀI GIẢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
VẬT LÍ 10 THPT
CHUYỂN ĐỘNG CƠ (Tiết 1 VL10CB)
Câu 1: Nêu cách xác định vị trí của một ô tô trên một quốc lộ ?
Câu 2: Để xác định vị trí của một tàu biển giữa đại dương, người ta dùng những tọa
độ nào ?
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để giải thích tịm vị trí của vật trên quỹ đạo..
CHUYỂN ĐỘNG TRÒN ĐỀU (Tiết 8,9 VL10CB)
Câu 1: Quan sát một bánh xe đạp đang lăn trên đường ta thấy các nan hoa ở phía
trên trục đang quay như hòa vào nhau, trong khi đó ta lại phân biệt được từng nan
hoa ở phần dưới của trục bánh xe. Hãy giải thích?
Giải thích: Vì vận tốc so với đất của những điểm bên dưới trục quay nhỏ hơn
vận tốc những điểm bên trên trục quay.
7


Áp dụng: Giáo viên sử dụng để đặt vấn đề vào bài.
Câu 2: Để các tia nước từ cái bánh xe đạp không thể bắn vào người đi xe, phía
trên bánh xe người ta gắn những cái chắn bùn. Khi đó phải gắn những cái chắn
bùn như thế nào?
Giải thích: Phải gắn những cài chắn bùn sao cho mép dưới cắt đường tiếp
tuyến đi qua điểm thấp nhất của bàn đạp với mép trước của bánh xe.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần học về đặc điểm của vận tốc
trong chuyển động tròn đều.
TÍNH TƯƠNG ĐỐI CỦA CHUYỂN ĐỘNG. CÔNG THỨC CỘNG VẬN TỐC
(Tiết 10VL10CB)
Câu 1: Tại sao ngồi trên xe chạy nhanh ta thường thấy gió thổi vào mặt ngay cả
khi trời lặng gió?


uur

uur

uur

uur

 
uur

người đi xe: vmn  vmñ  vñn hay vmn  vmñ  uuuu
vnñ . Phép cộng véc tơ cho thấy với người
r
uur
vnñ
vnñ

giọt mưa rơi theo phương xiên.
uur
vmn

8

uur
vmñ

đất



9


Câu 3: Giải thích câu tục ngữ: “ Dao sắc không bằng chắc kê”
Giải thích: Ta biết rằng một vật có khối lượng càng lớn thì quán tính của nó
càng lớn. Mặt khác, vì vật có quán tính nên khi tác dụng một lực vào vật thì vận tốc
của nó không thay đổi ngay tức thì mà phải sau khoảng thời gian nhất định. Nếu vật
có quán tính lớn thì thời gian này càng lớn.
Nếu dùng dao chặt cây tre mà tre không kê lên cái gì hoặc kê không chắc chắn
thì vì quán tính của tre nhỏ nên thanh tre sẽ chuyển động theo dao. Do đó dao khó ăn
sâu vào tre.
Nếu ta kê thanh tre đó trên một khúc gỗ lớn thì khi dao chặt khối gỗ chưa kịp
chuyển động( vì khối lượng khúc gỗ lớn và lại tì vào đất), thanh tre đã bị đứt rồi.
Áp dụng: Dùng cho phần tổng kết bài, sau khi học sinh đã có những kiến thức
về các định luật Niuton.
Câu 4: Tại sao diễn viên xiếc ngồi trên yên ngựa đang phi nhanh, nhảy lên cao khi
rơi xuống lại vẫn đúng vào yên ngựa?
Giải thích: Diễn viên xiếc khi rời khỏi yên ngựa vẫn tiếp tục chuyển động theo
quán tính với vận tốc ban đầu bằng vận tốc của ngựa, vì vậy mà vẫn rơi đúng vào yên
ngựa.
Áp dụng: Những màn biểu diễn như trên hầu như chúng ta đều thấy xuất hiện
trong các chương trình biểu diễn xiếc nhưng ít người trong chúng ta giải thích được
một cách thỏa đáng, giáo viên có thể nêu vấn đề này khi học xong phần quán tính.
Tương tự như vậy giáo viên cũng yêu cầu học sinh giải thích: tại sao khi người nhảy
lên vẫn rơi đúng chỗ cũ mặc dù Trái Đất đang quay?
Câu 5: Vì sao xe đạp dễ phanh hơn xe máy, ô tô và tàu hỏa?
Giải thích: Chúng ta biết rằng việc một vật đang chuyển động muốn dừng lại
thì cần phải có thời gian: Vật có vận tốc lớn và khối lượng lớn thì cần phải có thời
gian dài. Vì xe máy, ô tô, tàu hỏa có vận tốc lớn và nhất là khối lương lớn gấp nhiều

Câu 2: Hãy nêu phương án TN và thực hiện TN khảo sát mqh giữa độ lớn Fdh
của lò xo và độ biến dạng l của lò xo?
11


Trả lời:
II. Lực đàn hồi của lò xo.

Hãy nêu một
phương án tiến
a. Thí nghiệm:
hành thí nghiệm để
+ Lò xo, giá đỡ lò xo, các quả nặng,
thướcđộ
thẳng
xác định
lớnchia
lực độ.
đàn hồi của lò xo?
- Tiến hành thí nghiệm:

4. Độ lớn:

l0

l0 : Chiều dài ban đầu của lò
xo.

l
l1


+ Cầu bật của vận động viên nhảy cầu: Lực đàn hồi tung vận động viên lên cao
để có điều kiện trình diễn được nhiều động tác.
+ Bộ phận giảm xóc của ô tô, xe máy: Lực đàn hồi có tác dụng làm tắt dần dao
động nên giảm xóc.
+ Đệm lò xo, ghế sôpha
+ Lực kế
+ Cây sào của vận động viên nhảy sào

Áp dụng: Sử dụng cho phần củng cố về lực đàn hồi
13


LỰC HẤP DẪN. ĐỊNH LUẬT VẠN VẬT HẤP DẪN (Tiết 19 VL10CB)
Câu 1: Hai vật bất kì luôn hút nhau bằng một lực hấp dẫn, tại sao các vật để trong
phòng như bàn, ghế, tủ, giường mặc dù chúng luôn hút nhau nhưng không bao
giờ di chuyển lại gần nhau?
Giải thích: Các vật để trong phòng không chỉ chịu tác dụng của lực hấp dẫn
mà còn chịu tác dụng của trọng lực, phản lực và lực ma sát. Các lực này triệt tiêu lẫn
nhau nên các vật vẫn đứng yên, không hút lại gần nhau.
Áp dụng: Sử dụng cho phần củng cố về lực hấp dẫn.
Câu 2: Lực hút của Mặt Trời lên Mặt Trăng lớn hơn lực hút của Trái Đất lên Mặt
Trăng 2 lần. Nhưng tại sao Mặt Trăng lại là vệ tinh của Trái Đất ( Mặt Trăng
quay quanh Trái Đất ) mà nó không phải là hành tinh quay quanh Mặt Trời?
Giải thích: Người ta tính được rằng Mặt Trời truyền cho Trái Đất và Mặt
Trăng ngững gia tốc như nhau, vì vậy Trái Đất và Mặt trăng tạo thành hệ hai thiên thể
quay quanh khối tâm chung và khối tâm này lại quay quanh Mặt Trời.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần củng cố sau bài học, thông qua
câu hỏi học sinh hiểu rõ hơn về chuyển động của Trái Đất, Mặt Trăng.
LỰC MA SÁT (Tiết 21 VL10CB)


Hãm phanh

Ứng
dụng

Mài nhẵn các
bề mặt cứng
như kim loại,
gỗ, …(V) …(V)

Có lợi

Biện
pháp
tăng
cường
Thay bởi vật
liệu có hệ số
ma sát lớn

Áp dụng: Giáo viên sử dụng vào phần tìm hiểu về vai trò của Fmst
Câu 4.2: Tìm hiểu vai trò của lực ma sát trượt
Em hãy vẽ một sơ đồ tư duy về ứng dụng có hại của lực ma sát trượt và biện
pháp khắc phục?
15


Giải thích:


Giải thích: Lực phát động có tác dụng kéo đoàn tàu đi chính là lực ma sát nghỉ
do đường ray tác dụng lên các bánh xe phát động của đầu tàu. Muốn đầu tàu kéo
được nhiều toa, lực ma sát này phải lớn. Muốn vậy, đầu tàu phải có khối lượng lớn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần ứng dụng của ma sát nghỉ.
Thông qua đó giáo viên cũng giới thiệu thêm cho học sinh biết khi đi xe đạp, xe máy
16


chạy, lực kéo của xích làm cho bánh xe quay. Lực ma sát nghỉ do mặt đường tác
dụng vào chỗ bánh xe tiếp xúc với mặt đường đóng vai trò là lực phát động làm cho
xe đi về phía trước. Chính vì điều này để tăng lực ma sát nghỉ người ta thường làm
bánh sau của máy kéo to và nặng hơn hẳn bánh trước, lốp có nhiều đường gân xù xì.
Chỗ ngồi của người trên máy kéo, xe máy, xe đạp thường được bố trí lệch về phía
sau, để cho trọng lượng của người được dồn phần lớn vào bánh sau, làm tăng ma sát
ở bánh xe phát động.
Câu 6: Trong bóng đá khi một hậu vệ muốn cản phá tiền đạo đối phương đang mở
tốc độ xuống bóng rất nhanh thì thường dùng vai chèn vào người tiền đạo và lấy
sức nâng người ấy lên. Giải thích xem cách làm ấy có hiệu quả hay không ?
Giải thích: Khi nâng cơ thể tiền đạo đối phương lên, người hậu vệ đã làm giảm
bớt lực tác dụng giữa hai chân đối phương với mặt đất, tức là giảm lực ma sát nghỉ
đóng vai trò lực tăng tốc của đối phương. Do đó, sự gia tăng tốc độ của tiền đạo đối
phương bị chậm lại.
Áp dụng: Đây là hiện thường thấy trong các trận đấu bóng đá trên ti vi cũng
như ngoài đời mà các bạn học sinh là những người trực tiếp tham gia nhưng có thể
chúng ta chưa có một lí giải thỏa đáng. Giáo viên có thể sử dụng cho phần củng cố về
tác dụng của ma sát nghỉ.
LỰC HƯỚNG TÂM (Tiết 22 VL10CB)
Câu 1: Tại sao khi đi xe đạp hoặc xe máy đến đoạn đường cong chúng ta phải
giảm tốc độ và nghiêng người ?
Giải thích: Mục đích của việc nghiêng người để tạo ra lực hướng tâm khi đi ở

hiện càng nhiều, việc hiểu được phần nào cấu tạo của nó cũng giúp cho học sinh có ý
thức hơn trong việc bảo vệ các công trình giao thông. Giáo viên sử dụng câu hỏi cho
phần lực hướng tâm.
CÁC DẠNG CÂN BẰNG, CÂN BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ (Tiết 31
VL10CB )
Câu 1: Tại sao những công nhân khi vác những bao hàng nặng họ thường chúi
người về phía trước một chút ?
Giải thích: Mục đích của việc công nhân chúi người về phía trước là để trọng
tâm của bao hàng rơi vào mặt chân đế.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần cân bằng của vật có mặt chân đế.
Câu 2: Quan sát các võ sĩ thi đấu thì thấy họ thường đứng ở tư thế hơi khuỵu gối
xuống một chút và hai chân dang rộng ra so với mức bình thường. Tư thế này có
tác dụng gì?
Giải thích: Mục đích là để làm tăng mức vững vàng khó bị đánh ngã: hai chân
dang rộng làm cho mặt chân đế rộng hơn. Hơi qụy gối làm trọng tâm người ở vị trí
thấp hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi củng cố cho phần học: Mức vững vàng
của cân bằng.
Câu 3: Tại sao khi đang ngồi trên ghế, muốn đứng lên, ta phải nghiêng người về
phía trước ?
Giải thích: Khi ngồi trọng tâm của người và ghế rơi vào mặt chân đế ( diện
tích hình chữ nhật nhận 4 chân ghế làm 4 đỉnh. Khi muốn đứng dậy ( tách khỏi ghế )
cần phải làm cho người rơi vào chân đế của họ ( phần bao của hai chân tiếp xúc với
mặt đất ). Động tác chúi người về phía trước là để lấy trọng tâm của người rơi vào
mặt chân đế của chính người ấy.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho phần đặt vấn đề vào phần mức vững vàng của
cân bằng.
Câu 4: Tại sao khi xây dựng các công trình lớn các kiến trúc sư thường thiết kế
móng của công trình to và vững chắc?


cho hệ nên câu nói trên là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 2: Một người lái đò đang đứng ở mũi thuyền. Thuyền đậu sát bờ trên mặt
nước yên lặng. Khi thấy có khách đi đò người lái đò đã đi từ mũi thuyền để đón
khách. Hỏi người lái thuyền có đón được khách không? Tại sao?

19


Giải thích: Người lái thuyền không đón được khách. Vì khi dịch chuyển từ
mũi đên lái, người ấy đã vô tình làm thuyền dịch chuyển theo hướng ngược lại tức là
làm cho rời khỏi bờ.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho việc củng cố phần định luật bảo toàn động
lượng.
Câu 3: Một người làm xiếc nằm trên mặt đất rồi cho đặt lên ngực mình một tảng
đá to. Sau đó, cho người khác lấy búa tạ đập vào tảng đá. Khi tảng đá vỡ ra, người
làm xiếc vẫn đứng dậy vui cười chào khán giả. Điều gì đã giúp anh ta thoát khỏi
"mối nguy hiểm "nêu trên?
Giải thích: Theo định luật bảo toàn động lượng, sau va chạm vật có khối lượng
càng lớn thì biến thiên động lượng càng nhỏ (tức ít bị chấn động ). Tảng đá trên ngực
sẽ có tác dụng giảm chấn động, đá càng to càng an toàn.
Áp dụng: Đây là màn biểu diễn xiếc tạo cho người xem từ sự hồi hộp đến thán
phục, tuy nhiên không phải ai cũng giải thích được. Giáo viên sử dụng để làm rõ mối
quan hệ giữa độ biến thiên động lượng và xung của lực.
Câu 4: Tại sao viên đạn bay ra khỏi nòng súng không làm vỡ tan tấm cửa kính mà
chỉ khoan một lỗ tròn?
Giải thích: Thời gian va chạm giữa viên đạn và tấm kính là rất nhỏ. Trong
khoảng thời gian đó, biến dạng gây ra bởi áp suất của viên đạn không kịp lan ra xa.Vì
vậy, phần động lượng mà viên đạn mất đi chỉ truyền cho một phần nhỏ của tấm kính
và tạo thành một lỗ tròn.

rồi lấy búa đập mạnh. Hãy giải thích cách làm trên?
Giải thích: Làm như vậy các phân tử hai thanh thép xen vào nhau làm xuất
hiện lực liên kết phân tử giúp chúng dính lại nhau.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng để củng cố cho phần lực tương tác phân tử
QUÁ TRÌNH ĐẲNG NHIỆT (Tiết 48 VL10CB)
Câu hỏi: Tại sao khi ta dùng phễu rót chất lỏng vào chai, lúc đầu thấy dễ vào
nhưng càng về sau càng khó khăn nếu như ta không nâng phễu lên?
Giải thích: Cuống phễu ép sát cổ chai, chất lỏng đổ vào phễu liên tục vô tình
trở thành cái nút nhốt chặt không khí trong chai. Khi chất lỏng chảy vào chai, không
khí bị dần chiếm chỗ, thể tích khí giảm làm áp suất trong luôn bằng áp suất khí
quyển, nước sẽ chảy vào chai khó hơn.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng cho việc đặt vấn đề vào bài mới.
QUÁ TRÌNH ĐẲNG TÍCH (Tiết 49 VL10CB)
Câu 1: Tại sao lốp ôtô thường nổ khi xe đang chạy, mà ít nổ khi xe đang nằm
trong gara ?
Giải thích: Khi lốp xe đang chạy trên đường, do ma sát với đường và thời tiết
nóng, nhiệt độ ở các lốp xe tăng, kéo theo áp suất khí trong ruột xe cũng tăng theo.

21


Nếu áp suất này tăng đến mức nào đó và có thể gây nổ lốp xe. Khi xe để trong gara,
nhiệt độ bình thường, lốp xe khó bị nổ hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng câu hỏi sau khi học xong phần định luật
Sác-lơ và lưu ý học sinh hiện tượng nổ lốp không chỉ xảy ra với ôtô mà cả với xe máy
và xe đạp khi đang chạy trên đường.
Câu 2: Tại sao ngồi gần những chiếc bếp than đang cháy, ta thường nghe những
tiếng lách tách cùng với những tia lửa bắn ra ?
Giải thích: Khi đun, nhiệt độ tăng không khí trong các thớ của than nở ra làm
nứt các cục than tạo ra tiếng lách tách, các hạt than bị bắn ra từ sự nứt của than.

Áp dụng: Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh biết về hoạt động của động
cơ nhiệt và thông qua đó giáo viên phân tích cho học sinh vấn đề ô nhiễm môi trường
do sử dụng động cơ nhiệt.
SỰ NỞ VÌ NHIỆT CỦA VẬT RẮN (Tiết 59 VL10CB)
Câu 1: Không nên ăn thức ăn đang quá nóng hoặc quá lạnh. Lời khuyên này xuất
phát từ cơ sở vật lí nào?
Giải thích: Men răng giãn nở không đều khi nóng hoặc lạnh đột ngột, khi đó
men răng sẽ bị rạn nứt.
Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần củng cố sau bài học. Thông qua
câu hỏi cung cấp cho học sinh biết tác hại của việc ăn và uống đồ quá lạnh và quá
nóng.
Câu 2: Tại sao khi làm đường ray xe lửa, làm cầu, người ta thường để giữa hai
thanh ray hoặc hai nhịp cầu một khoảng cách nhỏ. Khoảng cách ấy có lợi gì?
Giải thích: Khoảng cách ấy làm cho hai thanh ray hay hai nhịp cầu không đội
lên nhau khi giãn nở vì nhiệt.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 3: Tại sao cốc thủy tinh dày thường dễ nứt vỡ hơn so với cốc thủy tinh có
thành mỏng nếu đổ nước sôi vào cốc ?
Giải thích: Khi đổ nước sôi vào cốc, do tính dẫn nhiệt kém của thủy tinh, lớp
bên trong giãn nở nhiều hơn lớp bên ngoài, lớp ngoài trở thành “vật cản trở”của lớp
trong, kết quả là tạo ra một lực lớn, chính lực này làm nứt cốc.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng sau khi học xong phần sự nở vì nhiệt.
Câu 4: Tại sao khi nóng hay lạnh bêtông vẫn luôn bám chặt vào cốt thép bên
trong?
Giải thích: Vì bê tông và cốt thép có độ dãn nở vì nhiệt như nhau.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để củng cố bài học để nói lên ý nghĩa của
hệ số nở khối của các vật liệu.
CÁC HIỆN TƯỢNG BỀ MẶT CỦA CHẤT LỎNG (Tiết 60,61 VL10CB)
Câu 1: Người ta thường dùng một loại dầu bóng đặc biệt đánh bóng sườn xe máy,
xe ôtô. Ngoài việc làm cho nước sơn của sườn xe bóng dẹp, nó còn có tác dụng nào

63,64 VL10CB)
Câu 1: Tại sao khi phơi những tấm ván vừa mới xẻ từ thân cây ra, tấm ván thường
bị cong vênh?
Giải thích: Mặt gỗ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thường xuyên, nước trong gỗ
sẽ bốc hơi nhanh và khô đi nhanh chóng. Mặt còn lại sẽ khô chậm hơn, vì vậy mặt
tiếp xúc với ánh nắng sẽ co lại nhiều hơn. Đây chính là nguyên nhân làm cho tấm ván
bị cong đi.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng đặt vấn đề cho phần sự bay hơi.

24


Câu 2: Vào mùa đông giá rét, ta có thể nhìn thấy cả hơi thở của mình. Tại sao
vậy?
Giải thích: Hơi thở của chúng ta có mang hơi nước, khi hơi bị lạnh dưới điểm
sương chúng sẽ ngưng tụ lại ta có thể nhìn thấy được.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng để củng cố thêm phần sự ngưng tụ.
ĐỘ ẨM CỦA KHÔNG KHÍ + SỰ HÓA HƠI VÀ NGƯNG TỤ (Tiết 65 VL10CB)
Câu 1: Buổi sáng sớm ta thường thấy nhiều sương, nhưng những ngày trời nóng
nực thì buổi sáng hôm sau sẽ có nhiều sương hơn. Vì sao vậy? Những đêm trời
đầy mây, sáng hôm sau có nhiều sương không? Tại sao?
Giải thích: Trong những ngày nóng hơi nước bay lên từ mặt sông, hồ,… nhiều
hơn, độ ẩm tuyệt đối tăng lên.
Sương được tạo thành khi mặt đất bị lạnh đi do sự bức xạ nhiệt. Nếu không có
mây thì sự bức xạ nhiệt dễ dàng và sương sẽ có nhiều. Còn nếu có nhiều mây thì
chúng sẽ ngăn cản bức xạ nhiệt của mặt đất nên việc tạo thành sương sẽ khó thực
hiện.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi cho phần củng cố bài học
Câu 2: Về mùa thu, sau khi mặt trời mọc, sương mù vẫn còn phủ trên mặt sông
khá lâu. Vì sao vậy?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status