BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Hóa học
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM LIÊN HỆ ĐỜI SỐNG TRONG DẠY HỌC
HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH
(CHƯƠNG TRÌNH THPT QUỐC TẾ IGCSE)
GVHD
: ThS. Thái Hoài Minh
SVTH
: Nguyễn Thị Thành Nhơn
Khóa
: K38
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin dành lời cảm ơn chân thành đến Th.S Thái Hoài Minh,
1.1.1. Về dạy học Hóa học tiếng Anh ............................................................. 10
1.1.2. Về việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học ............................. 13
1.2. Một số vấn đề lý luận về dạy học Hóa học bằng tiếng Anh ..................... 14
1.2.1. Dạy học theo định hướng CLIL ............................................................ 14
1.2.1.1.Khái niệm CLIL .................................................................................. 14
1.2.1.2. Mục tiêu của định hướng CLIL .......................................................... 14
1.2.1.3. Các mô hình CLIL .............................................................................. 15
1.2.1.4. Bốn chữ C của CLIL .......................................................................... 16
1.2.2. Mô hình dạy học 5-E ............................................................................. 17
1.2.3. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học Hóa học bằng tiếng Anh .................. 19
1.3. Sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống trong dạy học Hóa học ................. 21
1.3.1. Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống trong
dạy học Hóa học .............................................................................................. 21
1.3.2. Các yêu cầu cần đạt của thí nghiệm ...................................................... 22
1.4. Tổng quan chương trình dạy và học Hóa học theo IGCSE của đại học
CAMBRIDGE ................................................................................................. 23
1.4.1. Mục tiêu của chương trình..................................................................... 23
1.4.2. Các nội dung chính của chương trình IGCSE ....................................... 23
1.4.3. So sánh nội dung chương trình IGCSE với chương trình Hóa học Việt
Nam ................................................................................................................. 26
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TN LIÊN HỆ ĐỜI SỐNG
TRONG VIỆC DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG TIẾNG ANH THEO
CHƯƠNG TRÌNH THPT QUỐC TẾ CAMBRIDGE IGCSE........................ 30
2.1. Nguyên tắc xây dựng thí nghiệm liên hệ đời sống trong việc dạy học Hóa
học bằng tiếng Anh .......................................................................................... 30
2.2. Quy trình xây dựng và sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống trong việc dạy
học Hóa học bằng tiếng Anh ........................................................................... 31
2.3. Sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống trong việc dạy học Hóa học bằng
tiếng Anh ......................................................................................................... 32
2.3.1. Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên ...................................................... 32
3.6.2. Ý kiến khảo sát của học sinh ................................................................. 76
3.6.3. Ý kiến chuyên gia .................................................................................. 77
3.6.4. Ý kiến giáo viên thực nghiệm và quan sát tình hình lớp học ................ 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 82
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHSP
:
Đại học Sư phạm
HS
:
Học sinh
GV
:
Giáo viên
IGCSE
:
Thành phố Hồ Chí Minh
VD
:
Ví dụ
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các mô hình CLIL ......................................................................... 16
Bảng 1.2. So sánh nội dung của chương trình IGCSE với chương trình Hóa học
ở Việt Nam ...................................................................................................... 26
Bảng 2.1. Các TN thuộc chủ đề “Trạng thái tự nhiên của chất” .................. 38
Bảng 2.2. Các TN thuộc chủ đề “Phản ứng Hóa học” ................................... 41
Bảng 2.3. Các TN thuộc chủ đề “Axít, Bazơ” ................................................. 44
Bảng 2.4. Các TN thuộc chủ đề “Tốc độ phản ứng” ...................................... 47
Bảng 2.5. Các TN thuộc chủ đề “Nhôm” ........................................................ 50
Bảng 2.6a. So sánh TN lon coca-cola với NaOH và HCl ............................... 51
Bảng 2.6b. So sánh TN lon coca-cola với NaOH và HCl (Câu trả lời) .......... 52
Bảng 2.7. Các hồ sơ bài dạy có sử dụng TN đã thiết kế ................................ 53
Bảng 2.8a. So sánh phản ứng thu nhiệt và phản ứng tỏa nhiệt (phiếu học tập
HS) ................................................................................................................... 57
Bảng 2.8b. So sánh phản ứng thu nhiệt và phản ứng tỏa nhiệt (đáp án) ........ 58
Bảng 2.9. Từ vựng bài đọc hiểu (Reading Vocabulary) .................................. 60
Bảng 2.10. Khái niệm ..................................................................................... 62
1.
Lí do chọn đề tài
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm do đó việc dạy học Hóa học phải
gắn liền với thí nghiệm và hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày. Tuy
nhiên, kết quả khảo sát về thái độ yêu thích của 300 học sinh (HS) đối với môn
Hóa tại trường trung học phổ thông (THPT) Hùng Vương và trường Trung học
thực hành ĐHSP cho thấy chưa đến 20% HS trả lời thích học Hóa, một trong
những lý do đưa ra HS cảm thấy Hóa học khô khan, khó hiểu vì lý thuyết
không đi đôi với thực hành TN. Thực tế, việc sử dụng TN vào dạy học Hóa học
không khó, có thể sử dụng những thí nghiệm đơn giản có liên quan đến cuộc
sống hằng ngày mà HS có thể tự tìm hiểu, khám phá từ đó giúp các em hiểu và
yêu thích môn Hóa học hơn.
Từ năm 2010, việc dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh đã
được Chính phủ chính thức phê duyệt trong đề án 959 về phát triển hệ thống
trường THPT chuyên giai đoạn 2010-2020. Trong quá trình triển khai đề án,
việc sử dụng tiếng Anh trong dạy học các môn KHTN nói chung và môn Hóa
học nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất chính là rào
cản ngôn ngữ khi cả GV và HS được yêu cầu dạy học các kiến thức khoa học
với nhiều từ vựng chuyên ngành tiếng Anh. Vậy, việc tìm ra những biện pháp
giúp GV và HS vượt qua những trở ngại khi dạy học môn Hóa học bằng tiếng
Anh là điều cần thiết. Dựa trên những tác động tích cực đối với quá trình dạy
học hóa học, việc sử dụng các TN, đặc biệt là những TN liên hệ đời sống trong
quá trình dạy học hóa học bằng tiếng Anh có thể giúp HS tăng hứng thú và cảm
thấy việc học có ý nghĩa, từ đó góp phần giúp HS vượt qua rào cản khó khăn về
ngôn ngữ.
8
Xây dựng hệ thống các TN gắn kết đời sống sử dụng trong dạy học Hóa
học bằng tiếng Anh gồm các văn bản hướng dẫn.
-
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống TN đề xuất.
4.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
-
Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học Hóa học bằng tiếng Anh.
-
Đối tượng nghiên cứu: việc xây dựng và sử dụng các TN hóa học có liên
hệ đời sống trong việc dạy học Hóa học bằng tiếng Anh theo chương trình
Quốc tế Cambridge IGCSE.
5.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: TN Hóa học có liên hệ đời sống.
-
10
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Về dạy học Hóa học tiếng Anh
Trên thế giới, việc dạy học Hóa học bằng tiếng Anh cho những nước
không nói tiếng Anh nói riêng và việc dạy các môn học bằng tiếng Anh nói
chung từ lâu đã trở thành mối quan tâm của các nhà giáo dục. Theo Shaffer
(2007) [38], tại Canada, số lượng HS đến từ các nền văn hóa khác nhau ngày
càng đa dạng, số lượng HS sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai (ESL
student) gia tăng nhanh chóng. ESL student được định nghĩa là HS mà ngôn
ngữ đầu tiên hay tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh và cần hỗ trợ để phát
triển kỹ năng tiếng Anh [53]. Nhiều chương trình hỗ trợ được đưa ra nhằm cải
thiện hiệu quả giáo dục cho những HS này về cả kiến thức môn học và khả
năng tiếng Anh. Có thể kể đến Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Mỹ (The
American Association for the Advancement of Science) (1989) trong việc đề ra
các nguyên tắc của việc học liên quan đến hiểu biết khoa học; lồng ghép khoa
học với ngôn ngữ giảng dạy; sử dụng kỹ thuật ngôn ngữ giảng dạy trong trình
bày khái niệm khoa học; …
Trong bối cảnh kinh tế- xã hội hiện nay, Việt Nam đang từng bước hội
nhập quốc tế. Đặc biệt việc cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập vào
ngày 31/12/2015 vừa qua đã đem lại cơ hội và thách thức hơn bao giờ hết cho
Việt Nam nói chung và nền giáo dục nước ta nói riêng trong việc đào tạo thế hệ
trẻ có khả năng học tập và làm việc trong môi trường quốc tế. Chính vì vậy
tiếng Anh luôn giữ một vai trò quan trọng.
Nhằm nâng cao khả năng ngoại ngữ cho GV và cả HS Việt Nam, bộ Giáo
dục và Đào tạo đã sớm có chủ trương tăng cường giảng dạy ngoại ngữ ở trường
THPT. Sau đây có thể kể tên một số công văn và đề án tiêu biểu như:
- Năm 2008, đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
Anh theo mô hình 5-E cho GV THPT.
Các đề tài trên bước đầu đã xây dựng nên các tài liệu hỗ trợ cho việc tự
học và giáo án dạy học Hóa học bằng tiếng Anh tuy nhiên chưa đề tài nào
nghiên cứu về vấn đề sử dụng TN trong dạy học Hóa học bằng tiếng Anh.
13
1.1.2. Về việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học
Hóa học là môn khoa học lý thuyết với nhiều khái niệm khó và trừu tượng
tuy nhiên đây cũng là môn khoa học thực nghiệm. Chính vì vậy, một trong
những định hướng đổi mới dạy học Hóa học là tăng cường sử dụng TN hóa học
để khai thác đặc thù môn học, tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong
phú cho HS trong tiết học. TN hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc nâng
cao hiệu quả việc dạy và học hóa học cũng như trong quá trình nhận thức của
con người về thế giới, là phương tiện trực quan giúp HS chuyển từ tư duy cụ
thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại. TN cũng là cầu nối giữa lý thuyết và
thực tiễn, giúp HS rèn luyện các kỹ năng thực hành và phát triển tư duy từ đó
góp phần nâng cao hứng thú học tập.
Từ những vai trò quan trọng của việc sử dụng TN trong dạy học Hóa học
trên, nhiều tác giả đã chọn đề tài có liên quan đến TN Hóa học làm vấn đề
nghiên cứu.
- Nguyễn Thị Trúc Phương [11] đã thiết kế TN để tổ chức hoạt động học
tập tích cực cho HS lớp 11 gồm 36 TN trong chương trình hóa học THPT lớp
11 ban cơ bản và nâng cao, các TN được thiết kế với nhiều mục đích dạy học
khác nhau như TN biểu diễn của GV, TN của HS…
- Võ Phương Uyên [19] đã đề xuất 9 biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
thí nghiệm hóa học lớp 10, 11 THPT ở Đăk Lăk, sưu tập và sắp xếp một số
video thí nghiệm theo từng chương, từng khối lớp có thể hỗ trợ cho GV giảng
dạy.
- Nguyễn Thị Ngọc Phượng [12] đã thiết kế ebook các bài TN Hóa học
và toán bằng tiếng Anh tại các trường THPT làm cho nhu cầu trên càng trở nên
cấp thiết. Một trong những định hướng dạy học đáp ứng nhu cầu giảng dạy này
là dạy học theo định hướng tích hợp ngôn ngữ và nội dung (content and
knowledge intergrated learning CLIL) [6].
1.2.1.1.
Khái niệm CLIL
Dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ có thể hiểu theo nhiều cách khác
nhau. Trong đó, theo Bentley [26] CLIL là một định hướng giáo dục để dạy và
học các môn học thông qua ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ.
1.2.1.2.
Mục tiêu của định hướng CLIL
Việc dạy học Hóa học bằng tiếng Anh đem lại điều kiện tốt cho HS có thể
tiếp cận với môi trường học tập quốc tế, có cơ hội tiếp xúc với nhiều kiến thức
bổ ích, hấp dẫn. Mục tiêu của dạy học định hướng CLIL nói chung và dạy học
15
Hóa học bằng tiếng Anh nói riêng nhằm hướng đến ba mục tiêu về nội dung,
ngôn ngữ và kỹ năng [26]. Cụ thể trong bối cảnh dạy thực tế, mục tiêu cần đạt
được bao gồm:
- Giới thiệu đến HS những khái niệm, kiến thức mới của môn Hóa học.
- Nâng cao khả năng của HS cả về kiến thức Hóa học và mục tiêu ngôn
ngữ, trong đó nội dung kiến thức hóa học là trọng tâm.
- Khuyến khích HS phát triển năng lực bản thân.
- Nâng cao sự tự tin của HS về trình độ nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh.
- Giúp đỡ HS tiếp cận Hóa học bằng cách sử dụng giáo án phù hợp với
chủ đạo
45 phút một tuần
Môn
1.2.1.4.
Một số chủ đề môn chuyên được
dạy suốt khóa học ngoại ngữ
Các trường học hay GV chọn
chuyên chủ
15 giờ suốt một học
những phần của chương trình
đạo
kì
môn chuyên để dạy bằng ngoại
(mô-đun)
ngữ.
Môn
Theo Coyle [35], CLIL được miêu tả bao gồm 4 chữ C thành phần:
Content (Nội dung), Communication (Giao tiếp), Cognition (Tư duy), Culture
(Văn hóa). Sự kết hợp của nội dung, giao tiếp, tư duy và văn hóa là một cách
hữu ích để thể hiện mục tiêu và mục đích dạy học. Chữ “C” thứ 4 “Culture”
cũng nhằm ám chỉ Citizenship (quyền công dân) hoặc Community (cộng đồng).
- Content (Nội dung): là nội dung của môn học được dạy trong CLIL như
toán, lý, hóa, sinh…một số chương trình CLIL còn phát triển liên môn giữa các
môn học khác nhau. VD HS có thể học lịch sử, địa lý và hội họa trong cùng
17
một tiết học (thường là ở trường tiểu học). Trong tất cả các chương trình CLIL,
chúng ta cần phân tích nội dung phù hợp với mục tiêu ngôn ngữ để trình bày
nội dung theo cách dễ hiểu cho HS.
- Communication (Giao tiếp): HS phải trình bày được ngôn ngữ của bài
học cả về nói và viết. Vì vậy, GV cần khuyến khích HS tích cực tham gia các
hoạt động tương tác trong lớp học. CLIL nhằm tăng thời gian nói của HS và
giảm thời gian nói của GV cũng như khuyến khích HS tự đánh giá bản thân,
đánh giá theo cặp, theo nhóm và cho ý kiến phản hồi. Khi HS HS sử dụng
ngoại ngữ để học nội dung môn chuyên ngành, khi đó học đã thực hiện việc
tích hợp kiến thức môn chuyên ngành và các kĩ năng ngoại ngữ. “Bằng cách sử
dụng ngoại ngữ để học nội dung, việc giao tiếp trở nên có ý nghĩa vì ngoại ngữ
là công cụ để giao tiếp, không phải mục đích cuối cùng” [41].
- Cognition (Tư duy): CLIL thúc đẩy tư duy và kĩ năng suy nghĩ của HS
qua thách thức khả năng của HS. GV cần phát triển khả năng tư duy của HS để
HS có thể tiếp thu nội dung môn học. Những kĩ năng này bao gồm kĩ năng lập
luận, kĩ năng sáng tạo, tư duy phản biện và đánh giá. Việc dạy học CLIL tốt
được định hướng bởi tư duy [38]. GV cũng cần phân tích quá trình tư duy phù
hợp với mục tiêu ngôn ngữ để dạy HS nội dung ngôn ngữ phù hợp giúp HS bày
động gây hứng thú có thể là: tạo mối liên hệ giữa các kiến thức, kinh nghiệm
đã biết với hiện tại để giới thiệu nội dung học tập mới hoặc cho HS dự đoán
những hiện tượng, mục đích của hoạt động học tập này nhằm tập trung sự chú
ý của HS.
- Explore (khám phá): khi HS đã tập trung vào bài học, đây là bước cung
cấp cho HS những kiến thức mới. GV là người hỗ trợ HS xác định và phát triển
những khái niệm hoặc kĩ năng. HS khám phá những vấn đề hoặc hiện tượng và
giải thích nó theo cách của bản thân. Giai đoạn này cho phép HS sử dụng
những kinh nghiệm vốn có để tiếp cận khái niệm hoặc kĩ năng mới.
- Explain (giải thích): HS sẽ giải thích các khái niệm đã được khám phá.
HS có cơ hội sử dụng những hiểu biết về khái niệm, kiến thức để chứng tỏ khả
năng của mình. Giai đoạn này cũng tạo cơ hội cho GV giới thiệu về định nghĩa
và giải thích các khái niệm, kỹ năng, kiến thức…
- Extend (mở rộng): HS được mở rộng hiểu biết của mình và được thực
hành các kỹ năng mới. Thông qua kinh nghiệm mới, HS sẽ phát triển sự hiểu
19
biết sâu và rộng hơn về khái niệm chính, có thêm thông tin về môn học, điều
chỉnh các kỹ năng của mình.
- Evaluate (đánh giá): giai đoạn này mô hình 5-E khuyến khích HS thể
hiện sự hiểu biết, khả năng của mình và cho phép GV đánh giá HS về các kiến
thức trọng tâm và các kỹ năng.
1.2.3. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học Hóa học bằng tiếng Anh
Đánh giá được coi là một trong những yếu tố trung tâm và quan trọng của
giáo dục [39]. Black và William [30] định nghĩa đánh giá là bao gồm tất cả các
hoạt động mà GV và HS thực hiện để truyền đạt và lĩnh hội kiến thức mà có
thể kiểm định được sau khi dạy học. Hiện nay, việc kiểm tra, đánh giá trong
dạy học Hóa học bằng tiếng Anh nói riêng và đánh giá CLIL nói chung dẫn đến
nhiều tranh cãi. GV không chắc chắn nên đánh giá nội dung, ngôn ngữ hay cả
trả lời một câu hỏi cụ thể về bài giảng và đánh giá của bản thân về năng lực và
quá trình học; Quiz & Test sử dụng kết quả của các bài kiểm tra ngắn và kiểm
tra kết quả với mục đích đánh giá quá trình, GV cũng HS trao đổi về kết quả và
tìm ra những điều cần phát huy và những điểm cần khắc phục trong phạm vi
kiến thức của bài kiểm tra; viết luận, sử dụng bài viết cá nhân để thúc đẩy quá
trình tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng.
Heritage (2010) [53] đã tổng kết những ý kiến của GV sau khi sử dụng
phương pháp đánh giá quá trình như một phần không thể thiếu trong quá trình
học tập và giảng dạy, cụ thể GV nhận xét như:
-
Tôi đã từng giải thích rất nhiều, nhưng giờ tôi hỏi và đặt nhiều câu hỏi.
-
Tôi đã từng nói rất nhiều, nhưng giờ tôi nghe nhiều.
-
Tôi đã từng nghĩ nhiều đến giảng dạy chương trình, nhưng giờ tôi nghĩ
đến giảng dạy sinh viên.
Việc đánh giá quá trình phụ thuộc rất nhiều vào GV. GV cần phải hiểu
đánh giá quá trình, biết được mục tiêu và mục đích khi sử dụng phương thức
đánh giá này, ngoài ra GV cần phải sẵn sàng với những công việc tư vấn khi có
thông tin của đánh giá quá trình nhằm tối đa hóa hiệu quả và động lực học tập
của người học. Thực hiện đúng đánh giá quá trình không chỉ thay đổi phong
cách dạy của người GV, mà còn thay đổi phong cách học của HS. HS không
còn là đối tượng bị đánh giá, tiếp nhận kết quả đánh giá một cách bị động mà
trở thành một phần của việc đánh giá, chủ động thay đổi thái độ học tập. Sử
nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn được đặt ra, cụ thể như:
- Thuận lợi: TN thực tế, gần gũi nên dễ tạo hứng thú cho HS, tạo sự liên
kết từ thực tiễn vào bài học; hóa chất, dụng cụ TN dễ tìm kiếm và chuẩn bị, TN
đa số là không độc hại nên thích hợp sử dụng làm TN biểu diễn trong lớp học
cũng như cho HS thực hiện.
22
- Khó khăn: việc lên ý tưởng, thiết kế và chuẩn bị các TN sẽ tốn nhiều
thời gian, đặc biệt với những tiết học liên tục; trong kiểm tra, thi cử theo chuẩn
quốc gia hiện nay số câu hỏi, bài tập liên quan đến TN còn hạn chế; kĩ năng
thực hành của cả GV và HS còn hạn chế.
1.3.2. Các yêu cầu cần đạt của thí nghiệm
Các TN sử dụng dạy học Hóa học nói riêng và dạy Hóa bằng tiếng Anh
nói chung đều cần phải đảm bảo các yêu cầu như:
- Đảm bảo tính khoa học: TN phải đảm bảo tính chính xác về kiến thức,
các bước tiến hành TN cần rõ ràng, cụ thể, chú ý các nguyên tắc, kĩ thuật
khi tiến hành thí nghiệm.
- Gắn liền với nội dung bài học: nội dung TN và nội dung bài học phải có
sự tương quan với nhau, kết quả TN nhằm phát hiện, chứng minh, so
sánh… một vấn đề trọng tâm nào đó trong bài học.
- An toàn cho cả GV và HS: an toàn TN là yêu cầu trước hết với mọi TN.
Để đảm bảo an toàn, GV phải xác định ý thức thức trách nhiệm cao về bảo
vệ sức khỏe tính mạng của HS, mặt khác GV cần nắm chắc kĩ thuật và
phương pháp tiến hành TN.
- Đảm bảo thành công khi biểu diễn: thực hiện TN thành công có tác động
trực tiếp đến chất lượng dạy học và củng cố niềm tin của HS vào khoa học.
Muốn đảm bảo kết quả TN trước hết GV phải nắm vững kĩ thuật tiến hành
TN, phải thử nhiều lần trước khi biểu diễn trên lớp. Các dụng cụ và hóa
chất phải được chuẩn bị chu đáo, đồng bộ. Nếu TN không thành công, GV
- Tìm hiểu về những nguyên lí cơ bản của Hóa học thông qua sự kết hợp
giữa lý thuyết và thực tiễn.
- Phát triển các kỹ năng nghiên cứu khoa học cần thiết cho một môi
trường học quốc tế, kỹ năng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày.
- Tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu và con đường phát triển khoa học.
- Nhận thức được kết quả của nghiên cứu có thể đem lại cả tác động tốt và
xấu đối với cá nhân, cộng đồng và môi trường.
1.4.2. Các nội dung chính của chương trình IGCSE
Chương trình IGCSE Cambridge môn Hóa học bao gồm 12 chương [42].
- Chương 1: Trái Đất
24
Các nội dung chính trong chương 1 bao gồm vòng tuần hoàn của nước,
cacbon, nitơ; thành phần và chức năng của các loại khí trong không khí; sự
phân tách không khí thành các khí cấu thành nên nó; nguyên nhân ô nhiễm
không khí và cách khắc phục; hiệu ứng nhà kính và hiện tượng thay đổi khí
hậu; …
- Chương 2: Bản chất của vật chất
Các nội dung chính trong chương 2 bao gồm trạng thái của vật chất, sự
thay đổi trạng thái; các phương pháp tách và tinh chế chất; thuyết nguyên tử;
định lý động năng và sự biến đổi trạng thái; cấu tạo của nguyên tử và những hạt
hạ cấu tạo nên nguyên tử; đồng vị; phóng xạ…
- Chương 3: Chất và hợp chất
Các nội dung chính trong chương 3 bao gồm cấu tạo của bảng tuần hoàn
các nguyên tố hóa học, kim loại và phi kim trong bảng tuần hoàn, sự sắp xếp
electron trong bảng tuần hoàn, quy luật của nhóm I- kim loại kiềm, quy luật
của nhóm VII- nhóm halogen, khí hiếm, kim loại chuyển tiếp, liên kết trong
kim loại; liên kết cộng hóa trị, liên kết ion, công thức phân tử và tên gọi của
hợp chất ion, công thức phân tử và tên gọi của hợp chất cộng hóa trị, trạng thái