SKKN sử DỤNG PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH, đối CHIẾU TRONG dạy học LỊCH sử ở TRƯỜNG THPT - Pdf 37

SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun

S GD & T NG NAI
TRệễỉNG THPT NGO Sể LIEN
-----------M S .

SNG KIN KINH NGHIM
S DNG PHNG PHP SO SNH, I CHIU
TRONG DY HC LCH S TRNG THPT
------------

H tờn: Phan Vn Dng
T: S - a
Chuyờn mụn: Lch s

Traỷng Bom 5/2012
1


MỤC LỤC
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Các hình thức so sánh, đối chiếu
1. So sánh đối lập
2. So sánh theo nội dung lịch sử
3. So sánh đối chiếu theo các mốc thời gian
4. So sánh bằng hình thức trắc nghiệm
II. Các biện pháp thực hiện
1. Tiến hành trong giờ dạy
2. Giao bài tập về nhà

viên phải thực sự tốt, phải có một hệ thống các phương pháp để sử dụng
một cách linh hoạt trong các phần dạy, bài dạy, tiết dạy. Hiện nay đã có rất
nhiều các phương pháp dạy hcọ tích cực như đàm thoại, phương pháp nêu
vấn đề, phương pháp thảo luận…và trong đề tài của minh tôi cũng xin đưa
ra một phương pháp so sánh đối chiếu trong giảng dạy.
Phương pháp đối chiếu trong dạy học lịch sử là phương pháp sử dụng
sự kiện lịch sử để so sánh sự khác nhau và nhau của vấn đề lịch sử, đối
chiếu các sự kiện trong cùng một thời điểm, các sự kiện xảy ra, từ đó giúp
học sinh rút ra được bản chất của sự kiện, phát huy tư duy, so sánh, phân
tích, tìm ra các mối liên hệ giữa các sự kiện với nhau, làm cho học sinh
hiểu bài và nhớ lâu hơn. Với những ưu điểm của phương pháp qua một số
năm công tác tôi đã quyết định chọn đề tài: “Sử sụng phương pháp so sánh,
đối chiếu trong dạy học lịch sử ở trường THPT làm đề tài sáng kiến kinh
nghiệm. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía bạn bè và
đồng nghiệp.
B. NỘI DUNG ĐÈ TÀI
I. CÁC HÌNH THỨC SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU
1. So sánh đối lập:
Là hình thức chọn hai vấn đề có nội dung, bản chất đối lập nhau,
mâu thuẫn nhau, hình thức này thường được sử dụng bằng các kí hiệu toán
học dấu lớn, dấu bé :> < như nghĩa > < phi nghĩa; so sánh giữa hai giai cấp
này > < nô lệ
Xã hội cổ đại phương đông :
Quý tộc > < nô tỳ

tác rồi lại nội chiến, cuối cùng sự thắng thế đã thuộc về những người cộng
sản do Mao Trạch Đông đứng đầu, kết quả đó phù hợp với nguyện vọng
mong muốn của nhân dân Trung Quốc. Với cách trình bày trên sẽ giúp học
sinh dễ nhớ, ngắn gọn hiệu quả lại cao.
Khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914 – 1918)” sách giáo
khoa lớp 11 giáo viên cũng có thể sử dụng hình thức so sánh đối lập giữa
hai phe đế quốc như sau:
Phe liên minh
>

Ví duï
Khi dạy về nội dung “chính cương vắn tắt”, “sách lược vắn tắt” bài
“Đảng cộng sản Việt Nam ra đời” lớp 12. Tôi cho học sinh so sánh với
luận cương tháng 10/1930 về các nội dung: Mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng
tham gia, vị trí của cách mạng theo bảng so sánh sau.
Nội dung
Chính cương vắn Luận
cương Giống
nhau,
So sánh
tắt, sách lược tháng 10 – 1930 khác nhau
vắn tắt
(1)
(2)
( 3)
( 4)
1. Mục tiêu
- Cách mạng - Cách mạng Giống nhau
Việt Nam trải Việt Nam trải
qua 2 giai đọan qua 2 giai đọan
TSDQ  CNXH TSDQ  CNXH
2. Nhiệm vụ
Đánh đổ đế Đánh đổ đế quốc Khác nhau
quốc, phong kiến và phong kiến ( 2
tay sai phản nhiệm vụ khăng
động
khít với nhau)
3. Lực lượng Công nông, tiểu Công nông
Khác nhau
tham gia

nên sử dụng phương pháp này để minh họa cho một thời kỳ, một giao đoạn
lịch sử để học sinh thấy được tính hệ thống hóa, khái quát hóa cho vấn đề.
Ví dụ :
Khi dạy phần lịch sử Việt Nam giai đọan 1939 – 1945 giáo viên nên
đối chiếu theo sơ đồ dưới đây:
Chiến tranh thế giới 2
Chiến
tranh thế giới 2 vào cuối
TG: Giai đoạn đầu của chiến tranh
vào giai đoạn quyết liệt
giai đoạn và kết thúc.
1939
Trong - 11/ 1939 Hội nghị
Pháp
- 3 cuộc khởi nghĩa
Cao trào kháng Nhật cứu nước
vũ trang
hàng động minh
Nước - Nhật nhảy vào Đ D
khởi nghĩa tháng 8/ 1945.

1941
- Hội nghị TƯ 8

1945
- Nhật đảo chính

- Chuẩn bị xây dựng phát triển

-

“Đồng khởi”
Thực hiện kế hoạch 5
1961 – 1965
Chống chiến tranh đặc
năm lần thứ 1.
biệt
Chống chiến tranh phá
1965 – 1968
Chhống chiến tranh cục
hoại lần 1 của Mỹ
bộ
Khôi phục kinh tế,
1968 – 1973
Chống Việt Nam hóa và
chống chiến tranh phá
Đông dương hóa chiến
hoại lần 2 của Mỹ
tranh
Với hình thức so sánh trên học sinh sẽ khái quát được nhiệm vụ cách
mạng hai miền theo các mốc thời gian, tư đó xác định vị trí, vai trò cách
mạng của mỗi miền, mối liên hệ chặt chẽ giữa hai miền và rút ra much tiêu
cuối cùng của cả hai miền là tiến tới thống nhất đất nước.
Như vậy tùy thuộc vào từng bài, từng chương, từng giai đoạn để giáo viên
tiến hành so sánh, đối chiếu các vấn đề lịch sử làm sao để học sinh dễ nhớ,
dễ hiểu và dễ học để từ đó các em thêm yêu môn lịch sử.
4. So sánh bằng trắc nghiệm.
Để củng cố bài học, học sinh phải làm bài tập lịch sử, làm bài tập do
giáo viên hướng dẫn ở trên lớp và bài tập được giao về nhà, các dạng câu
hỏi đúng sai thường là câu hỏi trắc nghiệm điền vào ô trống chọn phương
án nào là phương án đúng. Mục đích của việc này là khẳng định vấn đè đã

Ví dụ:
- Em hãy so sánh chủ trương của Đảng ta thời kỳ 1930 – 1931 với
thời kỳ 1936 – 1939.
Có rất nhiều dạng câu hỏi cho bài kiểm tra mục đích là giúp học
sinh nhớ lại những kiến thức đã học trên cơ sở hệ thống, khái quát cao
từ hình thức so sánh từ đó học sinh sẽ rút ra được sự giống và khác nhau
của các vấn đề.
Khi ôn tập hay bồi dưỡng cho học sinh đòi hỏi kkiến thức ôn tập phải
vừa cụ thể hóa, vừa khái quát hóa, hệ thống hóa thì lúc này sử dụng
phương pháp so sánh đối chiếu là rất cần thiết. Giáo viên nên lập bảng
biểu để các em so sánh đối chiếu giữa bài này, giai đoạn trước với giai
đoạn sau. Đặc biệt đối với việc bồi dưỡng họ sinh khá giỏi, yêu cầu các
em phải nắm bắt được cả một hệ thống vấn đề để liên hệ, đối chiếu so
sánh từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện. Các dạng câu hỏi so sánh
như vậy sẽ rất dễ cho học sinh nắm bắt vấn đề.
4. Các phương tiện hỗ trợ so sánh đối chiếu:
- Dùng máy chiếu: Đây là phương tiện trực quan hỗ trợ tốt khi
thực hiện các phép so sánh, đối chiếu trong dạy học.
- Dùng bảng phụ viết tay.
5. Một số lưu ý khi thực hiện so sánh đối chiếu
- Vấn đề đưa ra so sánh phải có nội dung tương đương ngắn gọn.
- Khi so sánh bằng bảng biểu phải ngắn gọn, tóm lược được các ý
chính, bao quát được nội dung của vấn đề, bảng biểu phải bố trí ccác cột
mục khoa học, dễ hiểu, dễ trình bày.
C. KẾT LUẬN.
Khi sử dụng phương pháp này tôi thấy học sinh dễ nắm bắt bài,
dễ hiểu, dễ nhớ bởi các em được trực quan bằng bảng biểu bằng sơ đồ
mang tính lôgic cao từ đó tạo cho các em tính tư duy liên hệ, phân tích,
so sánh và hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề. Đặc biệt khi sử dụng máy
chiếu đa năng học sinh rất dễ quan sát, có thể trực tiếp làm việc với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status