Vận dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu trong dạy học tiếng việt ở các trường trung học cơ sở thuộc quận 6 thành phố hồ chí minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH BÙI THỊ LIỄU TRANG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN THEO MẪU
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘC QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


1. Lý do chọn đề tài 1

2. Lịch sử vấn đề 3

3. Mục đích nghiên cứu 6

4. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5. Phương pháp nghiên cứu 7

6. Cấu trúc luận văn 7

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1. Cơ sở lý luận của phương pháp rèn luyện theo mẫu 8

1.1.1. Khái niệm mẫu và mẫu ngôn ngữ 8

1.1.2. Vấn đề mô phỏng, bắt chước trong hoạt động ngôn ngữ của
con người 9

1.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở với vấn
đề mô phỏng, bắt chước ngôn ngữ 11

1.1.4. Rèn luyện theo mẫu với tư cách là một phương pháp dạy
học tiếng 13

1.1.5. Rèn luyện theo mẫu và vấn đề đổi mới phương pháp dạy
học Tiếng Việt ở nhà trường THCS hiện nay 15

học sinh 43

2.2. Các nội dung cần rèn luyện theo mẫu trong dạy học tiếng Việt ở
trung học cơ sở 45

2.2.1. Rèn luyện cách sử dụng từ ngữ trong ngữ cảnh cụ thể 45

2.2.2. Rèn luyện cách tạo câu theo các yêu cầu biểu đạt 51

2.2.3. Rèn luyện cách tổ chức đoạn văn theo yêu cầu lập luận 58

2.3. Các bước tiến hành hoạt động rèn luyện theo mẫu cho học sinh 64

2.3.1. Chọn mẫu 64

2.3.2. Phân tích mẫu 65

2.3.3. Hướng dẫn học sinh tạo lập sản phẩm ngôn ngữ theo mẫu 67

2.3.4. Đánh giá sản phẩm ngôn ngữ của học sinh 68

2.4. Một số trường hợp minh họa cho các bước tiến hành rèn luyện
theo mẫu 70

2.4.1. Rèn luyện cách dùng từ ngữ trong các ngữ cảnh khác nhau
qua dạy bài từ “Từ đồng nghĩa” (Ngữ văn 7, tập một) 70

2.4.2. Rèn luyện cách tạo câu theo yêu cầu biểu đạt qua dạy bài
“Câu nghi vấn” và bài “Lựa chọn trật từ trong câu” (Ngữ
văn 8, tập hai) 73

3.3.2. Xử lý số liệu thực nghiệm 112

3.4. Kết luận chung về thực nghiệm 114

Tiểu kết chương 3 115

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
Nxb : Nhà xuất bản
PPDH : Phương pháp dạy học
SGK : Sách giáo khoa
SL : Số lượng
THCS : Trung học cơ sở

nghĩa, ngữ pháp. Trên cơ sở đó, giáo viên rèn luyện các kỹ năng nghe, nói,
đọc viết cho học sinh nhằm giúp các em bước đầu sử dụng tiếng Việt để suy
nghĩ và giao tiếp có hiệu quả. Giáo viên dần dần hình thành cho học sinh ý
thức về chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn mực văn hóa thể hiện qua lời nói.
Tiếp nối chương trình bậc tiểu học, lên trung học cơ sở, học sinh tiếp
tục được cung cấp những tri thức tiếng Việt mang tính hệ thống hơn. Hầu như
những vấn đề cốt lõi về lý thuyết cũng như thực hành luyện tập tiếng Việt đều
được đề cập khá đầy đủ. Học sinh đã có ý thức, nền tảng tri thức quan sát
2 ngôn ngữ của người khác và của chính mình để điều chỉnh, phát triển lời ăn
tiếng nói. Dạy học tiếng Việt cũng đồng thời rèn luyện cho học sinh những
mẫu lời nói trong học tập, giao tiếp, hướng đến chuẩn mực, phù hợp với lứa
tuổi, tâm sinh lý của học sinh, giúp các em tích cực chủ động tham gia vào
hoạt động giao tiếp một cách hiệu quả.
1.3. Hiện nay, với sự phát triển chóng mặt của khoa học công nghệ,
việc sử dụng internet đã mở đường cho kết nối toàn cầu, các loại hình giao
tiếp qua mạng trở nên phổ biến, và kéo theo nó là lối sử dụng ngôn ngữ với
nhiều tên gọi khác nhau: ngôn ngữ chát, ngôn ngữ tuổi teen Đây là một hiện
tượng ngôn ngữ có ảnh hưởng rất lớn đến giới trẻ, không chỉ xuất hiện trong
những văn bản chát, những dòng tin nhắn qua điện thoại di động, mà nó còn
được một bộ phận học sinh đưa cả vào trong bài viết, bài thi của mình. Ngôn
ngữ chát xâm nhập vào học đường, một mặt, tạo nên nét vui tươi, dí dỏm
trong giao tiếp, nhưng mặt khác, dẫn đến sự phức tạp, lộn xộn trong tư duy và
sử dụng ngôn ngữ của học sinh. Vì vậy, để nâng cao ý thức, trách nhiệm giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt, điều chỉnh những cải biến ngôn ngữ do
chính các em tạo ra, hướng các em vào các chuẩn mực, trong việc dạy phân
môn tiếng Việt, giáo viên cần quan tâm đến phương pháp rèn luyện theo mẫu.
Đây là một trong những phương pháp đặc thù trong dạy tiếng Việt, giúp cho

học tiếng Việt, cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng PPDH tiếng Việt,
việc sử dụng thiết bị và đồ dùng để dạy học tiếng Việt, hoạt động ngoại khoá
môn tiếng Việt…
Đối với phương pháp rèn luyện theo mẫu, các giáo trình nghiên cứu về
phương pháp dạy học tiếng Việt đã xem đó là một trong những phương pháp
đặc thù trong dạy học tiếng. Đáng chú ý là trong giáo trình Phương pháp dạy
học tiếng Việt của Lê A (chủ biên), Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán.
Nhóm tác giả đã trình bày về một số phương pháp mang tính đặc thù cho việc
4 dạy học tiếng Việt trong nhà trường như phương pháp thông báo - giải thích,
phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương
pháp giao tiếp [3, tr. 64-71]. Mỗi phương pháp đều được trình bày cụ thể về
bản chất, đặc trưng, các thao tác, quy trình thực hiện, phạm vi có thể áp dụng.
Về bản chất của phương pháp rèn luyện theo mẫu, theo các tác giả, “đó là
phương pháp mà thầy giáo chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi
hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng và bắt
chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình” [3, tr. 69]. Các bước
cụ thể thực hiện phương pháp này mà giáo trình đã nêu gồm: cung cấp mẫu
lời nói hoặc hành động lời nói; giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu
theo một số yêu cầu; học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình; kiểm
tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. Giáo trình cũng cũng nhấn mạnh đến tính khả
thi của các phương pháp trong thực tế dạy học. Mỗi phương pháp có đặc thù
và chỗ mạnh riêng, giáo viên phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo mới thu được
kết quả mong muốn.
Với công trình nghiên cứu Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ
tiểu học, tác giả Hoàng Hòa Bình - Nguyễn Minh Thuyết đã trình bày khá rõ
về phương pháp rèn luyện theo mẫu. Theo tác giả: “Rèn luyện theo mẫu là
vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học hoặc mô hình đã biết vào thực hành

về vấn đề dạy tiếng, liên quan đến nhiều đối tượng, song một số ý kiến trong
đó có thể vận dụng vào dạy học tiếng Việt trong nhà trường.
Trao đổi về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng
Việt theo quan điểm tích hợp, tác giả Đỗ Ngọc Thống trong tài liệu Tìm hiểu
chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông đã giúp giáo
viên thấy được những yêu cầu của việc đổi mới chương trình Tiếng Việt trong
SGK Ngữ văn và sự cần thiết của việc đổi mới PPDH Tiếng Việt theo quan
điểm “tích hợp” và “tích cực”. Theo tác giả, mục đích chính của việc dạy
6 tiếng Việt ở THPT là “hành dụng”, “tức là hình thành và rèn luyện cho HS
khả năng vận dụng các đơn vị ngôn ngữ trong tiếng Việt một cách tổng hợp
và thành thạo trong nói cũng như viết theo một kiểu văn bản nào đó” [38, tr.
139]. Tác giả nhấn mạnh nguyên tắc tích hợp trong giờ dạy học Tiếng Việt
thể hiện ở chỗ “khi cung cấp tri thức về một đơn vị ngôn ngữ nào đó, người
GV luôn hướng HS liên hệ với các tác phẩm văn học đã và đang học, đặt đơn
vị đó, yếu tố tiếng Việt đó trong văn cảnh cụ thể của tác phẩm, vận dụng một
cách thành thạo để nghe hiểu, đọc hiểu, nói đúng và viết đúng” [38, tr. 141].
Tóm lại, các tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng Việt và
định hướng dạy học theo quan điểm tích hợp trong chương trình Tiếng Việt
khá nhiều. Tuy nhiên, các tài liệu chỉ mới dừng lại ở việc hướng dẫn khái quát
về đổi mới PPDH Tiếng Việt theo hướng “tích hợp” và “tích cực” chứ chưa
nghiên cứu về các PPDH cụ thể của từng bộ phận trong môn Tiếng Việt ở bậc
THCS. Đặc biệt, với phương pháp rèn luyện theo mẫu - một phương pháp đã
được sử dụng khá phổ biến trong dạy học tiếng Việt, nhất là ở bậc tiểu học -
nhưng vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, chưa được bàn
nhiều như các phương pháp khác. Các công trình nghiên cứu về phương pháp
rèn luyện theo mẫu chỉ mới dừng lại ở phạm vi khái quát về các bước thực
hiện, cách vận dụng, chưa đi sâu vào việc dạy học tiếng Việt theo phương pháp

Chương 2: Nguyên tắc, nội dung và các bước tiến hành rèn luyện theo
mẫu cho học sinh trung học cơ sở.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.

8 Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận của phương pháp rèn luyện theo mẫu
1.1.1. Khái niệm mẫu và mẫu ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm mẫu
Trong một số lĩnh vực lao động, học tập, giao tiếp chúng ta thường
được hướng dẫn, thực hiện theo mẫu. Vậy mẫu là gì?
Mẫu được hiểu là: 1 “Cái được nêu lên để người ta bắt chước (mẫu biểu
kế toán); 2 “Vật trình bày cho người ta biết những đặc điểm, thành phần, công
dụng của những vật đồng nhất với nó, sản xuất hay tồn tại trong tự nhiên trên
qui mô lớn (mẫu áo, mẫu quặng)”; 3 “Vật có cùng hình dạng với vật khác
nhưng có kích thước nhỏ hơn (mẫu máy bay); 4 “Người có tới mức hoàn
chỉnh những tính chất, đặc điểm của cả loại và đáng được nêu lên làm tiêu
biểu (nhà giáo kiểu mẫu); 5 “Người mà nghệ sĩ vẽ hay tạc lại hình dạng (ngồi
làm mẫu) [49, tr. 381].
Mẫu cũng được giải thích ngắn gọn theo hai nghĩa sau: 1 “Cái theo đó
có thể tạo ra hàng loạt những cái khác cùng một kiểu (mẫu đồ chơi cho trẻ
em)”; 2 “Cái có thể cho người ta hiểu biết về hàng loạt những cái khác cùng
một kiểu (hàng bày mẫu) [50, tr. 492].
1.1.1.2. Khái niệm mẫu ngôn ngữ
Trong cuộc sống, để giao tiếp với nhau, con người luôn cần ngôn ngữ.
Nhưng làm thế nào để sử dụng ngôn ngữ đạt hiệu quả, phù hợp với mục đính giao

chước. Cuộc sống có bao nhiêu bình diện là có bấy nhiêu cách mô phỏng, bắt
chước làm theo. Đặc biệt, con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau.
Người ta có thể giao tiếp bằng nhiều phương tiện, song ngôn ngữ là phương
tiện quan trọng nhất. Để sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đạt hiệu quả, con
người phải trải qua quá trình học hỏi, rèn luyện, bắt chước mô phỏng những
10 thói quen ngôn ngữ xã hội có tính chất truyền thống, những tập quán lựa chọn
và kết hợp đã hình thành trong cộng đồng, đã tạo nên những chuẩn mực cho
toàn xã hội.
Hầu hết trẻ em đều có khả năng bắt chước từ khi mới sinh ra, và điều
này rất quan trọng, bởi vì, bắt chước là công cụ sơ đẳng để học những kỹ
năng mới. “Thỏ thẻ như trẻ lên ba”, “Trẻ lên ba cả nhà học nói” là những
thành ngữ nói đến việc dạy trẻ học nói, từ những năm đầu tiên của cuộc đời.
Nói và hiểu được là phương tiện giao tiếp quan trọng giúp cho sự phát triển
các khả năng tư duy, nhận thức và hoà nhập vào xã hội của trẻ. Quá trình trẻ
học nói luôn cần có sự tương tác của một đối tượng như đồ vật, sự việc, tình
huống Qua quá trình tiếp xúc, trẻ chú ý đến cách phát âm của mọi người
xung quanh, nghe rồi bắt chước và nhìn nhận đồ vật, chú ý “từ’’ và hiểu nghĩa
của nó, để rồi phát âm gọi tên đồ vật. Vì vậy, để nói và hiểu được ‘từ’, trẻ
phải được nhiều lần tiếp xúc, được dạy phát âm. Đây là giai đoạn ban đầu
ngôn ngữ dần được hình thành trong tư duy của trẻ ở dạng ngôn ngữ nói.
Hành động, lới nói của người lớn có ảnh hưởng rất nhiều đến trẻ con. Trẻ có
thể cảm nhận vô số chuyện xung quanh, trẻ có thể mô phỏng được y hệt thái
độ, lời nói, giọng điệu của người lớn. Khoa học tâm lý đã chỉ ra rằng trẻ có
thể bắt chước, mô phỏng và học rất nhanh các nghi thức xã hội, tác phong cư
xử, nhất là lời ăn tiếng nói của người lớn.
Qua từng giai đoạn phát triển, con người sẽ tích lũy vốn từ trong giao
tiếp. Chất lượng, vốn từ nhiều hay ít còn phụ thuộc vào môi trường sống,

môn học khác nhau, với nhiều thầy cô giảng dạy. Mỗi thầy, cô có cách trình
bày, phương pháp dạy học, cách giao tiếp riêng của mình. Học sinh có thể
học hỏi, bắt chước, mô phỏng từ chính cách dạy, ứng xử, giao tiếp của thầy
cô. Nhân cách của người thầy sẽ tác động vào việc hình thành và phát triển
trí tuệ, nhân cách của học sinh.
12 Do sự mở rộng các quan hệ xã hội, do sự phát triển của tự ý thức, đạo
đức của các em được phát triển mạnh, học sinh THCS đã biết sử dụng các
nguyên tắc riêng, các quan điểm, sáng kiến riêng để chỉ đạo hành vi. Ở lứa
tuổi này, giao tiếp là hoạt động chủ đạo. Lứa tuổi thiếu niên có những thay
đổi rất cơ bản trong giao tiếp với người lớn và với bạn ngang hàng. Qua giao
tiếp, các em thực hiện ý muốn làm người lớn để lĩnh hội các chuẩn mực đạo
đức - xã hội. Với ý thức muốn làm người lớn, học sinh sẽ dễ dàng bắt chước,
mô phỏng hoạt động, suy nghĩ của người lớn, nhất là bắt chước ngôn ngữ của
người lớn trong giao tiếp.
Học sinh trung học cơ sở thường ở độ tuổi đang hoàn thiện thể chất và
đang hình thành những năng lực trí tuệ, trong đó có năng lực hoạt động ngôn
ngữ. Bên cạnh các mặt khác, phát triển vốn ngôn ngữ cũng là điều cần được
chú ý. Ở lứa tuổi này, việc tiếp thu ngôn ngữ từ hai nguồn (sinh hoạt và học
tập) đều rất quan trọng. Ngôn ngữ của các em đã được phát triển mạnh, vốn
từ tăng lên rõ rệt, khả năng tưởng tượng khá phong phú nhưng còn bay bổng,
thiếu thực tiễn, trình độ logic chặt chẽ hơn so với học sinh tiểu học, các em có
thể đã biết cách lập luận theo suy nghĩ riêng của mình, nhưng phảng phất
trong đó vẫn có nét mô phỏng, bắt chước cách nói, lý lẽ của những người lớn.
Một số hành động, lời nói của các em có thể được thực hiện theo thói quen,
làm theo sự hướng dẫn, mô phỏng từ người lớn và ngay cả bắt chước từ bạn
bè. Quá trình bắt chước đôi khi các em vẫn còn làm theo cảm tính hay bản
năng, chưa có khả năng biết chọn lọc những sản phẩm ngôn ngữ chuẩn mực.

Phương pháp rèn luyện theo mẫu chỉ là một trong những phương pháp
dạy học, tồn tại bên cạnh một số phương pháp khác như phương pháp thông
báo - giải thích, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp giao tiếp
Trong thực tế ứng dụng, một tiết học có thể là một tiến trình tiếp cận mục
đích bằng nhiều phương pháp, biện pháp phối hợp với nhau. Bước dạy kiến
14 thức mới thường thiên về sử dụng phương pháp giao tiếp và thông báo - giải
thích. Bước dạy bài ôn tập, thực hành củng cố thường sử dụng phương pháp
rèn luyện theo mẫu, phân tích ngôn ngữ.
Trong nhà trường, mục đích của việc vận dụng phương pháp rèn luyện
theo mẫu là nhằm hình thành ở học sinh ý thức về chuẩn mực ngôn ngữ và
chuẩn văn hóa lời nói. Khi sử dụng ngôn ngữ, học sinh phải ý thức rằng
không phải ai muốn nói thế nào cũng được mà phải phân biệt cái gì là có thể,
cái gì là không thể. Các em cần biết rằng mọi người trong xã hội đã thỏa
thuận, quy ước nói thế này được mà nói cách khác thì không được dẫu cho
điều đó là hợp logic.
Ngay từ bậc tiểu học, phương pháp rèn luyện theo mẫu đã được giáo
viên sử dụng khá phổ biến và có thể nói đây là phương pháp đặc thù, chủ đạo
trong dạy học tiếng Việt. Từ những bài học đầu tiên về dạy học đọc, học viết,
định hướng việc học nghe, học nói đến việc từng bước cung cấp những khái
niệm sơ giản, cơ bản ban đầu về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng
tiếng Việt, giáo viên hầu như đều có thể sử dụng phương pháp rèn luyện theo
mẫu. Lên bậc trung học cơ sở, học sinh tiếp tục được cung cấp những tri thức
tiếng việt mang tính hệ thống, hoàn chỉnh hơn. Học sinh đã có ý thức quan sát
ngôn ngữ của người khác, quan sát ngôn ngữ của chính mình để phát triển
ngôn ngữ và có ý thức điều chỉnh lời ăn tiếng nói của mình. Do đó, giáo viên
tiếp tục sử dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu ở yêu cầu, tri thức cao hơn,
đặc biệt quan tâm, rèn luyện cho học sinh những mô hình, mẫu lời nói trong

nhiều, coi đó như một nỗ lực của ngành. Vì vậy, điều 28.2 của Luật giáo dục
đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh”.
16 Từ năm 2000, chúng ta đã cải cách chương trình và sách giáo khoa. Bắt
đầu từ tháng 9 năm 2002, chương trình Ngữ văn THCS được áp dụng đại trà.
Việc biên soạn sách được xây dựng theo quan điểm “tích hợp” và “tích cực”.
Ba môn Văn học - Tiếng Việt - Làm văn, trước đây được biên soạn độc lập,
nay được tích hợp lại trong một môn có tên gọi mới là Ngữ văn
Khi SGK Văn học, Tiếng Việt, Làm văn được tích hợp trong một
quyển sách Ngữ văn thì phương pháp dạy học môn Tiếng Việt cũng cần được
đổi mới. Việc vận dụng quan điểm “tích hợp” và “tích cực” trong dạy học
tiếng Việt đặt ra yêu cầu cần phải có những đổi mới về phương pháp dạy học.
Việc lựa chọn phương pháp dạy học để phát huy được tính tích cực học tập
của học sinh, giúp học sinh hoàn chỉnh khả năng sử dụng tiếng Việt là một
thách thức đối với giáo viên. Khi nghiên cứu việc vận dụng phương pháp rèn
luyện theo mẫu trong dạy tiếng Việt, một số câu hỏi tất yếu phải được đặt ra:
phương pháp này có còn hiệu lực trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học
tiếng Việt hiện nay? Hay nó góp phần làm triệt tiêu sự năng động, sáng tạo
của học sinh?
Trong các phương pháp giảng dạy học tiếng Việt, phương pháp rèn
luyện theo mẫu là một phương pháp mang tính truyền thống, đã được giáo
viên sử dụng khá phổ biến. Ngày nay bên cạnh các phương pháp mang tính
đặc thù được nhiều giáo viên áp dụng phù hợp với xu thế đổi mới như:
phương pháp giao tiếp, phương pháp trực quan, phương pháp dạy học nêu vấn

từng nhóm học sinh cùng thảo luận và trình bày mẫu hoặc có thể đặt ra các
tình huống giao tiếp để học sinh tự chọn được những mẫu lời nói nào là phù
hợp nhất trong ngữ cảnh bởi mỗi mẫu lời nói chỉ phù hợp với một ngữ cảnh
nhất định. Cách làm này đã phát huy được năng lực từ ngữ vốn có của học
sinh và cũng đã phát huy được tính tích cực chủ động của các em trong học
tập, để các em cảm thấy phấn khởi tự tin khi mình đã khám phá ra vấn đề,
nhất là biết cách vận dụng, lựa chọn mẫu phù hợp trong hoàn cảnh giao tiếp.
18 Đối với PP rèn luyện theo mẫu, việc đánh giá mức độ đổi mới PP dạy
học là vấn đề không dễ bởi so với các PP đặc thù khác trong dạy học tiếng
Việt vì đây là một PP truyền thống mà bất cứ giờ học tiếng Việt nào đều có
thể sử dụng (các ví dụ, các mẫu ngôn ngữ). Bước đột phá, tính hiện đại của
PP còn khó thể hiện rõ, nhưng nếu giáo viên biết cách phối hợp linh hoạt với
các phương pháp khác thì PP này vẫn phù hợp với xu thế đổi mới trong PP
dạy học tiếng hiện nay.
1.2. Cơ sở thực tiễn của phương pháp rèn luyện theo mẫu
1.2.1. Yêu cầu hình thành tri thức từ chương trình phân môn Tiếng
Việt THCS
Phân môn tiếng Việt ở trường phổ thông có một vị trí khá quan trọng.
Nó vừa là phân môn của Ngữ văn lại vừa là công cụ hỗ trợ cho khả năng diễn
đạt và tư duy tất cả các môn khác. Do đó, trong dạy học tiếng Việt, yêu cầu
hình thành tri thức được xem là bước cơ bản khởi đầu cho việc đạt được ba
mức độ: dạy tri thức, dạy kỹ năng, dạy tư duy. Phân môn Tiếng Việt có nhiệm
vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt,
quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong hoạt động giao tiếp. Ngay
từ bậc tiểu học, học sinh đã được làm quen, hình thành những tri thức sơ giản,
cần thiết về tiếng Việt, bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ
pháp. Lên bậc trung học cơ sở, học sinh tiếp tục được cung cấp những tri thức

môn học, tùy vào đặc trưng của mình, hướng tới rèn luyện những kỹ năng và
tư duy khác nhau cho học sinh. Với phân môn tiếng Việt ở bậc THCS, từ yêu
cầu hình thành tri thức chúng ta hướng đến hai mức độ tiếp thêm là rèn luyện
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh (các em có thể đọc thông, viết thạo,
đúng chính tả, đúng ngữ pháp) và rèn luyện, phát triển tư duy cho học sinh.
Môn Tiếng Việt có nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và phát triển tư duy cho
học sinh. Dạy học Tiếng Việt phải bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói và tư duy;

Trích đoạn Nguyên tắc bám sát chương trình, sách giáo khoa Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp Nguyên tắc vừa sức Nguyên tắc hướng tới cả dạng nói và dạng viết Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status