BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________________
ĐẶNG THỊ BÍCH LIỄU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
________________________
ĐẶNG THỊ BÍCH LIỄU
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHỆ AN - 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Kính
thưa quí thầy cô!
Với tình cảm chân thành và lòng quí trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến quí lãnh đạo, Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh và Trường
Đại học Đại học Sài Gòn, Khoa sau Đại học; các giáo sư, tiến sĩ, các nhà
GD : Giáo dục
GDMN : Giáo dục Mầm non
HT : Hiệu trưởng
KT-CT : Kinh tế - chính trị
KT-XH : Kinh tế - xã hội
MT : Môi trường
MN : Mầm non
QL : Quản lý
QLGD : Quản lý giáo dục
UBND : Ủy ban nhân dân
XHH : Xã hội hóa
XHHGD : Xã hội hóa giáo dục
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TBGD : Thiết bị giáo dục
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tại đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: "Phát
triển GD-ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người,
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
GDMN là bậc học đầu tiên của hệ thống GD quốc dân, có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân
cách con người. Quản lý ngành học này là công việc hết sức khó khăn, nặng
nề và phức tạp, đòi hỏi người quản lý trước hết phải yêu nghề, có tâm huyết
với nghề, yêu trẻ, phải hội tụ đầy đủ các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, năng
lực quản lý, trình độ chuyên môn, vững vàng về chính trị để hoàn thành
nhiệm vụ được giao. Quản lý giáo dục được đánh giá là khâu đột phá của đổi
mới giáo dục trong đó có cả giáo dục mầm non. Nghị quyết Đại hội lần thứ
ở các trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc -
giáo dục trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập Quận 9, Thành phố Hồ
Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở các trường mầm
non ngoài công lập Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được nâng cao nếu
nghiên cứu đề xuất và thực hiện những biện pháp có tính khoa học và tính khả
thi, phù hợp với điều kiện của địa phương.
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
5.2. Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động chăm sóc -
giáo dục trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập Quận 9, Thành phố Hồ
Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục
trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục giáo
dục trẻ của Ban giám hiệu các trường mầm non ngoài công lập ở Quận 9,
Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm các phương pháp như phân tích- tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu
nhằm xác lập cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phưong pháp điều tra;
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
+ Phưong pháp lấy ý kiến chuyên gia;
+ Phương pháp khảo nghiệm sư phạm
để thực hiện một công việc chung nhằm một mục tiêu chung, như vậy hoạt
động quản lý ra đời khi xã hội loài người xuất hiện, tức là từ thời công xã
nguyên thuỷ. Với kỹ thuật quá thô sơ, bản thân con người phải dựa vào nhau
để sống, phải lao động tập thể, dùng sức mạnh tập thể để chinh phục thiên
nhiêm, phục vụ con người, từ đó hình thành các thị tộc, bộ lạc và xuất hiện
chức năng quản lý ngay trong từng thị tộc, bộ lạc trong điều kiện xã hội chưa
phân chia giai cấp và chưa có nhà nước. Quản lý ra đời sớm như vậy nhưng
khoa học quản lý lại ra đời muộn hơn và thực sự trở thành môn khoa học cũng
chỉ trong một vòng thế kỷ qua.
Khi tìm hiểu về quản lý trường mầm non trên thế giới, có thể thấy
nghiên cứu về lĩnh vực này nở rộ ra vào những năm 90 ở Úc và ở Anh như
các tác phẩm của Hayden J. (1996) về Quản lý trường mầm
non (Management of Early Childhood Services) - Wentwoerth Falls NSW,
Social Sciences Press và tác phẩm cùng tên (Mannagement in Pre- Schools)
do Pre schools Leaming Alliance (PLA) ấn hành tại London năm 2000. Với
40 năm kinh nhgiệm, quyển sách của PLA đã giúp cho người lãnh đạo trường
mầm non có phương pháp quản lý nhà trường hiệu quả. Bên cạnh đó, một số
nghiên cứu khác tìm hiểu rộng hơn đến vai trò của người lãnh đạo ở nhà
trường mầm non như nghiên cứu của Cushla Scrivens (1990) (Pro fessional
5
Lea dership in Early Childhood- the New Zealang Kinder garten Exp
erinence); Stamopoulos E. (2003) (Lead ership and Change Mana gement in
Early Childhood); và Rodd J.(2006) (Leadersship in Early Childhood).
Trong thời gian qua, nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến việc tìm ra các biện
pháp quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của các trường Mầm non. Từ
đó, họ đã đề xuất nhiều biện pháp quản lý đạt hiệu quả.
V.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như những thất
bại của 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn
nghiệp vụ của một Hiệu trưởng. Cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn
mạnh đến sự phân công hợp lý, sự phối hơp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý
từ thực tiễn của nền giáo dục Việt Nam.
Đối với giáo dục mầm non, có một số tác giả nhấn mạnh vai trò của
quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ trong quá trình thực hiện mục tiêu
giáo dục. Trong thực tế do tính chất nghề nghiệp mà hoạt động chăm sóc -
giáo dục trẻ của các trường Mầm non rất phong phú và đa dạng. Ngoài việc
quản lý giáo viên tổ chức các hoạt động học, hoạt động chơi, quản lý việc tổ
chức và nuôi dạy trẻ một cách khoa học, hợp lý còn bao gồm cả công việc
như tổ chức cho giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học giáo
dục Hay nói cách khác quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường
Mầm non thực chất là quản lý quá trình lao động của người giáo viên.
Quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở các trường Mầm non
nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, một vấn đề
được nhiều người quan tâm đã có một số nghiên cứu về vấn đề này như là các
đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành, các
luận văn cụ thể là:
7
- Những biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lợng chăm sóc giáo dục trẻ
của trờng Mầm non ca tỏc gi Phạm Thị Châu.
- Mt s biu hin nng lc t chc ca ngi Hiu trng trng
mm non H Hi ca tỏc gi Nguyn Th Lc.
- Thc trng kớch thớch hng thỳ trong quỏ trỡnh t chc cho tr tỡm
hiu mụi trng xung quanh ca tỏc gi Nguyn Th Thu Hnh.
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cu trờn tp trung nghiờn cu cp tng quỏt
hoc gúc c th ca cụng tỏc qun lý ca Hiu trng trng Mm non.
ng thi, xut cỏc bin phỏp trong vic xõy dng, qun lý phỏt trin i
ng giỏo viờn phự hp vi iu kin hon cnh ca a phng, nh trng,
n v m tỏc gi ang cụng tỏc v nghiờn cu, tng bc cng c, o
to, bi dng i ng ny tr thnh lc lng ch yu, nhm nõng cao hiu
qu trong s nghip phỏt trin giỏo dc.
Tuy nhiờn, nhng nghiờn cu i sõu v cụng tỏc qun lý hot ng
Nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ sinh hoạt.
- Định nghĩa hợp lý nhất, theo quan điểm của chúng tôi: Quản lý là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một số chức năng nhằm làm cho tổ
chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức.
- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến đổi của môi trường.
9
- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt gắn với lao động tập
thể và kết quả của sự phân công lao động xã hội. Nhưng lao động quản lý lại
có thể phân chia thành một hệ thống các dạng lao động xác định mà theo đó
chủ thể quản lý có thể tác động vào đối tượng quản lý. Các dạng lao động xác
định này được gọi là các chức năng quản lý. Một số nghiên cứu cho thấy rằng
trong mọi quá trình quản lý, người cán bộ quản lý phải thực hiện các chức
năng quản lý kế tiếp một cách lôgic, bắt đầu từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá. Quá trình này được tiếp diễn một
cách liên hoàn và được gọi là chu trình quản lý. Có thể hiểu chu trình quản lý
gồm các chức năng cơ bản sau:
- Lập kế hoạch.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch.
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch.
- Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
Tuy các chức năng kế tiếp nhau nhưng chúng thực hiện đan xen nhau,
hỗ trợ bổ sung cho nhau. Trong chu trình quản lý, thông tin chiếm một vai trò
quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu trong quá trình hoạt động quản
lý. Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý và vai trò thông tin trong chu trình
quản lý thể hiện bằng sơ đồ:
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ các chức năng quản lý
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo
11
dục) nhằm làm cho hệ điều hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà
tiêu điểm là hội tụ của quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất ”.
Chủ thể quản lý giáo dục xét theo ngành dọc chuyên môn là:
- Các cấp quản lý từ Bộ Giáo dục và Đào tạo (là cơ quan thay mặt Nhà
nước quản lý), Sở Giáo dục và Đào tạo, đến Phòng Giáo dục và Đào tạo và
cuối cùng là Hiệu trưởng các Nhà trường - Chủ thể quản lý trực tiếp sự vận
hành trong hệ thống giáo dục.
- Đối tượng của quản lý giáo dục là đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân
viên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Chủ thể quản lý giáo dục xét theo phân cấp quản lý theo địa bàn và
lãnh thổ là:
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở
Giáo dục và Đào tạo (là cơ quan thay mặt UBND các cấp quản lý Nhà
Nước về GD&ĐT tại địa phương), đến phòng GD&ĐT và Hiệu trưởng
các Nhà trường.
- Đối tượng của quản lý giáo dục là đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân
viên trong hệ thống giáo dục của địa phương.
- Chủ thể quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường là Hiệu trưởng.
Đối tượng ở đây là cán bộ, giáo viên, nhân viên trong Nhà trường và mục
đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, phương tiện giáo dục, cơ sở
vật chất và quản lý kết quả giáo dục
Để tăng cường tính hiệu quả của quản lý giáo dục, hiện nay Nhà nước
đang đẩy mạnh phân cấp quản lý trong giáo dục và đào tạo. Luật giáo dục
năm 2005 thể hiện rõ các nội dung này, nhất là đẩy mạnh phân cấp quản lý
giáo dục phổ thông cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quản lý. Phân
trong một đơn vị cụ thể.
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Bản chất của việc quản lý nhà
trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái
này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục ”.
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối GD
của Đảng theo phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành
theo nguyên lý GD của Đảng để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với ngành GD,
đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh”.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường phổ thông là tập hợp
những tác động tối ưu (công tác tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can
thiệp) của chủ thể quản lý lên tập thể Cán bộ, Giáo viên và Học sinh nhằm tận
dụng nguồn lực dự trữ do nhà trường đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp
và vốn lao động tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà
trường mà tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục
tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới ”.
Từ những định nghĩa trên, chúng thấy có những dấu hiệu đặc trưng
chung, bản chất của QL trường học là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể QL nhằm làm cho trường học vận hành theo đường
lối và nguyên lý GD của Đảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu ĐT của ngành
GD giao phó cho nhà trường.
Mục tiêu của GD ở các nhà trường là giúp cho HS phát triển toàn diện
về đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
14
Vì vậy, QL nhà trường là phải QL toàn diện bao gồm: QL hành chánh,
QL nhân sự, tài chánh, CSVC, dạy học, giáo dục, kể cả các hoạt động ngoài
giờ lên lớp của học sinh.
1.2.2. Quản lý trường mầm non
trẻ mầm non
1.2.4.1. Biện pháp
“Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ
thể” [26;64]; hoặc “Biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực
hiện một chủ trương” [17;61]. Có thể hiểu: biện pháp là cách làm, cách thức
thực hiện, tiến hành, giải quyết một công việc, hoặc là phương pháp làm việc
để thực hiện một chủ trương nào đó.
1.2.4.2. Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non
Biện pháp quản lý là cách làm, cách thức thực hiện tiến hành, giải
quyết một công việc, hoặc là phương pháp làm việc thực hiện một chủ trương
nào đó để đạt tới mục tiêu quản lý.
Thông thường, các biện pháp quản lý giáo dục phải đảm bảo thực hiện
cho được các chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá
trình giáo dục. Vì thế, khi đưa ra bất kì biện pháp quản lý giáo dục nào cũng
cần phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả của nó đối với công tác kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá quá trình giáo dục.
1.3. Một số vấn đề về hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non
1.3.1. Mục tiêu của hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non
- Giáo dục mầm non thực hiện nuôi dưỡng chăm sóc - giáo dục trẻ từ 3
tháng đến 6 tuổi. Nội dung GDMN phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức
và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa
16
các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung
giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ,
chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống.
- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hoà giữa nuôi
dưỡng, chăm sóc - giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh,
nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết
kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý
anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái
tạo môi trường giáo dục gần gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi
với nhà trẻ.
- Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều
kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh
dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo
phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”. Chú trọng đổi mới tổ chức
môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám
phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ. Kết
hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý
đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp. Tổ chức
hợp lý các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp
với độ tuổi của nhóm /lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng
thú của trẻ và với điều kiện thực tế.
1.3.4. Đánh giá kết quả chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non
18
Đánh giá sự phát triển của trẻ là quá trình thu thập thông tin về trẻ một
các hệ thống và phân tích đối chiếu với mục tiêu của chương trình giáo dục
mầm non nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm
sóc, giáo dục trẻ.
1.4. Quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở các trường mầm non
ngoài công lập
Quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non nói chung và quản
lý hoạt động chăm sóc - giáo dục ở các trường MN ngoài công lập nói riêng
đều nằm trong hệ thống quản lý giáo dục. Quản lý hoạt động chăm sóc - giáo
dục giúp cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục mầm non là “Phát triển
giáo dục mầm non phù hợp với điều kiện từng nơi”.
1.4.1. Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của trường mầm non ngoài công lập
1.4.1.1. Vị trí của trường mầm non ngoài công lập
Giáo dục mầm non là bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân và là bậc
học đầu tiên có tầm quan trọng trong việc hình thành và phát triển mọi giá trị