4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài 6
2- Mục đích nghiên cứu 8
3 - Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
4 - Giả thuyết khoa học 9
5 - Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6- Những luận điểm bảo vệ 10
7 - Đóng góp của luận văn 10
8 - Phương pháp nghiên cứu 10
9 - Cấu trúc luận văn 11
Chương1: Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.1.1. Quản lý là gì? 12
1.1.2. Hệ thống chức năng quản lý. 12
1.1.3. Chất lượng - Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. 13
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của một tổ chức 13
1.1.5. Giáo dục mầm non - Cơ sở giáo dục mầm non - Các loại hình 15
1.1.6. Cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập 15
1.1.7. Sự khác biệt giữa trường mầm non công lập và ngoài công lập 16
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ
trong trường mầm non và trường mầm non ngoài công lập nói riêng 17
1.2.1.Yếu tố về kinh tế - xã hội 17
1.2.2. Các quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển GDMN 17
1.2.3. Yếu tố về quy mô trường, lớp 20
1.2.4. Yếu tố về điều kiện vật chất 21
2.3.3.3. Nguyên nhân 56
Chương 3: Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng chăm
sóc trẻ ở các trường mầm non ngoài công lập thành phố Hải Phòng
3.1. Các căn cứ xây dựng biện pháp: 59
3.1.1. Các quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển giáo dục mầm
non của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo 59
3.1.2.Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 60
3.1.3. Định hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng 61
3.1.4. Định hướng phát triển giáo dục mầm non thành phố Hải Phòng 63
3.1.5. Thực tiễn phát triển giáo dục mầm non ở Hải Phòng, đặc biệt thực trạng
các trường mầm non
ngoài công lập 65
3.2. Hệ thống các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc -
giáo dục trẻ ở các
trường mầm non ngoài công lập thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện
nay . 67
3.2.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức đúng về loại hình giáo dục mầm non
ngoài công lập đối với
các cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội 67 6
3.2.1.1. Nội dung - hình thức tuyên truyền 69
3.2.1.2. Thực hiện 70
3.2.2. Quy hoạch và phát triển trường, lớp mầm non ngoài công lập phù hợp,
đáp ứng với điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của từng địa bàn dân cư 72
3.2.2.1. Nội dung 72
3.2.2.2. Thực hiện 74
3.2.3. Định rõ trách nhiệm và thẩm quyền của các cấp quản lý đối với các trường
Nguyễn Thuý Hiền
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CQXN : Cơ quan xí nghiệp
CS-GD : Chăm sóc - giáo dục
CSVC : Cơ sở vật chất
GD & ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDMN : Giáo dục mầm non
GV : Giáo viên
HĐND : Hội đồng nhân dân
KT-XH : Kinh tế - xã hội
MG : Mẫu giáo
MN : Mầm non
NT : Nhà trẻ 3
NXB : Nhà xuất bản
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHHGD : Xã hội hoá giáo dục
6
MỞ ĐẦU
tế về giáo dục thế kỷ XXI đã khẳng định: "Chúng ta là những nhà giáo dục sẽ
cố gắng hết sức để mở rộng cơ hội học tập ở lứa tuổi mầm non trên toàn thế
giới, coi như một phần của sự thúc đẩy việc làm cho giáo dục cơ sở thông
thường thành hiện thực ”. Ý tưởng này cũng được khẳng định tại hội nghị toàn
thế giới về GD họp vào tháng 4/2000 tại Đaca (Senegal).
Ở Việt nam, từ xa xưa ông cha ta đã có câu:
"Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn thơ ngây"
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Trẻ em là hạnh phúc gia
đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc“ [7, tr. 31]. Trong các Nghị quyết của Đảng về GDMN đã xác định rõ
vị trí của GDMN trong chiến lược giáo dục đào tạo và từng bước đi thích hợp
với khả năng thực tế của đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII đã vạch ra mục tiêu đối với GDMN:
Đến năm 2020: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho
hầu hết trẻ em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”
[4, tr. 31] và “Chăm lo cho phát triển GDMN, mở rộng hệ thống Nhà trẻ và
trường lớp Mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nông thôn và những
vùng khó khăn“ [ 5, tr. 109 ].
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, trước sự chuyển đổi cơ chế
của nền kinh tế, GDMN trên cả nước nói chung, thành phố Hải Phòng nói riêng
đã gặp rất nhiều khó khăn thử thách. Được sự quan tâm của thành phố, sự chỉ
đạo của Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT, những năm gần đây GDMN thành phố Hải
Phòng đã thu được những thành tựu rất đáng khích lệ: phát triển với quy mô
rộng, đa dạng các loại hình công lập và ngoài công lập (bán công, dân lập, tư
thục) với tỷ lệ: 1/3 công lập; 2/3 ngoài công lập.
Thực tế ở Hải Phòng, các điều kiện cơ sở vật chất(CSVC), cơ cấu tổ chức,
đội ngũ giáo viên(GV) của loại hình trường MN ngoài công lập còn gặp nhiều
8
9
4- Giả thuyết khoa học
Hệ thống trường MN ngoài công lập là loại hình trường đòi hỏi công tác
xã hội hoá giáo dục(XHHGD) cao, chịu sự ảnh hưởng rất lớn của sự phát triển
KT-XH. Vì vậy, trong quá trình phát triển của loại hình trường này luôn có sự
biến động. Đây là đối tượng quản lý mới đối với công tác quản lý GDMN ở Hải
Phòng. Cần phải có một hệ thống các biện pháp quản lý phù hợp để giúp cho
loại hình trường này hoạt động có hiệu quả góp phần giải quyết tình trạng thiếu
trường, lớp không đáp ứng được nhu cầu ra lớp ngày càng cao và nhu cầu về
CS-GD trẻ ở địa phương khi nguồn ngân sách tài chính của Nhà nước còn khó
khăn thiếu thốn.
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Khái niệm trường MN ngoài công lập.
- Chất lượng và chất lượng trong cơ sở GD&ĐT nói chung, chất lượng
CS-GD trẻ trong các cơ sở GDMN nói riêng.
- Quản lý và các biện pháp quản lý.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các trường MN ngoài công lập ở
Hải Phòng từ năm 1998 đến nay, đặc biệt chất lượng CS-GD trẻ của loại hình
trường này trên nền thực trạng chung của GDMN Hải Phòng.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ ở các trường MN ngoài công lập thành phố Hải Phòng giai đoạn
2004 - 2010.
10
6- Những luận điểm bảo vệ
- Tăng cường các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng CS-GD trẻ ở các
trường MN ngoài công lập là góp phần to lớn cho sự nghiệp GDMN thành phố
Hải Phòng phát triển một cách cân đối và vững chắc trong giai đoạn hiện nay.
- Nâng cao chất lượng CS-GD trẻ ở các trường MN ngoài công lập là thực
các trường MN ngoài công lập thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. 12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Quản lý là gì ?
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý
Theo định nghĩa kinh điển nhất: "Quản lý là sự tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý( người quản lý ) đến khách thể quản lý( người
bị quản lý ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích của tổ chức ".
Ngày nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa rõ hơn: "Quản lý là sự
vận dụng các hoạt động(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và
kiểm tra để đạt đến mục tiêu của tổ chức". [ 13, tr.1 ]
Như vậy, dù trong bất kỳ một tổ chức nào, với mục đích gì, cơ cấu và
quy mô ra sao, đều cần phải có sự quản lý và người quản lý để tổ chức hoạt
động và đạt được mục đích của tổ chức.
1.1.2. Hệ thống chức năng quản lý
Có bốn chức năng quản lý chủ yếu cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức,
chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra.
+ Kế hoạch hoá: Là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu,
mục đích đó.
+ Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện
thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
+ Lãnh đạo: Sau khi kế họach đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành,
Sự phát triển của mỗi quốc gia đều thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử
nhất định. Mỗi tổ chức sinh ra, phát triển và tồn tại đều ảnh hưởng của môi
trường tác động. Người quản lý, dù ở cấp độ nào cũng cần phải quan tâm đến
mối quan hệ của tổ chức với các nhân tố bên ngoài và bên trong của tổ chức.
14
* Môi trường bên ngoài:
" Môi trường bên ngoài của tổ chức gồm tất cả những nhân tố bên ngoài tổ chức
và có khả năng ảnh hưởng tác động đến tổ chức, đó là những tác nhân: đối thủ
cạnh tranh, các nguồn lực, công nghệ, các điều kiện kinh tế ".
Những tác nhân này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động, sự thành công
hay thất bại của một tổ chức. Tuỳ theo khả năng tác động trực tiếp hay gián tiếp
của các nhân tố có thể chia môi trường bên ngoài thành 2 lớp:
+ Môi trường chung: gồm các nhân tố bên ngoài tác động gián tiếp đến tổ
chức và không loại trừ một thành phần hay một tổ chức đơn lẻ nào như: môi
trường quốc tế; thành tựu khoa học công nghệ; tình hình văn hoá - xã hội; tình
hình kinh tế; pháp lý - chính trị của quốc gia, trong khu vực và quốc tế.
+ Môi trường hoạt động (môi trường công việc): gồm một số những nhân
tố như: “đối thủ cạnh tranh "; “nguồn - người cung ứng"; “khách hàng - đối
tượng phục vụ", “thị trường lao động".
* Môi trường bên trong: gồm những yếu tố, thành phần trong nội bộ tổ
chức đó như: các thành viên của tổ chức; việc quản lý; văn hoá tập thể.
Trong 3 yếu tố trên, yếu tố "văn hoá tập thể " quy định hành vi của mỗi
thành viên trong tổ chức và xác định tổ chức sẽ thích nghi tốt đến mức độ nào
với môi trường bên ngoài .
Lịch sử loài người đã chứng minh rằng: thế giới không ngừng biến đổi và
ngày càng biến đổi một cách nhanh chóng như các thành tựu về khoa học và
công nghệ thông tin ngày nay. Như vậy, môi trường bên ngoài của tổ chức là
luôn luôn biến đổi.Trong công tác quản lý, người quản lý phải biết lựa chọn
những biện pháp, cách thức sao cho kịp thời ứng phó với sự thay đổi của môi
* Cơ sở GDMN bán công: Gồm các trường, lớp MN do Nhà nước đầu tư CSVC
ban đầu hoặc ở vùng nông thôn trước đây do hợp tác xã nông nghiệp đầu tư nay
do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý và hoạt động trên cơ
sở tự quản lý về tài chính, nhân lực, có thể được ngân sách địa phương hỗ trợ
cần thiết để đảm bảo chất lượng GD.
16
* Cơ sở GDMN dân lập: Gồm các trường, lớp MN do tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế được phép thành lập, đầu tư bằng vốn ngoài
ngân sách nhà nước .
* Cơ sở GDMN tư thục: Gồm các trường, lớp MN do cá nhân hoặc một nhóm
cá nhân được phép thành lập và đầu tư.
[ 2, tr.11 ]
1.1.7. Sự khác biệt giữa trường MN công lập và ngoài công lập
Cả 2 loại hình trường đều phải tuân theo các quy định chung trong Điều lệ
trường mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng cơ cấu tổ chức quản lý và
điều kiện hoạt động của 2 loại hình trường này rất khác nhau:
+ Trường mầm non công lập: Hoàn toàn do Nhà nước quản lý, tổ chức, điều
hành, đầu tư cơ sở vật chất, cấp kinh phí cho việc chi trả lương và chi thường
xuyên. Vì vậy mọi hoạt động của loại hình trường này ổn định hơn.
+ Trường mầm non ngoài công lập:
Gồm các loại hình trường: Bán công, Dân lập, Tư thục.
Loại hình tư thục: Do một số cá nhân hoặc một nhóm cá nhân có điều
kiện về nguồn vốn đầu tư CSVC thành lập trường MN tư thục, một số không có
điều kiện chỉ hình thành là lớp mẫu giáo(MG) tư thục và nhóm trẻ gia đình.
Trong các loại hình trường, lớp MN ngoài công lập chỉ có trường MN bán
công Nhà nước vẫn tổ chức, điều hành đầu tư một phần CSVC, cấp kinh phí chi
trả lương cho hiệu trưởng, hiệu phó, chi hỗ trợ đóng bảo hiểm XH, bảo hiểm y tế
và bù trả tiền lương cho đội ngũ GV. Còn lại các loại hình trường, lớp MN khác
phải tự lo hoàn toàn, cũng có thể có sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng không
(NT), mẫu giáo (MG) ở các hợp tác xã nông nghiệp, khối cơ quan xí nghiệp bị
thu hẹp lại, nhiều nơi bị tan rã không còn hoạt động, tình hình các cơ sở GDMN
gặp rất nhiều khó khăn: số trẻ ra lớp giảm; CSVC không được đầu tư, sửa chữa;
đội ngũ GV ngoài biên chế chiếm tỷ lệ cao (70 - 80 %), không có cơ chế về chế
độ chính sách cho đội ngũ này, đời sống của họ gặp rất nhiều khó khăn, một số
nơi GV bỏ nghề hàng loạt. Trước những thách thức, khó khăn như vậy, các quan
điểm về con người, nhận thức về vị trí của GDMN đã được các nhà nghiên cứu,
18
Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh đạo, các cấp quản lý khẳng định rất rõ ràng, cụ
thể .
Quan điểm: "Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển
KT-X H " đã được khẳng định trong chính sách của Đảng .
Đảng ta xác định: " Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển
mạnh GD&ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững “. [ 4, tr.19 ]
Đất nước ta tiến hành CNH-HĐH từ điểm xuất phát là một nước nông
nghiệp, thu nhập quốc dân thấp. Trong khi đó, thế giới đang chuyển biến mạnh
mẽ dưới tác động của các ngành công nghệ mới: công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ năng lượng và vi điện tử. Do vậy nguồn nhân lực Việt nam
đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới và bước đi thích hợp.
Giải pháp thứ 3 trong một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt
nam là: "Phát triển nguồn nhân lực là chiến lược quốc gia, là sự nghiệp của
toàn Đảng, toàn dân. Do vậy, cần phải có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất từ
Trung ương đến địa phương và các Bộ, Ngành để kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo
nhân lực, sử dụng nhân lực và sắp xếp việc làm hợp lý “. [ 23,
tr.3 ].
Việc chuẩn bị nguồn nhân lực phải được tiến hành ngay từ những năm
đầu của cuộc đời, vì vậy quá trình đầu tư cho sự phát triển con người trong độ
tuổi MN là cực kỳ quan trọng. Trong bài viết của Robert G. Myer đã nhấn
đẩy quyền của trẻ em; dự án nước sạch và vệ sinh môi trường.
+ Chiến dịch truyền thông quốc gia "Tuổi thơ diệu kỳ" dưới nhiều hình
thức, bằng nhiều phương tiện với mục đích để nâng cao nhận thức của người
dân về 3 năm đầu tiên, 3 năm quan trọng nhất cuộc đời của trẻ, cung cấp cho
người dân hiểu biết và nắm được những yếu tố quan trọng quyết định sự phát
triển toàn diện của trẻ thơ về thể chất cũng như tâm lý xã hội.
+ Dự án: "Phát triển trẻ thơ toàn diện”của tổ chức cứu trợ trẻ em Mỹ và
Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT.
20
Với quan điểm chỉ đạo rõ ràng cụ thể của Đảng và Nhà nước, với việc xác
định vai trò trách nhiệm một cách đúng đắn của các nhà lãnh đạo, các nhà quản
lý các cấp, các ngành cùng với nhận thức của mọi người dân trong cộng đồng xã
hội đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp, mở ra những điều kiện thuận lợi cho
GDMN phát triển.
1.2.3. Yếu tố về quy mô trường, lớp
Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng CS-GD trẻ, bao gồm: Số
trẻ huy động; số nhóm, lớp và sự sắp xếp, bố trí mạng lưới trường, lớp.
Nếu một trường MN được xây dựng theo quy mô tập trung tại một địa
điểm thuận tiện cho việc gửi trẻ, đáp ứng được yêu cầu của các bậc phụ huynh
, ở đó tỷ lệ trẻ huy động ra nhóm lớp cao, trường có điều kiện đảm bảo phân
chia lớp theo đúng độ tuổi. Mặt khác, trường sẽ có điều kiện huy động nguồn
kinh phí từ phụ huynh để đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ cho việc CS-GD
trẻ và kinh phí chi thường xuyên (lương giáo viên, hoạt động chuyên môn ).
Đây là những nhân tố rất cơ bản để đảm bảo nâng cao chất lượng CS-GD trẻ,
nhưng, thực tế hiện nay, những trường này thường xảy ra tình trạng quá tải, số
trẻ trên một lớp quá đông, điều này lại là yếu tố làm giảm chất lượng CS-GD trẻ.
Nếu một trường được xây dựng theo quy mô không tập trung, ở rải rác
nhiều điểm lẻ, địa điểm không thuận tiện cho trẻ tới trường , ở đó số trẻ ra lớp
ít, phần lớn các lớp phải ghép các độ tuổi, việc quản lý và hoạt động chuyên
Để đối tượng đào tạo (trẻ MN) được phát triển một cách toàn diện, là
nguồn nhân lực trong tương lai của đất nước, đáp ứng với nhu cầu phát triển của
xã hội. Ngoài những yếu tố trên, yếu tố về M , N, P tuy là vô hình nhưng chúng
là nền tảng của quá trình đào tạo. Điều này đã được Thứ trưởng Đặng Huỳnh
Mai nhấn mạnh "Đổi mới nội dung, phương pháp GDMN cho phù hợp với đổi
mới giáo dục phổ thông và phù hợp với xu thế phát triển của các nước trong khu
vực và thế giới ". [ 18, tr. 5 ]
22
Đến nay, GDMN đang tiến hành từng bước thực hiện đổi mới hình thức tổ
chức hoạt động CS-GD trẻ, đòi hỏi đội ngũ GV phải có trình độ, năng lực, phẩm
chất và đủ về số lượng. Có như vậy mới đủ khả năng để gánh vác sứ mệnh của
ngành bởi vì chính đội ngũ GV là lực lượng nòng cốt trực tiếp thực hiện nhiệm
vụ CS-GD trẻ. Hội nghị Quốc tế GD tại Giơnevơ đã nhấn mạnh: "Muốn có một
nền giáo dục tốt cần phải có những giáo viên tốt " và một nhận định khác:
"Thực tế GD nhiều thập kỷ qua đủ để chúng ta thấy rằng hàng loạt nguyên nhân
làm cho chất lượng GD (trong đó có GDMN) xuống cấp chính là do đội ngũ
giáo viên thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và chưa đồng bộ về cơ cấu”.
[ 16, tr. 9 ]
Như vậy giáo viên chính là yếu tố quyết định đến chất lượng CS-GD trẻ
trong trường MN. Đây là một vấn đề đặt ra cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản
lý các cấp, các trường Sư phạm có những giải pháp thiết thực để sao cho mỗi
trường MN có được đội ngũ ổn định, đáp ứng với yêu cầu phát triển quy mô
chất lượng GDMN .
Tóm lại: Muốn nâng cao chất lượng CS-GD trẻ trong các trường MN nói
chung, trường MN ngoài công lập nói riêng, các nhà quản lý GD-GDMN cần
phải bám sát vào các yếu tố cơ bản làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng CS - GD
trẻ, để tìm ra hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng với yêu cầu
phát triển của XH.
Tiên Lãng, An Lão, Kiến Thuỵ, An Dương, Thuỷ Nguyên), 2 huyện đảo (Bạch
Long Vĩ, Cát Bà) và thị xã Đồ Sơn.
24
Về dân cư: Hải Phòng là một trong những thành phố làm tốt công tác kế
hoạch hoá gia đình, tỉ lệ sinh hàng năm đều giảm rất đáng kể: từ 1,56% năm
1995, đến năm 2001 còn 1,48%, năm 2002 còn 1,38%, năm 2004 còn 1,3%.
Theo tổng điều tra dân số: dân số Hải Phòng năm 2004 là 1.783.000
người, dự báo đến năm 2010 là 1.960.000 người.
Trong đó: dân số thành thị chiếm 30,1%, dân số nông thôn chiếm 69,9%,
số nhân khẩu trong độ tuổi lao động khoảng 60%.
Dân cư Hải Phòng phân bố không đều, mật độ dân cư ở khu vực nội thành
cao gấp 16 - 17 lần so với khu vực ngoại thành, cụ thể: mật độ dân số trung bình
toàn thành phố: 1.105 người/km
2
Ở nội thành, nội thị: 12.570 người/km
2
; khu vực ngoại thành: 995 người/ km2;
vùng hải đảo: 78 người/km
2
Hải Phòng đã và đang thực hiện các mục tiêu CNH-HĐH, tạo động lực
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu dân số theo hướng tăng lao động sản xuất phi
nông nghiệp và theo đó là tăng nhanh dân số đô thị. Dự báo đến năm 2010, dân
số nông nghiệp chiếm 39,4%; dân số phi nông nghiệp chiếm 60,6% với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở thành phố Hải Phòng.
2.1.2.Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng
Với những lợi thế về địa lý và tài nguyên vùng ven biển để phát triển nền
kinh tế, Hải Phòng cùng với các thành phố lớn đã được Nhà nước xác định là
- Khu vực nhân dân
42
45
45
- Khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài
18
20
25
Nguồn:Dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển GD&ĐT Hải Phòng
giai đoạn 2001 - 2010
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo địa bàn lãnh thổ:
Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế như
trên sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình phân bố lại không gian lãnh thổ theo
hướng hình thành các cụm công nghiệp, các khu thương mại, du lịch, vui chơi
giải trí và theo đó là gia tăng nhanh quá trình đô thị hoá và cơ cấu dân số trên
địa bàn thành phố có sự thay đổi cơ bản theo hướng dân số phi nông nghiệp tăng
nhanh, dân số nông nghiệp giảm Xu thế này sẽ diễn ra nhanh trên địa bàn
huyện Thuỷ Nguyên, An Dương, Kiến Thuỵ.
Vấn đề này đã đặt ra cho các nhà lãnh đạo các cấp thành phố khi hoạch
định chiến lược phát triển GD&ĐT phải gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng
của ngành cho phù hợp trong tương lai.