Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non
có nhiệm vụ quan trọng là hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân
cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục mầm
non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp Một. Muốn
đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến nâng cao chất
lượng hoạt động giáo dục trẻ trong các nhà trường, bởi vì đó chính là nhân tố
quyết định trực tiếp đến việc hoàn thành mục tiêu của bậc học cũng như quyết
đinh sự tồn tại của các cơ sở mầm non.
Để giáo dục mầm non phát triển một cách bền vững, người hiệu trưởng
cần có tinh thần trách nhiệm cao, có năng lực quản lý và tổ chức các mặt hoạt
động phù hợp với điều kiện của cơ sở giáo dục do mình phụ trách. Người hiệu
trưởng có vai trò rất quan trọng trong việc chỉ đạo các hoạt động giáo dục
trong nhà trường theo hướng phát triển nhằm đạt được mục tiêu cũng như
nhiệm vụ của ngành học và xã hội giao phó.
Từ năm 2009 Bộ Giáo dục đào tạo đã có thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT
ngày 25 tháng 7 năm 2009 ban hành chương trình GDMN và tổ chức thực
hiện thí điểm ở một số tỉnh thành trong đó có tỉnh Nghệ An. Năm học 2009 –
2010 phòng Giáo dục đào tạo Thành phố Vinh đã chỉ đạo thực hiện chương
trình GDMN theo thông tư 17 ở diện đại trà 27/27 trường. Sau 3 năm thực
hiện chương trình, phòng giáo dục đã có đánh giá sơ bộ: Đa số trẻ đã được
học tập trong môi trường CSVC tương đối đầy đủ, có các đồ dùng trang thiết
bị theo hướng hiện đại, 100% trẻ được học bán trú 2 buổi/ ngày; được tiếp cận
đầy đủ các chuyên đề cũng như các phần mềm ứng dụng CNTT…nhằm phát
triển toàn diện trên mọi mặt. Tuy nhiên, chất lượng hoạt động giáo dục trong




3

- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục trẻ của các trường
mầm non trên địa bàn Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của một số biện pháp quản lý
hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn khảo sát: 6 trường mầm non công lập trên địa bàn Thành Phố
Vinh
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 11/2012 đến tháng 05/ 2013
- Thời gian áp dụng các giải pháp được đề xuất: từ 2013 đến 2015
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích- tổng hợp; Phân loại- hệ thống hoá
các vấn đề lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài:
- Phương pháp điều tra bằng an két
- Phương pháp quan sát, dự giờ các hoạt động giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: hồ sơ quản lý hoạt động
giáo dục
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
6.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu thu được.
7. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận về các hoạt động giáo dục và
quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Đã làm rõ thực trạng quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non

nhân cách của mỗi con người. Người ta ví “tầm hồn trẻ như một trang giấy
trắng”, chúng ta vẽ lên trang giấy trắng như thế nào thì kết qủa sẽ như thế đó.
Trên báo nhân dân số 5526 ngày 1/6/1969 có bài viết của Bác về thiếu niên,
nhi đồng có tựa đề: “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên
nhi đồng” Người đã khẳng định “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai
của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân”, thấm nhuần lời dạy của Bác chúng ta phải luôn quan tâm
đến chất lượng giáo dục trẻ ngay từ bậc học mầm non, bởi đó là cả một thế hệ
của tương lai đất nước.
Những năm gần đây phong trào xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc
gia ngày càng phát triển, do đó chất lượng CSGD trẻ ngày một tốt hơn.
GDMN tồn tại với đủ các quy mô trường, lớp, nhóm, với các loại hình công
lập, bán công, dân lập, tư thục. GDMN ngày càng đáp ứng được lòng tin và
yêu cầu của xã hội.
Trong những năm qua (từ 1995 trở lại đây) vấn đề quản lý bậc học
mầm non đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều công trình nghiên


6

cứu ở các cấp độ khác nhau đã được thực hiện: đề tài cấp Nhà nước và cấp
Bộ, một số luận văn tiến sỹ, thạc sỹ.
Đề tài cấp Bộ: Những biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ của trường mầm non (Phạm Thị Châu, trường Cao đẳng sư phạm
nhà trẻ - Mẫu giáo TW1 năm 1995) đề tài đã đề cập một số biện pháp chỉ đạo
chuyên môn của Ban giám hiệu và các cấp quản lý nhằm góp phần nâng cao
chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ. Tuy vậy đề tài chưa chú ý tập trung các
biện pháp có tính toàn diện mà Hiệu trưởng trường mầm non phải vận dụng
để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
Nguyễn Thị Hoài An: "Biện pháp quản lý cơ sở mầm non Hà Nội nhằm

- Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo
những yêu cầu nhất định”.
- Henri Fayol (người Pháp), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ
điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.
- Theo Taylor F.W (người Mỹ), “Quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công
việc một cách tốt và rẻ nhất”.
Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo nghĩa rộng thì
quản lý là hoạt động có mục đích của con người, nếu xét quản lý với tư cách
là một hành động, các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc
Bảo định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ
thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. [11]
Vậy quản lý là hệ thống các tác động có định hướng của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý trong mỗi tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động
và đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý là sự tác động, điều khiển, chỉ huy,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt
được mục đích đề ra. Quản lý còn là một quá trình tác động có mục đích vào


9

hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống, thông qua các chức năng kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra để thực hiện hoạt động quản lý.
1.2.1.2. Chức năng quản lý
Xét dưới góc độ hoạt động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản:
- Chức năng lập kế hoạch:
Dự kiến các hoạt động của một quá trình, một giai đoạn hoạt động hợp
lý và các điều kiện, những tình huống dự báo sẽ xảy ra và biện pháp giải
quyết các tình huống đó.
- Chức năng tổ chức:

TỔ CHỨC

CHỈ ĐẠO

1.2.2. Hoạt động giáo dục
1.2.2.1. Hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non
Ở trường mầm non có hai loại hoạt động cơ bản: Hoạt động chăm sóc
và hoạt động giáo dục. Hai hoạt động này được diến ra song song, hỗ trợ lẫn
nhau. Nó được trải đều vào hoạt động hàng ngày của trẻ.
a) Hoạt động chăm sóc bao gồm các hoạt động như ăn, ngủ, vệ sinh.
Đây là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lí của trẻ, đồng thời tập cho trẻ
một số nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt hằng ngày và tạo cho trẻ trạng
thái sảng khoái, vui vẻ.
- Trong giờ ăn: Phải đảm bảo đủ suất ăn và chất lượng ăn theo khẩu
phần cho trẻ. Trước khi ăn phải vệ sinh mặt mũi tay chân, quần áo gọn gàng
sạch sẽ. Trong và sau giờ ăn giáo dục trẻ các thói quen, hành vi văn minh
trong ăn uống.
- Trong hoạt động vệ sinh: Vệ sinh thân thể cần được tổ chức hợp lý.
Những trẻ nhỏ cần được sự giúp đỡ của cô, cần rèn cho trẻ các thói quen vệ
sinh phù hợp với từng độ tuổi, giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các vật dụng, đồ
dùng trước giơ vệ sinh một cách đầy đủ, đúng yêu cầu.
- Hoạt động ngủ: Phòng ngủ phải sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm về
mùa đông. Trước khi ngủ tránh cho trẻ hoạt động mạnh, hoặc quá sợ hãi, có
thể hát ru cho trẻ ngủ. Khi trẻ ngủ phải luôn theo dõi giấc ngủ của trẻ.


11

b) Hoạt động giáo dục bao gồm: Hoạt động học (Hoạt động chơi tập có
chủ đích, hoạt động chung), hoạt động chơi (hoạt động vui chơi, hoạt động

đánh giá chất lượng học tập bằng mức độ mà học sinh nắm vững các kiến
thức kỹ năng, phương pháp và thái độ học tập của cá nhân. Học sinh có thể
đánh giá chất lượng học tập bằng việc nắm vững kiến thức và vận dụng vào
thực hành các bài tập, bài kiểm tra, bài thi... Cha mẹ học sinh đánh giá chất
lượng bằng điểm số kiểm tra - thi, xếp loại. Người sử dụng sản phẩm đào tạo
thì đánh giá chất lượng bằng khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả
năng thích ứng với môi trường...
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội), chất
lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá
nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài. Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều
góc độ khác nhau. Dưới góc độ quản lý thì chất lượng giáo dục có được khi
người học nắm được các kiến thức, kỹ năng, phương pháp, chuẩn mực, thái
độ sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp,
vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động...Còn dưới góc độ giáo dục học
thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong phạm vi đánh giá sự phát triển
của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hội khi họ tham gia vào
các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị - xã hội, văn hóa - thể thao.
Như vậy, chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục.
Đối với giáo dục mầm non, chất lượng giáo dục cũng là sự phù hợp với
mục tiêu giáo dục mầm non, được cụ thể hóa ở mục tiêu của Chương trình
GDMN (được đo bằng kết quả mong đợi của trẻ theo từng độ tuổi) và bộ
chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi. Muốn đạt được mục tiêu đó thì cần chú ý tới
chất lượng của tất cả các hoạt động chăm sóc giáo dục trong ngày của trẻ bao
gồm (Đón trẻ: thể dục sáng; tiết học; Chơi, hoạt động ở các góc; hoạt ngoài
trời, hoạt động ăn, ngủ; hoạt động chiều); sao cho đảm bảo thực hiện được
mục tiêu chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non, đảm bảo phù hợp với sự tăng
trưởng và phát triển của độ tuổi, sự cân đối hài hoà giữa nuôi và dạy (chăm
sóc – giáo dục), đảm bảo sự điều hoà giữa hoạt động và nghỉ ngơi, trình tự




14

- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý yếu tố đầu vào (đội ngũ giáo viên,
CSVC, thiết bị dạy học, số lượng trẻ), quản lý quá trình giáo dục trẻ, quản lý
kết quả hoạt động giáo dục trẻ.
- Hoặc: Quản lý hoạt động giáo dục trẻ của GV mầm non; Quản lý trẻ
và kết quả hoạt động giáo dục trẻ mầm non; Quản lý các điều kiện cần để đảm
bảo chất lượng hoạt động giáo dục trẻ.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cách tiếp cận thứ 3 để xem xét
nội dung quản lý chất lượng hoạt động giáo dục trẻ.
1.2.2.4. Biện pháp quản lý
Biện pháp là cách thức, là con đường, là phương tiện mang tính điều
kiện, do con người sáng tạo ra, nó có thể được sử dụng để tiến hành một hoạt
động hướng đích nào đó nhằm đem lại hiệu quả cho người sử dụng.
Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp tiến hành của chủ thể
quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý.
Các biện pháp quản lý phải có mục tiêu xác định rõ ràng, cụ thể, có cơ sở
khoa học và tính thực tiễn, biện pháp có tính khả thi và đạt được mục tiêu đề
ra
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của Hiệu trưởng là những cách
thức cụ thể mà người Hiệu trưởng tiến hành để tác động đến hoạt động giáo
dục trẻ của đội ngũ giáo viên nhằm đạt được mục tiêu quản lý chuyên môn
của nhà trường đề ra. Người hiệu trưởng phải có các biện pháp quản lý mang
tính đồng bộ thì mới đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà
trường.
1.3. Một số vấn đề về hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non
1.3.1. Mục tiêu, chương trình giáo dục mầm non
1.3.1.1. Mục tiêu giáo dục mầm non
(Điều 21 – 22 Luật Giáo dục, sửa đổi 2009) đã chỉ rõ GDMN là bộ

+ Biết được một số việc được phép làm và không được phép làm.
+ Biết thể hiện cảm xúc trước cái đẹp. Thích múa, hát, đọc thơ, nghe kể


16

chuyện, vẽ, nặn, lắp ghép, xếp hình…
+ Thích tự làm một số công việc đơn giản.
b) Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi mẫu giáo
b.1. Phát triển thể chất
+ Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm trong
kênh A.
+ Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế.
+ Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng,
biết định hướng trong không gian.
+ Thực hiện được một số vận động của đôi tay một cách khéo léo.
+ Có một số thói quen, kỷ năng tốt về giữ gìn sức khỏe, vệ sinh cá nhân, vệ
sinh môi trường và biết cách đảm bảo sự an toàn.
b.2. Phát triển nhận thức
+ Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi những sự vật hiện tượng xung
quanh.
+ Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý vá ghi nhớ có
chủ định. Nhận ra một số mối liên hệ đơn giản của các sự vật, hiện tượng
xung quanh.
+ Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường tự nhiên và xã hội.
b.3. Phát triển ngôn ngữ
+ Nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp.
+ Có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng để thể hiện ý muốn, cảm xúc,
tình cảm của mình và của người khác.
+ Có một số biểu tượng về việc đọc và việc viết để vào học lớp 1.

tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) dành cho các vùng
còn lại. Chương trình GDMN mới được trình bày gồm 3 phần:
Phần 1: Những vấn đề chung bao gồm các nội dung:
- Mục tiêu của chương trình giáo dục
- Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình


18

- Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non và đánh giá sự
phát triển của trẻ.
- Cấu trúc chương trình
- Quy định về hướng dẫn thực hiện chương trình
Phần 2: Chương trình giáo dục nhà trẻ
Phần 3: Chương trình giáo dục mẫu giáo
1.3.2. Nội dung các hoạt động giáo dục trẻ mầm non
1.3.2.1. Nội dung các hoạt động giáo dục trẻ ở độ tuổi nhà trẻ
Hoạt động giáo dục trẻ trong nhà trường là những hoạt động mà giáo
viên tổ chức để giáo dục trẻ. Có thể tổng hợp các hoạt động giáo dục đối với
độ tuổi nhà trẻ như sau:
a) Hoạt động giao lưu cảm xúc
Hoạt động này đáp ứng nhu cầu gắn bó của trẻ với người thân, tạo cảm
xúc hớn hở, luyện tập và phát triển các giác quan, hình thành mối quan hệ ban
đầu với những người gần gũi. Đây là hoạt động chủ đạo của trẻ dưới 12 tháng
tuổi.
b) Hoạt động với đồ vật
Hoạt động này đáp ứng nhu cầu của trẻ về tìm hiểu thế giới đồ vật xung
quanh, nhận biết công dụng và cách sử dụng một số đồ dùng, đồ chơi, phát
triển lời nói, phát triển các giác quan... Đây là hoạt động chủ đạo của trẻ từ 12
đến 36 tháng tuổi.

triển có chủ định, kế hoạch dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Hoạt
động chung có mục đích học ở mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình thức
học mà chơi.
c) Hoạt động lao động
Hoạt động lao động đối với lứa tuổi mẫu giáo không nhằm tạo ra sản
phẩm vật chất mà được sử dụng như một phương tiện giáo dục. Hoạt động lao


20

động đối với trẻ mẫu giáo gồm: lao động tự phục vụ, lao động trực nhật, lao
động tập thể.
d) Hoạt động ngày hội ngày lễ: Bao gồm các hoạt động tổ chức cho trẻ
tham gia, chào mừng nhân các ngày hội, ngày lễ: Ngày hội đến trường của bé,
Tết Trung thu, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, ngày Quân đội nhân dân Việt
Nam 22/12, ngày tết cổ truyền của dân tộc, ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, ngày
tổng kết năm học và Quốc tế thiếu nhi 1/6...
1.3.3. Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
1.3.3.1. Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục
a) Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục trẻ nhà trẻ
a.1) Nhóm phương pháp tác động bằng tình cảm: Dùng cử chỉ vỗ về,
vuốt ve gần gũi cùng với những điệu bộ, nét mặt, lời nói âu yếm để tạo cho trẻ
những cảm xúc an toàn, tin cậy, thoả mãn nhu cầu giao tiếp, gắn bó, tiếp xúc
với người thân và môi trường xung quanh.
a.2) Nhóm phương pháp trực quan - minh họa
Dùng phương tiện trực quan (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh), hành
động mẫu (lời nói và cử chỉ) cho trẻ quan sát, rèn luyện sự nhạy cảm của các
giác quan, thoả mãn nhu cầu tiếp nhận các thông tin từ thế giới bên ngoài.
Phương tiện trực quan và hành động mẫu cần sử dụng đúng lúc và kết hợp với
lời nói với các minh hoạ phù hợp.

nhìn, sờ …), sử dụng lời nói và tích cực hoạt động để phát triển; tăng cường giao
tiếp, hướng dẫn cá nhân bằng lời nói, cử chỉ và hành động; chú trọng sử dụng
phương pháp tác động bằng tình cảm và thực hành. Giáo viên luôn là tấm gương
cho trẻ noi theo.
b) Các nhóm phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo
b.1) Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm
- Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi: Trẻ sử dụng và
phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với
các đồ vật, đồ chơi (cầm, nắm, sờ, đóng mở, xếp chồng, xếp cạnh nhau, xâu
vào nhau,...) để phát triển giác quan và rèn luyện thao tác tư duy.


22

- Phương pháp dùng trò chơi: sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố
chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải
quyết nhiệm vụ nhận thức, nhiệm vụ giáo dục đặt ra.
- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể
nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết
vấn đề đặt ra.
- Phương pháp luyện tập: Trẻ thực hành lặp đi lặp lại các động tác,
lời nói, cử chỉ, điệu bộ theo yêu cầu của giáo viên nhằm củng cố kiến thức
và kỹ năng đã được thu nhận.
b.2) Nhóm phương pháp trực quan - minh họa (quan sát, làm mẫu,
minh hoạ)
Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng,
phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh); hành động mẫu; hình ảnh tự nhiên,
mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn (phim vô tuyến, đài, máy ghi âm,
điện thoại, vi tính) thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm
tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ.

1/6), Ngày ra trường...).
b) Theo vị trí không gian, có các hình thức:
- Tổ chức hoạt động trong phòng lớp.
- Tổ chức hoạt động ngoài trời.
c) Theo số lượng trẻ, có các hình thức:
- Tổ chức hoạt động cá nhân.
- Tổ chức hoạt động theo nhóm.
- Tổ chức hoạt động cả lớp.
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non
1.4.1. Quản lý hoạt động giáo dục trẻ của GVMN
1.4.1.1. Quản lý việc xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ của GVMN
Kế hoạch là một chức năng quan trọng của công tác quản lý trường
mầm non. Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết


24

định chất lượng hiệu quả của quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Trên cơ sở
phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường hiệu
trưởng hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và kế
hoạch của nhóm lớp, giúp họ biết xác định mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn, đề
ra các biện pháp rõ ràng, hợp lý và các điều kiện để đạt được mục tiêu đề ra.
Hiệu trưởng quản lý việc lập kế hoạch hoạt động giáo dục trẻ của giáo
viên cần tập trung vào vào một số công việc như sau:
+ Đầu năm học Hiệu trưởng cần có chỉ đạo về thời gian thực hiện
chương trình, dự kiến nội dung, hoạt động giáo dục các lĩnh vực phát triển,
các chủ đề thực hiện trong năm theo từng độ tuổi...Tổ chuyên môn sẽ xây
dựng kế hoạch giáo dục trẻ theo khối lớp, từ đó mỗi nhóm lớp phải xây dựng
kế hoạch giáo dục cho trẻ của lớp mình dựa vào kế hoạch chung. Ban giám
hiệu và tổ chuyên môn sẽ duyệt bản kế hoạch đó.

nghiêm chỉnh, không được thay đổi thêm, bớt làm sai lệch Chương trình giáo
dục trẻ. Trong quá trình chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch giáo dục, Hiệu
trưởng phải là người nắm vững nhất Chương trình chăm sóc giáo dục, nội
dung từng công việc, người thực hiện và thời gian thực hiện.
Quản lý việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục của giáo viên:
Thực hiện các hoạt động giáo dục ở trường mầm non giữ vai trò quyết định
chất lượng giáo dục mầm non.Vì thế Hiệu trưởng cần tìm mọi biện pháp tác
động trực tiếp đến chất lượng thực hiện hoạt động giáo dục của giáo viên, xây
dựng các tiêu chuẩn để quản lý các hoạt động giáo dục dựa trên những quy
định của ngành và hoàn cảnh riêng của nhà trường.
- Hiệu trưởng sử dụng tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động giáo dục để
kiểm tra, điều chỉnh và từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.
- Hiệu trưởng cần tổ chức dự giờ thăm lớp thường xuyên.Việc giáo
viên thường xuyên dự giờ lẫn nhau sẽ cung cấp cho Hiệu trưởng những thông
tin về thực hiện hoạt động giáo dục, làm cho những đánh giá có độ tin cậy
cao.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status