Phßng GI¸O DôC Vµ §µO T¹O huyÖn kim ®éng
Trung t©m gi¸o dôc thêng xuyªn
&
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
®Ò tµi
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH BẬC THPT Ở
TRUNG TÂM GDTX HUYỆN KIM ĐỘNG
”
Lĩnh vực : 14
Người thực hiện: DƯƠNG THỊ MỸ HẠNH
Chức vụ : PGĐ Trung Tâm GDTX Kim Động
Tài liệu điính kèm: Đĩa CD
N¨m häc 2013 - 2014
1
MỤC LỤC
Đề mục Nội dung Trang
Phần A Phần mở đầu 2
Phần I Lý do chọn đề tài 2
Phần II Phạm vi đề tài 4
Phần III Phương pháp nghiên cứu 4
Phần IV Đối tượng nghiên cứu 4
Phần V Mục đích nghiên cứu 4
Phần B Nội dung 5
Phần I Một số khái niệm 5
Phần II Các hình thức tổ chức giáo dục 5
Phần III
Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
tại Trung tâm GDTX huyện Kim Động
8
công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với chủ nghĩa xã hội và tư
tưởng Hồ Chí Minh, có khả năng hội nhập. Quan điểm về phát triển con người
Việt Nam nói trên đã thể hiện rõ ở mục tiêu giáo dục là “Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
3
Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc và của nhân loại đang là nguồn sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn của sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, cũng đang còn không ít những vấn đề thuộc về
lĩnh vực đạo đức mà cộng đồng, xã hội vẫn phải quan tâm. Đó là vấn đề giáo dục
đạo đức cho thế hệ trẻ có được lối sống lành mạnh, trung thực, nhân ái, vị tha,
thấm đượm tình người sâu sắc; loại bỏ lối sống thực dụng, ích kỉ, chạy theo đồng
tiền bất chính, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác. Đứng trước những
biểu hiện suy thoái đạo đức, sự phát triển nhân cách không lành mạnh của một số
người trong xã hội ta, đòi hỏi “phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính
trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, lành mạnh hóa đời
sống tinh thần xã hội. Việc giải quyết các đòi hỏi đó là một trong các nhiệm vụ
quan trọng của công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay.
Con người ở thời đại nào, ở xã hội nào cũng là chủ thể sáng tạo ra lịch sử,
con người là động lực của mọi sự phát triển xã hội. Con người càng có nhân cách
cao đẹp thì sự tác động của con người đến xã hội đó càng to lớn. Do đó không thể
xem nhẹ vai trò của giáo dục trong sự phát triển của xã hội. Trong các mặt Đức,
Trí, Thể, Mỹ của giáo dục thì giáo dục đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng, nó
“được xem là nền tảng, gốc rễ để tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các
mặt giáo dục khác”. Như Bác Hồ đó nói: “Có tài mà không có đức là người vô
dụng”.
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, chúng ta đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn, bên cạnh đó bộc lộ ra những mặt yếu kém cả về
giáo dục đạo đức.
3. Những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.
IV- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Học sinh bậc THPT trong diện xếp loại hạnh kiểm của Trung tâm GDTX
huyện Kim Động.
V- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục cho
học sinh ở Trung tâm GDTX huyện Kim Động, đưa ra các biện pháp quản lý hoạt
5
động giáo dục đạo đức cho học sinh bậc THPT độ tuổi xếp loại hạnh kiểm nhằm
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
B. NỘI DUNG
I- MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy
tắc, chuẩn mực xã hội nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người
trong mọi lĩnh vực xã hội. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền
thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ
một ý thức, tình cảm và một niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất của
giáo dục đạo đức là tạo lập những thói quen hành vi đạo đức.
Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội
với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu,
thói quen của người được giáo dục.
Như vậy giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn bộ
hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành và phát triển nhân cách.
Giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn
đề trong chiến lược giáo dục và đào tạo vì sự phát triển con người và phát triển xã
hội.
II- CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC GIÁO DỤC:
được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, làm nảy nở những tình cảm
mới : Niềm vui và kết quả lao động, tự hào những cái mình đã làm được, hài lòng
với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì. Các công việc lao động ở nhà
trường mà các em có khả năng tham gia như xây dựng Trung tâm xanh, sạch đẹp,
tình nguyện lao động làm sạch trong và ngoài trường học, chăm sóc di tích lịch sử
đền thờ Triệu Quang Phục, giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Qua
đó các em sẽ thu được những kinh nghiệm đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Thói quen
phục tùng những lợi ích của tập thể. Đặc biệt lao động gắn liền với học tập là một
trong những nguyên lý giáo dục của chúng ta hiện nay.
7
3. Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đoàn và các hoạt động văn
nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá về các hoạt động xã hội, bảo vệ môi
trường, góp phần chống các tệ nạn xã hội, các chủ đề uống nước nhớ nguồn, tìm
hiểu truyền thống dân tộc, thi rung chuông vàng
Thông qua các hoạt động nói trên, giáo dục được tinh thần tập thể, tinh thần
trách nhiệm, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên nếp sống đoàn kết thân ái,
đồng thời rèn luyện năng lực hoạt động xã hội của mỗi cá nhân cũng qua đó uốn
nắn những lệch lạc giúp cho các em nắm được những chuẩn mực mà xã hội yêu
cầu ở các em.
4. Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện
mình.
Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh.
Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên
trong. Đó chính là giáo dục và tự giáo dục. Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết
định đến việc rèn luyện đạo đức.
5. Giáo dục đạo đức thông qua sự gương mẫu của người thầy.
Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học viên noi theo. Nhân cách của
người thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đào tạo cho học sinh.
Lứa tuổi này, các em có yêu cầu thầy cô giáo phải có phẩm chất cao. Các em hiểu
trong lớp chưa chú ý nghe giảng còn nói chuyện riêng, không có ý thức tìm hiểu
kiến thức, xây dựng bài, chưa nghe lời thầy cô khuyên bảo. Hoặc chưa có ý thức
bảo vệ của công, vệ sinh môi trường. Sống chưa lành mạnh, không có tinh thần
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, không đoàn kết, kỹ năng ứng xử khi giao tiếp còn rất
yếu, Những hành vi này cũng được nhắc nhở, thường xuyên từ các buổi sinh
hoạt cuối tuần hoặc là giáo viên khi bắt gặp trực tiếp hay thông qua các hoạt động
ngoại khoá tuy nhiên chưa đi vào chiều sâu, thành hệ thống liên tục.
Việc giáo dục đạo đức ở Trung tâm thường chỉ mới chú trọng tới nề nếp kỷ
cương với nội quy, những bài học giáo huấn của Ban giám đốc và của giáo viên
chủ nhiệm, của Đoàn thanh niên xong chưa chú ý nhiều đến hành vi ứng xử thực
tế, kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn để hình thành nhân cách cho học sinh.
Bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ giáo viên chỉ lo truyền thụ kiến thức mà chưa
9
chú trọng việc quản lý nền nếp lớp học và giáo dục, uốn nắn những hành vi chưa
đúng của các em hoặc có làm nhưng không thường xuyên. Bên cạnh đó cá biệt có
những môn học, giờ học mối quan hệ thầy trò chưa được thân thiện gần gũi, thầy
còn hạn chế về khả năng xử lý tình huống sư phạm chưa tâm lý hiểu đối tượng học
trò nên chưa là tấm gương tốt cho học trò noi theo, do vậy thầy không có uy tín với
trò, nói trò không nghe theo,
Ở nhà, nhiều em cha mẹ bận lo công việc mưu sinh nên không có thời gian
gần gũi để giáo dục, dạy bảo con cái, một số gia đình bố , mẹ chưa có biện pháp
dạy con phù hợp còn nuông chiều không đúng mực vì vậy nhiều em không được
trang bị những kỹ năng tối thiểu cũng như cách ứng xử trong cuộc sống
Các hoạt động nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh phần lớn là do Đoàn TN
đứng ra chủ trì và Đoàn TN là hạt nhân trong công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh. Ban giám đốc chỉ đạo tổ chức Đoàn TN kiện toàn tổ chức, xây dựng được kế
hoạch hoạt động của mình, mà trọng tâm là duy trì nề nếp, phát động thi đua chào
mừng các ngày lễ lớn trong năm, theo dõi, thi đua, đánh giá, khen thưởng, kỉ luật.
Đặc biệt là các phong trào lớn: “Thanh niên tình nguyện”. “Học tập vì ngày mai
lập nghiệp’’ Từ đó đẩy mạnh phong trào thi đua 2 tốt, chuẩn bị cho ĐVTN lập
tham mưu cho lãnh đạo kiểm tra đánh giá công tác này được tốt.
Chưa có biện pháp tốt tổ chức cho học sinh rèn luyện đạo đức .
Chưa làm cho mọi thành viên trong Trung tâm có nhận thức tốt về ý nghĩa
và sự cần thiết của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
Việc xây dựng môi trường giáo dục còn hạn chế. Xây dựng môi trường giáo
dục tốt bao gồm việc xây dựng mối quan hệ giữa học sinh và thầy cô giáo, cán bộ
công nhân viên của Trung tâm.
Từ những kết quả trên đây có thể nói công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
trong những năm qua được tiến hành ở các biện pháp mang nặng tính lý thuyết, cụ
thể là: thông qua những ngày sinh hoạt chủ điểm, các ngày lễ lớn, thông qua các bộ
môn văn hóa. Còn các hoạt động khác mang tính thực tiễn thì hạn chế như sinh
hoạt tập thể, các phong trào văn thể, xây dựng môi trường giáo dục tốt, quang cảnh
sư phạm xanh, sạch,
11
Để khắc phục được tình trạng này không chỉ đòi hỏi có sự chuyển biến cơ bản
về nhận thức của đội ngũ những người làm công tác quản lý giáo dục mà còn có
những biện pháp phù hợp trong công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo của Trung tâm
IV- BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tế về công tác quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh ở diện xếp loại hạnh kiểm tại trung tâm tôi đã áp dụng
một số biện pháp sau:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên các tổ chức đoàn
thể đặc biệt là Đoàn thanh niên về sự cần thiết trong việc giáo dục đạo đức cho
học sinh.
Mục tiêu:
Qua hoạt động thực tiễn và kết quả điều tra cho thấy nhận thức của đội ngũ
cán bộ, giáo viên, hội phụ huynh học sinh và các lực lượng giáo dục khác về vấn
đề này là chưa cao. Do vậy cần phải nâng cao nhận thức giáo dục đạo đức cho các
lực lượng làm giáo dục, từ đó phát huy tinh thần cộng đồng trách nhiệm trong việc
lực lượng làm giáo dục về:
- Chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, quy định của Bộ GD-ĐT về
công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, công tác quản lý
- Ảnh hưởng nhân cách của người CBQL, GV, đối với học sinh.
- Trách nhiệm của từng GVCN, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, Ban giám
đốc trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
Tổ chức thực hiện:
- Tổ chức học tập, tuyên truyền đường lối chính sách về giáo dục cho cán bộ
giáo viên học sinh trong Trung tâm.
- Thường xuyên được tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán
bộ quản lý về chuyên đề về đạo đức, pháp luật, giáo dục đạo đức.
- Tổ chức hội thảo về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho giáo
viên, học sinh. Phân công rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận, gia đình
học sinh.
13
- Tổ chức tốt cuộc vận động “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” mỗi
thầy cô là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
- Tham mưu cho cấp uỷ Đảng làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục tới
cộng đồng.
Các điều kiện thực hiện:
Nâng cao nhận thức ý thức trách nhiệm cho các cá nhân, các tổ chức, đối với
việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Các hoạt động phải huy
động nhiều bộ phận, tổ chức tham gia và thể hiện được sự đóng góp có hiệu quả
của mỗi thành viên.
Biện pháp 2: Tích cực đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo
dục đạo đức cho học sinh.
Mục tiêu:
Trước hết là làm cho mọi thành viên trong tổ chức giáo dục hiểu được tích cực
đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức là gì, từ đó từng bước chỉ đạo tốt quá trình đổi
mới phương pháp giáo dục đạo đức nhằm nâng cao kết quả giáo dục đạo đức cho học
sáng tạo của học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Tăng cường rèn luyện kỹ năng, hành vi, thái độ và cách ứng xử của học
sinh.
- Đa dạng hoá các loại hình tổ chức dạy học và các hoạt động ngoài giờ lên
lớp.
- Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá giáo dục toàn diện học viên đáp ứng theo
chuẩn kiến thức kỹ năng.
- Tạo thói quen cho người học có khả năng tự học và tham gia các hoạt động
học tập một cách tự giác, tích cực .
- Để thực hiện phương pháp giáo dục đạo đức theo tinh thần đổi mới trước
hết mỗi giáo viên hãy bắt đầu từ sự nỗ lự của chính mình để làm tấm gương sáng
cho các em noi theo. Phải chọn phương pháp phù hợp với đối tượng, đảm bảo tính
thống nhất giữa giáo dục khoa học với giáo dục đạo đức thông qua các môn học.
Chính vì vậy phải tận dụng tối đa việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn
khoa học để giáo dục đạo đức cho học viên.
15
- Chỉ đạo thực hiện tốt phong trào thi đua “Hai tốt”, các cuộc vận động như
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tổ chức thao giảng, thi
giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp.
Chỉ đạo đổi mới các hình thức nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp:
Như chúng ta đã biết, giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những hoạt
động cơ bản được tiến hành một cách có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch góp
phần giáo dục toàn diện, phát triển nhân cách học sinh, đáp ứng yêu cầu phong phú
và đa dạng của đời sống xã hội.
Qua thực trạng, chúng ta thấy hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có: Nội
dung ít, hình thức đơn điệu, chưa thu hút được đông đảo học sinh tham gia. Chính
vì vậy để giáo dục ngoài giờ lên lớp đạt hiệu quả thì việc chỉ đạo đổi mới hình thức
giáo dục ngoài giờ lên lớp là một giải pháp tốt để có thể nâng cao chất lượng giáo
dục cho học sinh.
Để đổi mới các hình thức, nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp có hiệu quả
- Xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp
- Tiến hành kiểm tra đánh giá thường xuyên, nắm bắt các thông tin một cách
kịp thời, lắng nghe ý kiến đóng góp của tập thể.
- Tổng kết đánh giá thi đua khen thưởng. Đổi mới hình thức đánh giá thi
đua, khen thưởng qua đó rút ra bài học kinh nghiệm về cái được, hạn chế tìm
nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục.
Các điều kiện thực hiện:
- Huy động lực lượng từ tập thể cán bộ, giáo viên, tổ chức đoàn thanh niên,
hội cha mẹ, học sinh đảm bảo phát huy trí lực tập thể, sắp xếp thành viên tham gia
đúng với năng lực và chức năng của mình.
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, bộ phận, phân phối các nguồn
lực (tài lực, vật lực, nhân lực).
- Đổi mới hình thức, nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp một cách có hiệu
quả nhằm giáo dục đạo đức và rèn luyện năng lực hoạt động và hiểu biết về các
vấn đề xã hội cho học sinh. Kết quả cần đạt được cuối cùng là nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện phát triển nhân cách cho các em.
17
Biện pháp 3: Tăng cường vai trò của Đoàn thanh niên trong hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh.
Mục tiêu:
Nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên trong việc giáo dục
đạo đức cho học sinh nhằm giúp học sinh phát triển và hình thành nhân cách theo
chiều hướng tốt, tự tin trong giáo tiếp, ứng xử. có lối sống trong sáng, lành mạnh.
Thông qua các hoạt động của đoàn thanh niên giúp học sinh rèn kuyện kĩ năng
sống.
Nội dung và tổ chức thực hiện:
Xây dựng kế hoạch hoạt động của Đoàn một cách cụ thể, thiết thực, gắn các
hoạt động với việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các nội dung cụ thể:
- Tổ chức các hoạt động giáo dục trong Trung tâm nhằm giáo dục tri thức về
các giá trị đạo đức truyền thống. Nó là khởi đầu xây dựng cho học sinh những thói
và việc phát triển nhân cách cho học sinh.
Nội dung và tổ chức thực hiện:
Xây dựng kế hoạch, chỉ đạo phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và
ngoài Trung tâm để quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh gồm có:
- Tăng cường sự phối hợp đồng bộ các thành viên trong Trung tâm, tạo sự
thống nhất từ mục tiêu đến nội dung phương pháp thực hiện, phân công cụ thể
nhiệm vụ của từng cá nhân, tập thể.
- Tăng cường phối hợp với gia đình các tổ chức xã hội nhằm phát huy tiềm
năng của giáo dục và xã hội trong việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Gia đình là môi trường sống, môi trường giáo dục các em suốt đời bằng tình
thương yêu của những người ruột thịt bằng sự gương mẫu của cha mẹ. Vì vậy gia
đình chính là môi trường giáo dục thuận lợi đối với các em. Chính vì vậy sự phối
hợp giữa gia đình và Trung tâm là vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục đạo
đức; gia đình có trách nhiệm cộng tác với Trung tâm (thông qua giáo viên chủ
nhiệm) để giáo dục con em họ; gia đình cần tạo điều kiện tốt về vật chất, tinh thần và
thời gian cho các em học tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động xã hội
khác.
19
- Đối với Trung tâm để phối hợp tốt với phụ huynh học sinh thì triệu tập
họp phụ huynh theo định kỳ (ít nhất 2 lần /năm) với nội dung: đánh giá kết quả
học tập, rèn luyện của học sinh, nêu rõ sự tiến bộ hoặc khó khăn của từng em, xác
định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp thống nhất giáo dục giữa Trung tâm với gia
đình và bàn bạc các biện pháp giáo dục. Thường xuyên trao đổi thông tin kịp thời
về tình hình học tập, tu rèn của học sinh đến gia đình. Với học sinh cá biệt giáo
viên chủ nhiệm thường phải gặp trực tiếp để trao đổi với phụ huynh các em.
- Trung tâm tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền để có sự quan tâm
giúp đỡ, chỉ đạo đường lối tạo hành lang pháp lý, tạo cơ sở vật chất cho Trung tâm
thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục. Từ đó các cấp uỷ Đảng, chính quyền đề ra những
mục tiêu phát triển giáo dục của địa phương mang tầm chiến lược và những giải
pháp để thực hiện những mục tiêu đó, bởi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”,
73.5% 24.3% 2.2% 0
Năm 2012 – 2013
76.1% 21.8% 2.1% 0
HKI 2013 - 2014
79.2% 19.0% 1.8% 0
Việc áp dụng SKKN này được tôi ứng dụng trong suốt quá trình dạy học và
làm công tác quản lý. Điều đầu tiên tôi cảm nhận thấy là các em đó có ý thức và
trách nhiệm hơn đối với việc học của mình, sống có trách nhiệm với bản thân và
những người xung quanh. Bởi trước đó các em rất mặc cảm, tự ti khi thấy mình
không đỗ vào THPT, có ý chán nản, buông xuôi, tìm cách phá phách để thể hiện
mình.
Các thế hệ học sinh đã có những nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của tuổi
trẻ, thấy yêu mến và có trách nhiệm hơn trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong các đợt quyên gúp, ủng hộ do các cấp, các ngành phát động trung tâm
đều đạt và vượt chỉ tiêu, bởi mỗi HS đã tự ý thức được rõ hơn về nghĩa vụ và trách
nhiệm của mình đối với cộng đồng.
Trung tâm không có học sinh mắc các TNXH; không sảy ra tình trạng bạo
lực học đường; không tuyên truyền văn hóa phẩm bị cấm; không vi phạm pháp
luật…Đại đa số các em đó có ý thức hơn trong giao tiếp, trong ứng xử (hạn chế
việc nói tục, chửi bậy); biết đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau…
C. KẾT LUẬN
21
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ quan
trọng trong các nhiệm vụ quản lý các hoạt động của Trung tâm. Thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý này là góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các mục tiêu giáo
dục của đơn vị.
Qua kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy: Công tác quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh trong diện xếp loại hạnh kiểm tại trung tâm đã được sự
quan tâm đặc biệt của Chi bộ, chính quyền, các đoàn thể. Các cán bộ quản lý, giáo
viên đã nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho
thức học, điều kiện về cơ sở vật chất của mỗi trung tâm là khác nhau nên khi áp
dụng các biện pháp cũng sẽ thực hiện ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, không
nên xem nhẹ hay tuyệt đối hóa bất kỳ biện pháp nào. Và tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu,
vận dụng và lựa chọn hình thức phù hợp nhất trong quá trình giáo dục các em tại
trung tâm.
Kim Động, ngày 01 tháng 3 năm 2014
NGƯỜI VIẾT
Dương Thị Mỹ Hạnh
23
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH TRUNG TÂM GDTX HUYỆN KIM ĐỘNG
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH PHÒNG GD&ĐT HUYỆN KIM ĐỘNG
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………