Một số biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trường mầm non thành phố đồng hới, tỉnh quảng bình - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ MINH HƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ
ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ MINH HƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ
ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN QUỐC LÂM
NGHỆ AN, NĂM 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học
Vinh đã tạo điều kiện để tôi được tham gia khóa học thật hữu ích.
Tôi xin bày tỏ biết ơn các đồng chí Lãnh đạo và chuyên viên Phòng
GD&ĐT Đồng Hới, các trường học trong thành phố, đồng nghiệp và bạn bè
đã cổ vũ, động viên khích lệ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phan Quốc
Lâm, người thầy đã tận tình định hướng, chỉ dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu hoàn thành luận văn.

MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 6
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ CỦA ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG CÁC
TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH
QUẢNG BÌNH 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC
VÀ GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ ĐỒNG
HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KÊT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Thống kê số lớp, cấp học, bậc học : 37
Bảng 2.2 : Thống kê số lượng, trình độ đội ngũ giáo viên thuộc Phòng 38
Giáo dục thành phố Đồng Hới 38
Bảng 2.3: Tỷ lệ xếp loại học lực của học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở 39
Bảng 2.4: Tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm của Học sinh Tiểu học và Trung học cơ
sở 40
Bảng 2.5: Số lượng trường, lớp, trẻ em Mầm non trong 5 năm (từ năm học
2009 - 2010 đến năm học 1013 - 2014) 41
Bảng 2.6 : Thống kê số lượng, trình độ đào tạo của đội ngũ GVMN 42
Bảng 2.7: Kết quả điều tra trình độ đào tạo, tuổi nghề, tuổi đời của Hiệu
trưởng các trường Mầm non thành phố Đồng Hới 43
Bảng 2.8: Tổng hợp kết quả khảo sát về phẩm chất chính trị của đội ngũ

chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà
trẻ được tiếp thu qua hoạt động chăm sóc và giáo dục ở bậc mầm non sẽ là
nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ, là yếu tố quan trọng
trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Quyết định số 1666/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm 2012 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo Quyết định về việc ban hành Chương trình hành động
của Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 - 2016 trong đó xác định mục tiêu
phát triển Giáo dục mầm non 2011 - 2020 là “Hoàn thành mục tiêu phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất
30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc,
giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ suy dinh dưỡng trong các cơ
sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10% ” [2, tr.2].
Việc quản lý bậc học này là công việc hết sức khó khăn và phức tạp,
đòi hỏi người quản lý trước hết phải có tâm huyết, yêu nghề, yêu trẻ, có phẩm
2
chất đạo đức tốt, năng lực quản lý và trình độ chuyên môn vững vàng để hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung, giáo
dục Mầm non trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nói riêng đã
đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội
ngũ cán bộ quản lý trường học. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được,
công tác quản lý chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trường Mầm non thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất
(CSVC) chưa đáp ứng được yêu cầu, số phòng học đạt chuẩn còn ít, trang
thiết bị, đồ dùng, đồ chơi chưa được đầu tư đúng mức để nâng cao chất lượng
chăm sóc và giáo dục trẻ… trong đó, biện pháp quản lý của một số Hiệu
trưởng (HT) còn có những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng mục tiêu Giáo
dục Mầm non trong giai đoạn hiện nay.
Để kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế và đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao về chăm sóc và giáo dục trẻ, góp phần thực hiện thành công đổi mới

trong giai đoạn hiện nay. Nếu đề xuất và thực thi được các biện pháp có cơ sở
khoa học và có tính khả thi sẽ nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc và
giáo dục trẻ ở các trường Mầm non trên địa bàn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động chăm sóc
và giáo dục trẻ của Hiệu trưởng các trường Mầm non.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động chăm sóc
và giáo dục trẻ của Hiệu trưởng các trường Mầm non trên địa bàn thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
4
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục
trẻ của Hiệu trưởng các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Đồng Hới,
tỉnh Quảng Bình.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu liên quan nhằm xây dựng cơ sở
lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Sử dụng phương pháp điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm, phương
pháp lấy ý kiến chuyên gia… nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt
động chăm sóc và giáo dục trẻ của Hiệu trưởng các trường Mầm non và thu
thập thêm những thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.3. Các phương pháp thống kê toán học.
Nhằm xử lý các kết quả điều tra, khảo sát thu được trong quá trình
nghiên cứu.
7. Đóng góp của luận văn.
- Đề tài góp phần làm rõ lý luận về công tác quản lý hoạt động chăm
sóc và giáo dục trẻ của Hiệu trưởng các trường Mầm non
- Thông qua khảo sát thực trạng công tác quản lý chăm sóc và giáo dục
trẻ ở các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình,

trong lịch sử, từ những năm 500 đến 300 trước Công Nguyên, tại Trung Hoa
cổ đại đã xuất hiện các tư tưởng quản lý của Khổng Tử nhằm mục đích đào
tạo lớp người cai trị xã hội. Tư tưởng quản lý đó được xây dựng trên cái cốt
triết lý là đạo nhân. Trên cơ sở của đạo nhân, Khổng Tử và các học trò của
Ông đã tiếp cận một cách khái quát các yếu tố nhân và lễ, nhân và nghĩa,
nhân và trí, nhân và dũng, nhân và tín, nhân và lợi, lợi và nghĩa, lợi và thành
vào việc truyền đạo (dạy học). Mục đích về dạy học của Khổng Tử lúc đương
thời là đúc kết các yếu tố nói trên để đi đến việc định ra các hình mẫu về
phẩm chất và năng lực của tầng lớp những người quản lý xã hội chuyên
nghiệp như “quân tử” và “ kẻ sĩ ”. Tư tưởng nói trên, tuy chưa thực sự chuyên
sâu về quản lý nhưng đã thể hiện những quan điểm về nâng cao chất lượng
đội ngũ CBQL trong xã hội lúc bấy giờ. Vì thế, Khổng Tử đã khuyên mọi
người phải luôn học tập, tự bồi dưỡng để trở thành những người thầy “dạy
không biết mỏi” và để người học “học không biết chán”.
7
Vào thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ XIV, một trường phái tiếp cận về quản
lý trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hoá giữa con người và con người đã
xuất hiện với công trình của William Ouchi (giáo sư Trường Đại học
California, LosAngeles, Mỹ). Ông đã khẳng định tầm quan trọng của văn hoá
trong quản lý và nêu ra bảy đặc điểm có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý đã
nêu và được mô tả bằng sơ đồ 7S: Structure (cơ cấu), Strategy (chiến lược),
Skills (các kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống) Shared value (các
giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ). Thông qua giới thiệu và phân tích
các đặc điểm trên, người đọc thấy được giá trị của chất lượng đội ngũ người
quản lý.
V.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như những thất
bại của 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn
nghiệp vụ của một Hiệu trưởng. Ông đã khẳng định vai trò lãnh đạo và quản
lý toàn diện của Hiệu trưởng, đồng thời, nhấn mạnh đến sự phân công hợp lý,
phối hơp chặt chẽ và sự thống nhất quản lý giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu

lý viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được
công bố của các tác giả như Phạm Thành Nghị, Đặng Bá Lâm, Đặng Hữu
Đạo, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Chân, Nguyễn Bá Dương các công trình
nghiên cứu trên đã giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản của hoạt động quản
lý, các giai đoạn của hoạt động quản lý, đồng thời, chỉ ra các phương pháp và
nghệ thuật quản lý. Đứng ở góc độ nghiên cứu lý luận QLGD, dựa trên cơ sở
lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa
học Việt Nam đã tiếp cận QLGD và quản lý trường học chủ yếu dựa trên nền
tảng lý luận giáo dục học. Hầu hết các cuốn giáo dục học của các tác giả Việt
Nam thường có một chương về quản lý trường học. Các công trình tiêu biểu
9
có đề cập tới chất lượng và phương thức nâng cao chất lượng CBQL trường
học gồm: Phương pháp luận khoa học giáo dục do tác giả Phạm Minh Hạc
làm tổng chủ biên, được Viện Khoa học giáo dục ấn hành năm 1981; Giáo
dục học của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1987; Giáo dục học đại cương
của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê, 1999; Tuyển tập Giáo dục học -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Hà Thế Ngữ, 2001. Nhiều công trình
nghiên cứu, giáo trình, bài giảng của các tác giả: Đặng Bá Lâm, Đặng Vũ
Hoạt, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Lân, Nguyễn Cảnh Toàn,
Đặng Quốc Bảo, Thái Duy Tuyên, Hà Sỹ Hồ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ngọc
Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành đã đưa ra nhiều vấn đề QLGD,
kinh nghiệm QLGD từ thực tiễn của nền giáo dục Việt Nam.
Quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trường Mầm non
nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, đã được
nhiều người quan tâm, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, tiêu
biểu như tác giả Nguyễn Thị Hường với công trình “Tư tưởng tích hợp và vấn
đề đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục Mầm non” [17]; Nguyễn Thị Như
Mai với công trình “Nghiên cứu cách thức chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo học đọc
ở các trường Mầm non và Gia đình” [25]; Nguyễn Thị Thu Hạnh với công
trình “Thực trạng kích thích hứng thú trong quá trình tổ chức cho trẻ tìm hiểu

động cơ, hoạt động còn có đặc trưng là phải biết sử dụng các phương tiện nhất
định mới thực hiện được như công cụ và cách sử dụng công cụ, phương tiện
ngôn ngữ và các tri thức chứa đựng trong ngôn ngữ, cách thức làm việc bằng
trí óc và chân tay, nghĩa là hoạt động đòi hỏi phải có các kỹ năng và kỹ xảo sử
dụng các phương tiện.
11
Hoạt động có những đặc điểm:
- Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng.
- Con người là chủ thể của hoạt động.
- Hoạt động có sử dụng các phương tiện công cụ để tác động vào đối
tượng.
- Hoạt động được thực hiện trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất
định.
1.2.1.2 Hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường Mầm non.
Trong trường mầm non Hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ là hoạt
động trọng tâm, đó là con đường thuận lợi nhất để giúp trẻ phát triển một cách
toàn diện.
- Hoạt động chăm sóc nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo an toàn thể
chất cho trẻ; Hoạt động chăm sóc trẻ bao gồm:
+ Giữ gìn vệ sinh, đảm bảo chế độ dinh dưỡng, thực hiện các vận động
cơ bản…
- Hoạt động giáo dục nhằm hướng tới mục tiêu phát triển tâm lý hình
thành và phát triển nhân cách cho trẻ mầm non. Hoạt động giáo dục trẻ bao
gồm:
+ Hoạt động phát triển nhận thức, phát triển thẩm mỹ, phát triển tình
cảm và kỹ năng xã hội.
Hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ là hai hoạt động riêng biệt, tuy
nhiên trong quá trình tổ chức giáo dục trẻ thi hai hoạt động này có mối quan
hệ chặt chẻ với nhau bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ
em, hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, trong nuôi dưỡng có giáo

quản lý nhà trường phổ thông, NXB đại học Quốc gia, Hà Nội.]
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm
năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến
động của môi trường. [Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Đại
cương về quản lý. Giáo trình cho các lớp Cao học quản lý Giáo dục, Trường
Đại học sư phạm – Trường cán bộ quản lý giáo dục, Hà Nội.]
- Theo quan điểm hệ thống: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến đổi của môi trường.
- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt gắn với lao động tập
thể và kết quả của sự phân công lao động xã hội. Nhưng lao động quản lý lại
có thể phân chia thành một hệ thống các dạng lao động xác định mà theo đó
chủ thể quản lý có thể tác động vào đối tượng quản lý. Các dạng lao động xác
định này được gọi là các chức năng quản lý. Một số nghiên cứu cho thấy rằng
trong mọi quá trình quản lý, người cán bộ quản lý phải thực hiện các chức
năng quản lý kế tiếp một cách lôgic, bắt đầu từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá. Quá trình này được tiếp diễn một
cách liên hoàn và được gọi là chu trình quản lý. Có thể hiểu chu trình quản lý
gồm các chức năng cơ bản sau:
- Lập kế hoạch.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch.
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch.
- Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
14
Tuy các chức năng kế tiếp nhau nhưng chúng thực hiện đan xen nhau,
hỗ trợ bổ sung cho nhau. Trong chu trình quản lý, thông tin chiếm một vai trò
quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu trong quá trình hoạt động quản
lý. Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý và vai trò thông tin trong chu trình

Hiện nay ở nước ta, đa số các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: quản
lý giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý nhằm
đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một
cách hiệu quả nhất. Hay: “Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể hiểu là
một chuỗi tác động hợp lý (có hệ thống, có mục đích, có kết quả) mang tính tổ
chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến
những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng
cộng tác, phối hợp, tham gia mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá
trình này vận hành tối ưu với việc hoàn thành mục tiêu dự kiến”.
Quản lý giáo dục còn được biểu hiện một cách cụ thể là quản lý một hệ
thống giáo dục, một trường học, một cơ sở giáo dục có thể là trung tâm hướng
nghiệp dạy nghề, tập hợp các cơ sở giáo dục trên địa bàn…Theo Đặng Quốc
Bảo; quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là: “Hoạt động điều hành phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
phát triển xã hội“ [7].
Mạng lưới nhà trường là một bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội, do đó
quản lý giáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế - xã hội đặc biệt nhằm
thực hiện đồng bộ hài hòa sự phân hóa và xã hội hóa để tái sản xuất sức lao
16
động có kỹ thuật, phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Theo Phạm
Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến đến mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [14].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo
dục) nhằm làm cho hệ điều hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà
tiêu điểm là hội tụ của quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới
mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất ” [29].

lối và nguyên lý GD của Đảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo của
ngành GD giao phó cho nhà trường.
- Quản lý nhà trường bao gồm 2 loại:
a) Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà
trường:
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của cơ quan QLGD cấp
trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của
nhà trường.
Quản lý cũng gồm những chỉ dẫn, quy định của các thực thể bên ngoài
nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được
đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của
nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát
triển đó.
18
b) Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường:
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm
các hoạt động:
- Quản lý GV;
- Quản lý HS;
- Quản lý quá trình dạy học - giáo dục;
- Quản lý CSVC, trang thiết bị của nhà trường;
- Quản lý tài chính trường học;
- Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.
1.2.2.4. Quản lý trường Mầm non
Giáo dục Mầm non là một bộ phận và là nền tảng của hệ thống giáo dục
quốc dân, GDMN có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây dựng
nền móng ban đầu cho GD phổ thông và sự hình thành nhân cách con người.
Trường Mầm non là một đơn vị của GDMN thuộc hệ thống giáo dục quốc
dân Việt Nam. Quản lý trường Mầm non là quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể cán bộ, giáo viên để chính họ tác

2.2.3.2. Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ.
Hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ là các cách thức tổ chức, điều
khiển của GV trong việc chăm sóc giáo dục trẻ nhằm nâng cao chất lượng của
hoạt động này. Như vậy, biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục
trẻ là sự tác động từ phía người quản lý đối với GV nhằm làm thay đổi cách
thức tổ chức hoạt động, nâng cao kỹ năng chăm sóc và giáo dục trẻ, để họ
không ngừng nổ lực phần đấu vươn lên, tích lũy kiến thức chuyên môn, có
phương pháp sư phạm trong giáo dục trẻ.
20
1.3. Một số vấn đề về hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường
Mầm non.
1.3.1. Đặc trưng của giáo dục Mầm non.
Giáo dục Mầm non có những đặc trưng riêng so với các ngành học, bậc
học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì thế, Giáo dục Mầm non
là hoạt động thực hiện việc nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng
đến 6 tuổi. Nội dung GDMN phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và
nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa
các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung
giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ,
chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống. Do đó, GDMN luôn đảm
bảo sự phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hoà giữa nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh,
nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ biết kính
trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo, yêu quý anh,
chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp;
ham hiểu biết, thích đi học. Phương pháp chủ yếu trong GDMN là thông qua
các hoạt động vui chơi để giúp trẻ phát triển toàn diện: Chú trọng việc nêu
gương, động viên, khích lệ.
Đối với GDMN, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếp thường
xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ; chú ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status