Một số giải pháp quản lý đổi mới phương pháp giáo dục trẻ ở các trường mầm non thành phố mỹ tho tỉnh tiền giang - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HỒNG GẤM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, NĂM 2015


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HỒNG GẤM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đổi mới phương
pháp giáo dục trẻ ở các trường mầm non
1.1.Lịch sử nghiên cứu đề tài
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.3. Đổi mới phương pháp giáo dục trẻ ở trường mầm non
1.4. Quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm non
Chương II: Thực trạng công tác quản lý phương pháp giáo dục
trẻ ở các trường mầm non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội và tình hình

1

6
9
18
21

32

giáo dục của TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
2.2. Khái quát về điều tra thực trạng
2.3. Thực trạng đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm non thành phố

41
42


71
92
95
96


5

2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

CBQL
CNTT
CSVC
CSGD
CLGD
ĐDDH
GDĐT
GDMN



6

lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong
những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”. Nhân
tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH - HĐH đất nước và hội nhập
quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số
lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Muốn đạt
được mục tiêu đó, trước hết cần tập trung làm chuyển biến mạnh mẽ chất
lượng và hiệu quả nền GD theo định hướng: Đổi mới và nâng cao năng lực
quản lý nhà nước trong GDĐT; Đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và
phương pháp GD theo hướng HĐH, phù hợp với thực tiễn Việt Nam cùng với
đổi mới cơ chế QLGD.
GDĐT nước ta trong những năm qua đã có những đóng góp to lớn
vào sự nghiệp CNH - HĐH và hội nhập quốc tế. Song chúng ta phải thừa
nhận rằng: GD còn chậm đổi mới, chưa thích ứng nhanh với sự tiến bộ của
khoa học và công nghệ, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế,
thách thức trên con đường hội nhập quốc tế.
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân, là nền tảng
đầu tiên của ngành GDĐT. Chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc và GD trẻ ở
trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng GD ở bậc học tiếp
theo. GDMN có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm GD toàn diện cho
trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành
nên nhân cách con người mới XHCN Việt Nam và là tiền đề cần thiết cho
trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.
Như Bác Hồ kính yêu đã nói: “GDMN tốt sẽ mở đầu cho một nền GD
tốt”. Trường mầm non có nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và GD các cháu,
bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích.
Vì vậy, các trường mầm non có nhiệm vụ GD trẻ có được những thói

lý đổi mới phương pháp giáo dục trẻ ở các trường mầm non thành phố Mỹ
Tho, tỉnh Tiền Giang”.


8

2. Mục đích nghiên cứu
Đề ra một số giải pháp quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm non
nhằm nâng cao chất lượng GDMN thành phố Mỹ Tho,tỉnh Tiền Giang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể
Vấn đề quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm non thành phố
Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu chúng ta xây dựng được một số giải pháp có luận cứ khoa học, phù hợp
với thực tiễn và có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý đổi
mới PPGD trẻ ở các trường mầm non thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Nghiên cứu lý luận của vấn đề quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường
mầm non thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang.
5.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường
mầm non thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang.
5.1.3. Đề xuất một số giải pháp
Đề xuất một số giải pháp giúp CBQL, giáo viên vận dụng một cách
sáng tạo vào đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm non góp phần nâng cao

thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
8. Cấu trúc của luận văn


10

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các
trường mầm non.
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường
mầm non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường
mầm non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang..


11

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐỒI MỚI PHƯƠNG PHÁP
GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về PPGD và quản lý PPGD đã được thể hiện
trong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà GD. Đức Khổng
Tử (551- 479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích sở trường
và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học là khải phát (gợi mở).
Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp đàm thoại trong
dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay. J.A.Komenxki (1592 - 1670) đã
phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp dạy

PPGD trẻ là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết và bậc học mầm non là
bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của
mỗi người. Người ta ví “ tâm hồn trẻ như một trang giấy trắng”, chúng ta vẽ
lên trang giấy trắng như thế nào thì kết quả sẽ như thế đó. Nhân ngày khai
trường, Bác Hồ đã viết: “Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một
nền GD hoàn toàn Việt Nam... làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của
các cháu”. Nội dung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của
PPGD, thấm nhuần lời dạy của Bác chúng ta luôn quan tâm đến chất lượng
của việc đổi mới PPGD ngay từ bậc học mầm non, bởi đó là thế hệ của tương
lai đất nước.
Ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm,
đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy). Nhiều tác giả có
các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ,
Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí, Và một số các nhà giáo giàu kinh
nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung
vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: Văn như Cương, Tôn Thân.


13

Về quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải
kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc; Trần KiểmTrần
Kiều; Trần Bá Hoành luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là
người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan
điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết TW 2 khoá VIII về GDĐT. Nghị quyết yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Nội dung này
đã được thể hiện thành quy định pháp luật tại chương I điều 4, luật GD. Quốc
hội X, kì họp thứ tư, ngày 28/10 đến ngày 02/12/1998 thông qua ghi rõ:
1. Nội dung GD phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện
đại và có hệ thống.

đến. Đặc biệt là một số giải pháp quản lý đổi mới PPGD trẻ ở các trường mầm
non thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Trường mầm non
1.2.1.1. Khái niệm
Trường mầm non là đơn vị giáo dục cơ sở của ngành học mầm non, là
trường được liên hợp giữa nhà trẻ và mẫu giáo. Trường mầm non có chức
năng thu nhận để chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi, nhằm
giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị cho trẻ em
vào lớp 1. Trường mầm non có các lớp mẫu giáo và các nhóm trẻ. Trường do
một ban giám hiệu có hiệu trưởng phụ trách [4].
1.2.1.2. Vai trò trường MN
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của GDMN trong hệ thống GD quốc
dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do ngành GD quản lý.
Trường mầm non đảm nhận việc nuôi dưỡng chăm sóc và GD trẻ em nhằm
giúp trẻ em hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị những
tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường phổ thông sau này [4].


15

1.2.1.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non
Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ em từ ba tháng tuổi
đến sáu tuổi theo chương trình GDMN do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành. Huy
động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức GD hoà nhập cho trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật. Quản lý cán bộ, GV, nhân viên để thực
hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và GD trẻ em. Huy động, quản lý, sử dụng
các nguồn lực theo quy định của pháp luật. Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu
cầu chuẩn hoá, HĐH hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn.
Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi

luyện tập, lấy trẻ làm trung tâm,…đó là phương tiện phát triển toàn diện trẻ.
Cùng một nội dung GD như nhau, nhưng bài học có làm cho trẻ thực
sự hứng thú học tập hay không; có phát triển được tính độc lập, tích cực,
sáng tạo để giải quyết các vấn đề bức xúc của cuộc sống hay không; có để
lại dấu ấn sâu đậm và khơi dậy ở tâm hồn các em những tình cảm lành
mạnh, trong sáng hay không; phần lớn tùy thuộc vào việc lựa chọn PPGD
của người GV. Cho đến nay, PPGD vẫn là một hiện tượng sư phạm nhiều
quan điểm, khái niệm PPGD còn là vấn đề đang được tranh luận, chưa có ý
kiến thống nhất. Thái Duy Tuyên đã tóm tắt khái niệm này trong ba dạng cơ
bản sau đây: “Theo quan điểm điều khiển học, phương pháp là cách thức tổ
chức hoạt động nhận thức của trẻ và điều khiển hoạt động này. Theo quan
điểm lôgic, phương pháp là những thủ thuật logic được sử dụng để giúp trẻ
nắm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác. Theo bản chất của nội
dung, phương pháp là sự vận động của nội dung dạy học.” [35, tr.38].
Tuỳ theo quan niệm về mối quan hệ trong quá trình GD, đã có nhiều
định nghĩa khác nhau về PPGD. Nếu đứng trên góc độ dạy học tích cực, có
thể chọn định nghĩa sau: “PPGD là một hệ thống tác động liên tục của GV
nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để trẻ lĩnh hội


17

vững chắc các thành phần của nội dung GD nhằm đạt được mục tiêu đã định”
[28, tr.32], hay nói một cách khái quát chung: PPGD là con đường để đạt
mục đích dạy học.
1.2.3. Quản lý đổi mới phương pháp giáo dục trong nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý đã
xuất hiện rất sớm. Từ khi con người biết tập hợp lại với nhau, tập trung sức
lực để tự vệ hoặc kiếm sống, thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã

lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý
là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được
các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn cá
nhân ít nhất...” [23, tr.33].
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lý gồm hai
quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì
hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới
hệ đưa hệ vào thế “phát triển”…Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải
có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp,
thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội
lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)” [2, tr.14].
Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí nhấn mạnh:
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản
lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr.1].
Tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là quá trình dựa vào các quy
luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển
hệ thống đó sang một trạng thái mới” [28, tr.363]. Tác giả Trần Kiểm quan
niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật


19

lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm
đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [24, tr.8].
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng chúng đều
có chung những dấu hiệu chủ yếu sau: Hoạt động quản lý được tiến hành
trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; hoạt động quản lý là những tác động
có tính hướng đích; hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của

Đổi mới GD nói chung, đổi mới PPGD nói riêng là quy luật phát triển
tất yếu của thời đại và mỗi quốc gia trên bước đường phát triển xã hội, GD và
chính bản thân người làm công tác GD, GV và HS trong điều kiện mới. Đổi
mới PPGD là thay đổi, kế thừa các PPGD truyền thống và tiếp thu những
PPGD mới một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh để đáp ứng
yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Đổi mới không phải thay cái cũ bằng cái mới. Nó là sự kế thừa, sử dụng
một cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống PPGD truyền thống hiện còn có
giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kĩ năng, kinh nghiệm
và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị xã hội.
Đổi mới PPGD theo hướng khắc phục các phương pháp đã lạc hậu, truyền thụ
một chiều, tăng cường sử dụng các phương tiện TBDH tạo điều kiện cho
người học hoạt động tích cực, độc lập và sáng tạo. Đổi mới PPGD là tăng
cường vận dụng những thành tựu mới của khoa học, kĩ thuật, CNTT có khả
năng ứng dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao CLGD. Đổi mới
PPGD phải được tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống, khoa học, đồng bộ,
khả thi. Đổi mới PPGD phải thực sự góp phần nâng cao CLGD [17].
Đổi mới PPGD đòi hỏi phải kiên quyết loại bỏ các PPGD lạc hậu, truyền
thụ một chiều, HS thụ động trong học tập và mất dần khả năng sáng tạo vốn
có của người học, khắc phục những chướng ngại vật về tâm lí, những thói


21

quen cổ hủ ở cả người dạy và người học. Phải quyết tâm, mạnh dạn chiếm
lĩnh những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật, ứng dụng sáng tạo khoa học
kĩ thuật vào quá trình dạy học nhằm góp phần nâng cao CLGD.
Đổi mới PPGD phải được tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống, khoa
học, đồng bộ, có tính khả thi; không được cầu toàn, thụ động, phải mạnh dạn
vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Đổi mới PPGD phải thực sự góp phần nâng

1.2.4. Giải pháp quản lý đổi mới PPGD trẻ ở trường mầm non
1.2.4.1. Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng việt, giải pháp là: “phương pháp giải quyết một vấn
đề”. Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi
chuyển biến một quá trình, một trạng thái hoặc hệ thống…nhằm đạt được
mục đích. Giải pháp thích hợp giúp cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn,
mang lại hiệu quả hơn.
1.2.4.2. Giải pháp quản lý đổi mới PPGD trẻ ở trường mầm non
Giải pháp quản lí đổi mới PPGD trẻ ở trường mầm non là cách thức tác
động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về phương pháp quản lí trong việc
GD trẻ ở các trường mầm non. Giúp cho trẻ phát huy tính tích cực trong các
hoạt động, kết quả cuối cùng là đứa trẻ cần đạt mục tiêu mong đợi cuối độ tuổi
và đồng thời chuẩn bị tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi vào tiểu học.
Để đạt được hiệu quả trong việc đổi mới PPGD cho trẻ, CBQL ở các
trường đưa ra nhiều giải pháp như: Nâng cao nhận thức về đổi mới PPGD
cho đội ngũ giáo viên; Tăng cường quản lý đổi mới khâu thiết kế kế hoạch
bài học và tổ chức các hoạt động GD; Tăng cường quản lí việc khai thác, sử
dụng CSVC và TBDH của GV; Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cho đội ngũ GV; Tăng cường quản lý hoạt động của tổ chuyên
môn; Phối hợp chặt chẽ hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh và các
lực luợng giáo dục khác; Tổ chức tham quan học tập; Chỉ đạo xây dựng lớp


23

điểm và tổ chức hội giảng, hội thảo,...Do vậy, người quản lý phải có kiến
thức sâu rộng, có kinh nghiệm, phải nhạy cảm, linh hoạt và mềm dẻo để gắn
kết những giải pháp với nhau, giải quyết các mâu thuẫn giữa các giải pháp, biết
tiên đoán trước hoàn cảnh, tình huống mà đối tượng quản lý đặt ra thì người
quản lý mới có được quyết định đúng trong việc lựa chọn giải pháp quản lý hữu

Đối với GD nhà trẻ, PPGD phải chú trọng giao tiếp thường xuyên, thể
hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó của người lớn với trẻ; chú ý đặc điểm cá
nhân trẻ để lựa chọn PPGD cho phù hợp, tạo cho trẻ cảm giác an toàn về thể
chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được tích cực hoạt động giao
lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích sự phát triển các
giác quan và các chức năng tâm – sinh lí; tạo môi trường GD gần gũi với
khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ [5].
Đối với GD mẫu giáo, PPGD phải tạo điều kiện cho trẻ trải nghiệm, tìm
tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng
nhu cầu, hứng thú của trẻ phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”. Chú
trọng đổi mới tổ chức môi trường GD nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ
tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một vui
vẻ. Kết hợp hài hòa giữa GD trẻ trong nhóm bạn với GD cá nhân, chú ý đặc
điểm riêng của từng trẻ để có PPGD phù hợp. Tổ chức hợp lí các hình thức
hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của
nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ cùng
với điều kiện thực tế [5].
1.3.1.4. Yêu cầu về hình thức tổ chức
Theo chương trình GDMN hiện nay hình thức tổ chức đổi mới PPGD trẻ
được phân loại theo các cách tiếp cận sau đây:
a) Theo mục đích và nội dung đổi mới, có các hình thức:
- Tổ chức hoạt động có chủ định và theo ý thích của trẻ.


25

- Tổ chức lễ, hội: Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan
trọng trong năm liên quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục và mang lại niềm vui
cho trẻ (Tết trung thu, Ngày hội đến trường, Tết cổ truyền, Ngày hội của các
bà, các mẹ, các cô, các bạn gái,...).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status