BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ VIỆT LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Bá Minh
Nghệ An - 2014
LỜI CẢM ƠN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ VIỆT LIÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Bá Minh
Nghệ An - 2014
Kính thưa quí thầy cô!
Với tình cảm chân thành và lòng quí trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến quí lãnh đạo, BGH Nhà trường, Khoa Sau Đại học; các giáo sư, tiến sĩ,
DDSK Dinh dưỡng sức khỏe
ĐH Đại học
GD Giáo dục
GD&ĐT Giáo dục & đào tạo
GDMN Giáo dục mầm non
GDDD Giáo dục dinh dưỡng
GDMN Giáo dục mầm non
GVMN Giáo viên mầm non
HT Hiệu trưởng
HĐVC Hoạt động vui chơi
KT - XH Kinh tế - xã hội
MN, MNTT, MNCL Mầm non, Mầm non tư thục, Mầm non công lập
QLGD, QLGDMN Quản lý giáo dục, Quản lý giáo dục mầm non
SDD Suy dinh dưỡng
UBND Ủy ban Nhân dân
VSDD Vệ sinh dinh dưỡng
VSMT Vệ sinh môi trường
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XHH Xã hội hóa
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
Lời cảm ơn
Những ký hiệu viết tắt trong luận văn
Mục lục
Mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2.
Mục đích nghiên cứu
3
23
1.4.1.Quản lý chương trình GDMN 23
1.4.2.Qu n lý i ng GV, NV ả độ ũ
27
1.4.3.Qu n lý CSVC – thi t b ả ế ị
29
1.4.4.Qu n lý vi c xây d ng môi tr ng s ph m ả ệ ự ườ ư ạ
29
1.4.5. Qu n lý quan h gi a nh tr ng, gia ình v xãả ệ ữ à ườ đ à
h iộ
30
Kết luận chương 1
30
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ Ở
CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ , TP. HỒ CHÍ MINH
32
2.1.
Khái quát về tình hình phát triển trường MNTT Quận Tân Phú -TP.
Hồ Chí Minh
32
2.1.1.Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên KT-XH Quận Tân 32
Phú- TP.Hồ Chí Minh
2.1.2. Tình hình phát triển GDMN ở Quận Tân Phú – TP. Hồ Chí
Minh
33
2.1.3. Tình hình phát triển GD MNTT ở Quận Tân Phú TP. Hồ Chí
Minh
36
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC
QUẬN TÂN PHÚ , TP. HỒ CHÍ MINH
68
3.1. Các nguyên tắc đề xuất các giải pháp 68
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 68
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 68
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68
3.1.4
.
Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
69
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng XH trong GD
69
3.2.
Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động CS - GD trẻ
ở các trường MNTT Quận Tân Phú , TP. Hồ Chí Minh
70
3.2.1.Nâng cao nhận thức của CBQL và GV về vai trò và sự cần
thiết phải đảm bảo chất lượng hoạt động CS-GD trẻ MN
70
3.2.2. Đổi mới công tác quản lý cơ sở MNTT của HT 72
3.2.3. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ GV 73
3.2.4.Đổi mới quản lý mục tiêu, nội dung chương trình
CS-GD trẻ
75
3.2.5. Tăng cường CSVC, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi và tài
chính phục vụ hoạt động CS-GD trẻ MN
78
khó khăn và bất cập: tình trạng không ổn định về đội ngũ quản lý, giáo viên, đặc biệt là chất
lượng chăm sóc giáo dục.Do đó sự cần thiết là các cơ quan phải quan tâm đến công tác này
để đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN nói chung và GDMN ngoài công lập nói riêng.
Để đáp ứng mục tiêu phát triển GDMN như trong chiến lược phát triển GDMN đã đề
cập với mục tiêu cụ thể là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, tình cảm- xã
hội, trí tuệ, thẩm mỹ, ngôn ngữ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ vào học lớp một, bậc học mầm non đặt ra những yêu cầu khác biệt về các hoạt động
2
giáo dục trẻ cũng như quản lý hoạt động này trong nhà trường mầm non. Chất lượng hoạt
động chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường mầm non phụ thuộc trực tiếp vào việc xác định
đúng đắn và thực hiện hiệu quả các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ.
Tuy nhiên, chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non hiện
nay còn chưa cao, đặc biệt chưa đồng đều giữa các trường MN công lập và MNNCL . Vì thế,
việc tìm kiếm các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
trong các trường MNNCL hiện nay là vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Quận Tân Phú của Tp. Hồ Chí Minh là quận mới, đông dân và lượng dân nhập cư lớn.
Đây cũng là địa phương có nhiều trường mầm non ngoài công lập cao nhất Tp. Hồ Chí
Minh. Các trường này đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của phụ huynh
về giáo dục trẻ mầm non. Tuy nhiên, nhìn chung, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các
trường MN tư thực còn chưa đạt yêu cầu. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là
chưa có các giải pháp quản lý khoa học và hiệu quả đối với hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
em. Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài:
“Một số giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ ở các trường MNTT tại Quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CS
- GD
trẻ ở các trường MNTT trên địa bàn quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu :
pháp sau:
- Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động quản lý của HT ở 10 trường
MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn BGH/Hiệu trưởng- GVMN để tìm
hiểu đánh giá của họ về thực trạng quản lý và chất lượng chăm sóc giáo dục ở
các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh. Các câu hỏi mở giúp tìm
hiểu thực tế quản lý về chiều sâu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: bảng hỏi được gửi cho BGH và
4
GVMN thuộc trường để tìm hiểu đánh giá của họ về thực trạng quản lý và chất
lượng chăm sóc giáo dục ở các trường MNTT tại quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí
Minh. Bảng hỏi cho phép đánh giá thực trạng quản lý trên diện rộng.
7.3. Phương pháp nghiên cứu thăm dò/thử nghiệm : Để tìm hiểu về tính
cần thiết và khả thi của các giải pháp đã đề xuất đề tài sử dụng phương pháp
7.4. Phương pháp nghiên cứu bổ trợ, phương pháp thống kê toán : dùng
để xử lý các dữ liệu thu được về mặt định lượng.
8 . Cấu trúc cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng hoạt động chăm sóc giáo
dục trẻ ở các trường MN.
Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục
trẻ ở các trường MNTT quận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động chăm
sóc giáo dục trẻ của các trường MNTTquận Tân Phú, Tp.Hồ Chí Minh.
9. Dự kiến các đóng góp của đề tài
9.1. Về lý luận : Góp phần khái quát hóa lý luận về vấn đề giải pháp quản
lý nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường MN.
9.2. Phát hiện thực trạng chất lượng và thực trạng các giải pháp quản lý
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường MNTTquận Tân Phú,
Hoa Kỳ bắt đi học trong các cơ sở giáo dục công lập ở tuổi lên 5 hay 6. Năm học
thường bắt đầu vào tháng 8 hay tháng 9, sau kỳ nghỉ mùa hè. Trẻ em được phân
thành từng nhóm xếp theo năm học gọi là lớp (grade), bắt đầu với các lớp mầm
non, sau đó là mẫu giáo, và tích lũy dần lên lớp 12. Ở mỗi lớp, trẻ em thường
học cùng với nhau cho đến cuối năm học (vào tháng 5 hay tháng 6). Tuy vậy,
trẻ em chậm phát triển có thể ở lại lớp hay học sinh tài năng có thể học lên lớp
nhanh hơn so với các bạn học cùng tuổi.
Hoa Kỳ không có các chương trình nhà trẻ và mẫu giáo công cộng có tính
chất bắt buộc. Chính phủ liên bang hỗ trợ tài chính cho chương trình Head Start
chương trình nhà trẻ và mẫu giáo dành cho các gia đình có thu nhập thấp. Còn
hầu hết các gia đình tự tìm trường và trả chi phí nhà trẻ và mẫu giáo. Ở những
thành phố lớn, đôi khi có những nhà trẻ và trường mẫu giáo phục vụ nhu cầu
của các gia đình có thu nhập cao. Hầu hết các bậc cha mẹ cho con cái họ đi học
ở cơ sở giáo dục công lập hoặc tư thục. Theo số liệu của chính quyền, một phần
mười học sinh ở Hoa Kỳ theo học trong các trường tư thục.
1.1.1.2. Tại Singapore :
7
Chương trình giáo dục mầm non được thực hiện qua hệ thống các nhà trẻ, mẫu giáo
và các trung tâm chãm sóc trẻ em với chương trình kéo dài 3 năm cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi.
Hệ thống nhà trẻ ở Singapore do các tổ chức doanh nhân và xã hội điều hành và đăng ký với
Bộ Giáo dục. Các trung tâm nuôi dạy trẻ phải được Bộ Phát triển Cộng đồng và Thể thao cấp
giấy phép hoạt động .
Phần lớn các trường mẫu giáo hoạt động 2 buổi trong ngày, mỗi buổi từ 2 tiếng rưỡi
đến 4 tiếng và 5 ngày trong tuần. Chương trình học thông thường bao gồm các chương trình
Anh ngữ và một ngôn ngữ thứ hai, tuy nhiên cũng có các trường mẫu giáo dành riêng cho học
sinh ngoại quốc.Thời gian đăng ký học đối với mẫu giáo và các trung tâm nuôi dạy trẻ tùy
vào mỗi nơi. Phần lớn các trung tâm trẻ em nhận học sinh quanh năm tùy thuộc vào việc còn
chỗ hay không.
Hệ thống giáo dục tại Singapore là một hệ thống đã được thử nghiệm và kiểm tra. Nó
hướng đến việc nuôi dưỡng và đào tạo mỗi cá nhân phát triển hết tiềm năng của bản thân.
cảnh khó khăn thông qua mức thu nhập cụ thể của gia đình . Đó là chính sách có gia đình
được miễn phí, có gia đình phải đóng góp theo tỉ lệ nào đó. Riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi được
hòan tòan miễn phí.
Hiện nay, nhiều nơi ở Canada đang thực hiện chương trình GDMN cả ngày dành cho
trẻ 4- 5 tuổi. Chương trình GDMN cả ngày đang được nhiều nơi thay cho chương trình một
buổi vì nhiều học sinh vào lớp một không đạt tiêu chuẩn đặt ra và thực tế cho thấy thực hiện
chương trình GDMN cả ngày đem lại lợi ích cho trẻ. Chương trình GDMN cả ngày là một
chương trình GD tòan diện và dựa vào chơi, mang tính tích hợp, bao gồm các nội dung và
họat động theo chủ đề. Thông qua chơi, trẻ phát triển hành động và suy nghĩ. Trước đây
GDMN chủ yếu chỉ sử dụng giấy,bút, nay GDMN đã sử dụng những phương pháp phù hợp
với sự phát triển của trẻ hơn. Chương trình GDMN cả ngày bao gồm cả quan hệ giữa nhà
trường với gia đình và các bộ phận khác trong xã hội quan tâm đến GDMN.
Một số mô hình cơ sở GDMN : các trung tâm chăm sóc (còn gọi là trung tâm GDMN
hoặc là trung tâm học sớm) dành cho trẻ từ 0- 4 tuổi; các nhóm trẻ ở gia đình (trung tâm giáo
dục trẻ ở gia đình); trường MN công lập chăm sóc giáo dục trẻ từ 0- 6 tuổi; trường lớp MN
trong trường tiểu học và trung học cơ sở công lập, trẻ 4 – 5 tuổi học chung ; trường lớp mầm
non trong trường cao đẳng hoặc trường đại học; cơ sở GDMN ngòai công lập được hổ trợ
thực hiện chương trình GD cả ngày và người phụ trách CS-GD ngòai công lập được tham vấn
cụ thể cho chính quyền địa phương.
Tóm lại, Canada là một trong các nước phát triển cao trên thế giới.GD không mang
tính quốc gia, nhưng chất lượng GD khắp đất nước đều cao một cách đồng bộ. GDMN được
coi là một bộ phận quan trọng của hệ thống GD nói chung .Bên cạnh chủ trương thực hiện
9
phổ cập GD một năm cho trẻ 5 tuổi, Chính phủ Liên bang có chính sách quốc gia về GDMN
như chính sách hỗ trợ CS-GD trẻ từ 3 tuổi trở xuống . Chính phủ các tỉnh bang cũng rất quan
tâm đến GDMN và thực hiện nhiếu chủ trương, chính sách để làm cho cộng đồng tiếp cận
GDMN một cách bình đẳng và phát triển GDMN.
Qua những kinh nghiệm về quản lý trường MN ở các nước phát triển trên là rất quí
giá và đáng để chúng ta học tập. Tuy nhiên, việc vận dụng chúng vào điều kiện kinh tế - xã
hội của chúng ta đòi hỏi phải có một quá trình chọn lọc, thử nghiệm để phù hợp với những
phạm và tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên còn hạn chế. Số giáo viên ở trường
công lập hiện còn thiếu, các trường mầm non tư thục càng thiếu hơn nên việc sử dụng bảo
mẫu thay thế giáo viên ở các trường, lớp này ngày càng nhiều, một số trường còn tuyển cả
sinh viên chưa tốt nghiệp ra trường tham gia vào việc giảng dạy làm ảnh hưởng đến chất
lượng CS-GD trẻ. Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức triển khai
giảng dạy theo chương trình giáo dục mầm non.
Từ những bất cập đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành Qui chế “Tổ chức và hoạt động trường
MNTT”, ban hành kèm theo Quyết định số 41/2008/QĐ/ BGDĐT, ngày 25 tháng 7 năm
2008, của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Theo Qui chế này, các cơ sở MNTT được tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về quy hoạch kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục
tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu
cầu xã hội
[22].
Hội thảo “Quản lý nhóm lớp mầm non độc lập tư thục ”do Bộ GD&ĐT tổ chức tại
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/2/2014 . Chủ trì hội thảo Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào
tạo Nguyễn Thị Nghĩa và Vụ trưởng Vụ Giáo dục mầm non Nguyễn Bá Minh. Tổng kết hội
thảo Thứ trưởng nhận định: “
Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng nhiều chương trình
đề án phát triển mầm non ngòai công lập, nhiều cơ chế chính sách xã hội hóa,
huy động các nguồn lực xã hội để phát triển mầm non ngòai công lập , tuyên
truyền sâu rộng cho các cấp, các ngành, các cấp tổ chức. Có nhiều doanh nghiệp
tham gia phát triển xây dựng trường mầm non ngòai công lập ở quận Bình
Tân . Các lớp mầm non tăng nhanh đáp ứng nhu cầu gởi trẻ của phụ huynh đặc
biệt là khu công nghiệp, các nhóm lớp tư thục góp phần giảm tải cho trường,
giúp cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên cần có cơ chế để hỗ trợ, để quản lý các
nhóm lớp mầm non độc lập tư thục, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính
trị. Tiếp tục quan tâm đến giáo dục mầm non ngòai công lập. Tăng cường công
tác đào tạo, bồi dưỡng ,quản lý,nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục ở các
11
người nhằm đạt mục đích, hiệu quả và năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động
giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong
nhóm,trong cộng đồng đạt mục tiêu đề ra. Nơi nào có hoạt động chung thì nơi
đó có quản lý.
12
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học từ trên các
bình diện khác nhau: triết học, kinh tế học, xã hội học, tâm lý học Các nhà
nghiên cứu về lý luận quản lý với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra các
quan niệm về quản lý gắn với các loại hình quản lý cụ thể. Chẳng hạn :
- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết
thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó.
- Theo quan điểm chính trị xã hội, “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ
chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên
khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế bằng
một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và
các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của
đối tượng” [17]
- Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quản lý xã hội một cách khoa
học “ Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những
hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những
quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt
động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra [37].Các Mác còn cho rằng: “
Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng ”
[1].
- Xét dưới góc độ điều khiển học, hoạt động quản lý chính là quá trình
điều khiển, sắp xếp tác động làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái từ
lộn xộn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý.
- Theo tác giả Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và
việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [8].
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:
+ Tác động của chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường :
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên
nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của nhà trường. Quản lý
cũng gồm những chỉ dẫn, quy định của các thực thể bên ngòai nhà trường nhưng có liên quan
trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục
nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện
phương hướng phát triển đó.
+ Tác động của chủ thể quản lý bên trong nhà trường:
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động :
14
quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học - giáo dục, quản lý cơ sở vật
chất, trang thiết bị của nhà trường, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa
nhà trường và cộng đồng.
1.2.2. Hoạt động CS-GD trẻ mầm non
CS-GD trẻ mầm non được hiểu là việc nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc sức
khỏe cho trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi và tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp
trẻ em lứa tuổi này phát triển toàn diện theo yêu cầu cầu xã hội.
1.2.2.1. Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non :
Chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non được hiểu là chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho con người. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa chăm sóc sức khỏe ban đầu
là những hoạt động chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp
và kỹ thuật thực hành, đưa đến tận cá nhân và từng gia đình trong cộng đồng,
được mọi người chấp nhận thông qua sự tham gia đầy đủ của họ, với giá thành
mà họ có thể chấp nhận được nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất có thể
được. Chăm sóc sức khỏe ban đầu nhấn mạnh đến những vấn đề sức khỏe chủ
yếu của cộng đồng, đến tăng cường sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh và phục
hồi sức khỏe.
Như vậy, từ những nhận định chung ở trên chúng ta có thể hiểu rằng:
chăm sóc sức khoẻ cho trẻ mầm non chủ yếu là làm công tác phát hiện và phòng
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho trẻ
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho trẻ
b) Quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non : là quá trình tác
động có mục đích, có kế hoạch của người quản lý tới các yếu tố có liên quan
đến hoạt động giáo dục trẻ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt các mục tiêu
giáo dục trẻ.
16
Nội dung quản lý hoạt động giáo dục trẻ có thể:
- Theo chức năng quản lý: lập kế hoạch hoạt động giáo dục trẻ; tổ chức
hoạt động giáo dục trẻ; chỉ đạo hoạt động giáo dục trẻ; kiểm tra, đánh giá hoạt
động giáo dục trẻ.
- Theo quan điểm hệ thống: quản lý yếu tố đầu vào (đội ngũ giáo viên,
CSVC, thiết bị dạy học, số lượng trẻ), quản lý quá trình giáo dục trẻ, quản lý kết
quả hoạt động giáo dục trẻ.
1.2.4. Trường mầm non tư thục trong hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Luật giáo dục 2005 (Điều 48.Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân), cơ sở GDMN NCL bao gồm cơ sở GDMN tư thục, co sở GDMN
dân lập.
-Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí họat động;
-Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm
kinh phí họat động bằng vốn ngòai ngân sách nhà nước.
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi lọai hình đều
được thành lập theo quy họach, kế họach của Nhà nước nhằm phát triển sự
nghiệp giáo dục (Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập hoặc cho phép
thành lập nhà trường được quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này).
1.2.5. Chất lượng hoạt động CS-GD trẻ MN
1.2.5.1. Chất lượng và chất lượng giáo dục :
*Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất).Điều này chỉ
hoạt động có tính đặc thù. Vì vậy, chất lượng giáo dục của mỗi bậc học, cấp học
cũng có những điểm đặc trưng, khác với các bậc học, cấp học khác.
1.2.5.2. Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MN
Chất lượng CS - GD trẻ MN thể hiện mức độ phát triển mà trẻ em mầm
18
non đạt được so với mục tiêu đề ra ở các độ tuổi và được biểu hiện thông qua
các mặt sau đây (Quy định về Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
mầm non, ban hành ngày 17/2/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Tiêu chuẩn 5:
kết quả CS - GD trẻ mầm non):
1) Trẻ có sự phát triển về thể chất theo mục tiêu của Chương trình Giáo
dục mầm non:
a) Chiều cao, cân nặng, phát triển bình thường theo độ tuổi;
b) Thực hiện được các vận động cơ bản, có khả năng phối hợp các giác
quan và vận động, có kỹ năng khéo léo phù hợp với độ tuổi;
c) Có khả năng làm được một số việc tự phục vụ trong ăn, ngủ, vệ sinh cá
nhân, có kỹ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe phù hợp với độ tuổi.
2) Trẻ có sự phát triển về nhận thức theo mục tiêu của Chương trình Giáo
dục mầm non:
a) Thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh;
b) Có sự nhạy cảm, có khả năng quan sát, ghi nhớ, so sánh, phán đoán,
phát hiện và giải quyết vấn đề phù hợp với độ tuổi;
c) Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, về con người, sự vật, hiện
tượng xung quanh và một số khái niệm phù hợp với độ tuổi.
3) Trẻ có sự phát triển về ngôn ngữ theo mục tiêu của Chương trình Giáo
dục mầm non:
a) Nghe và hiểu được các lời nói giao tiếp phù hợp với độ tuổi;
b) Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng lời nói hoặc cử chỉ phù hợp với
độ tuổi;
c) Biết sử dụng lời nói để giao tiếp; có một số kỹ năng ban đầu về đọc và
viết phù hợp với độ tuổi.