BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
NGUYỄN THANH THIỆN
BẢNG TÓM TẮT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ ĐƯỜNG PHỐ
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 50701
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Hà Nh
ật Thăng
PGS TS Lê Sơn
__________________________________________________________________
__________________________________________________________________
__________________________________________________________________
Phản biện 2
__________________________________________________________________
__________________________________________________________________
__________________________________________________________________
Phản biện 3
__________________________________________________________________
__________________________________________________________________
__________________________________________________________________
LUẬN ÁN TIẾN SỸ ĐƯỢC BẢO VỆ TẠI
HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN ÁN TIẾN SỸ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
Hà Nội, ngày tháng năm 2006
2
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO NGHIÊN CỨU
1.1. Về mặt lý luận
9 Vì ý thức hiện hữu và nhu cầu sống còn, TĐP cần được chăm sóc giáo dục (CSGD)
9 CSGD.TĐP hiệu quả khi CSGD cá biệt qua con đường tư vấn cá nhân
9 CSGD.TĐP hiệu quả sẽ giúp hạn chế mức gia tăng TĐP. 1.2. Về mặt thực tiển
9 Ý nghĩa nhân văn, nhân đạo của nghiên cứu nâng cao chất lượng CSGD.TĐP
thực hiện, nhưng hầu hết còn nặng về mặt chăm sóc hoặc quản lý hành chánh hơn
là nghĩ đến các khía cạnh giáo dục nhân cách và trang bị cho trẻ ứng xử trước
nhiều tình huống có nguy cơ, hạn chế về mặt lý luận và tổ chức sư phạm. Nếu hiểu
rõ tâm lý của TĐP, hoàn cảnh và môi trường các em sống, ho
ạt động, trên cơ sở đó
đề xuất những nội dung chương trình đổi mới, sử dụng phương pháp giáo dục cá
3
biệt, giáo dục qua con đường tư vấn cá nhân, thì sẽ đạt được hiệu quả cao hơn về
chất lượng CSGD.TĐP.
5. CÁC LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN
Quá trình giáo dục TĐP không thể theo một mô hình duy nhất cho mọi đối
tượng TĐP mà phải quán triệt các đặc thù sư phạm từ các đối tượng cá biệt.
Giáo dục TĐP cần đảm bảo tính chỉnh thể đồ
ng bộ của quá trình tác động của xã hội.
Tổ chức giáo dục TĐP chỉ có thể đạt hiệu quả khi phát huy được ý thức tự
giác, tự tổ chức tham gia tích cực của chính bản thân TĐP, và các quyền trẻ em
được tôn trọng ở mức độ cao nhất.
6. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra xã hội h
ọc: Điều tra 150 TĐP, với 10 câu hỏi đơn giản
Phỏng vấn: Phỏng vấn 20 giáo dục viên,CBQL.
Quan sát thực tế hoạt động CSGD.TĐP của các giáo dục viên.
Tổng kết kinh nghiệm
Hội thảo, trưng cầu ý kiến: Họp 20 chuyên gia góp ý về đề xuất giải pháp
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
. Nhóm thực nghiệm gồm 63 TĐP sống trong khu nhà trọ hẽm 285CMT8, ăn
Từ thập kỷ 80 trẻ em đường phố đã được thế giới nhắc đến rất nhiều. Vì số
lượng trẻ em lang thang ngày càng đông và trở thành một vấn đề xã hội.
Quỹ Trẻ em Thế giới đã được Liên Hiệp Quốc thành lập ngày 11 tháng 12 năm
1946, bày tỏ mối quan tâm của thế giới đối với trẻ em. Ngày 2 tháng 9 n
ăm 1990
Công ước về Quyền trẻ em, chính thức có hiệu lực đối với luật pháp quốc tế.
Ở Việt Nam, với truyền thống “kính già yêu trẻ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc
biệt quan tâm đến trẻ em, hoạt động vì trẻ em là một phần không nhỏ trong toàn bộ sự
nghiệp của Người. Việt Nam là nước đầu tiên của Châu Á và là nước thứ hai trên thế
giới phê chuẩn Công ước về Quyề
n trẻ em của Liên Hiệp Quốc. TĐP là đối tượng cần
được tạo điều kiện để được hưởng quyền trẻ em như những trẻ bình thường.
Hơn một thập niên trước đây trên thế giới có nhiều tác phẩm nghiên cứu viết về
trẻ đường phố, có thể đơn cử một số tác phẩm và trang Web chuyên mục trẻ đường
phố mới phát hành gần đây:
- Redd Barna, 1990, Summing up of our experiences in work with street children.
- World Health Organisation,1993, Chương trình trẻ đường phố và những xâm hại
chủ yếu. - Judith Ennew, 1996, Trẻ em đường phố và trẻ em lao động
- ChildhopeAsia Philippines, 1995 Learning from families on the edge, Case
studies on Families of Street Children in Southeast Asia, Manila, Philippines.
- Ngô kim Cúc, Mikel Flamm, Children of the dust , 1997,
- Tim Bond, Trẻ đường phố thành phố Hồ Chí Minh, 1994
- Trang Web: /> hay
/> hay
/>
Trong những năm gần đây cũng có nhiều tác phẩm nghiên cứu về TĐP nhưng là
những tác phẩm có cái nhìn nặng về các mặt xã hội học hơn là giáo dục học.
nhiều bổn phận mà thi
ếu quyền lợi, kể cả quyền sống còn.
+ Phân loại trẻ đường phố
Theo UNICEF, và các chương trình cứu trợ trẻ em quốc tế thường phân biệt trẻ
em trên đường phố và trẻ em của đường phố. Tim Bond hợp tác với Hội Bảo trợ
Trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh, TĐP làm 3 loại:
- Loại A: là những trẻ đã bỏ nhà ra đi bị bỏ
rơi, đang sống một mình hoặc với
một nhóm nhỏ trên đường phố.
+ A
1
: Chúng thường là những kẻ bới rác, hoặc bán ve chai, giấy vụn, đồ nhựa,
sắt thép vụn, hoặc xin ăn, móc túi
+ A
2
: Một số ít trong nhóm này có thể là thành viên của băng nhóm trộm cướp
có tổ chức chuyên nghiệp hơn, có thể chúng đã bị bắt cải tạo nhiều lần,
hoặc trốn trại trở về
- Loại B: TĐP sống với gia đình nhập cư lang thang trên đường phố.
- Loại C: Số trẻ em kiếm sống trên đường phố nhưng tối về nhà ngủ.
Tháng 12 năm 1997, Việ
t Nam tiến hành điều tra TĐP theo cách phân loại
riêng chỉ gồm hai loại: TĐP phải tự xoay sở để sống còn.TĐP kiếm sống trên
đường phố để giúp đỡ gia đình.
Theo cuộc điều tra mới nhất của UBDSGĐTEVN tháng 8.2003 tại Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh, TĐP được chia làm 3 loại
- Trẻ em lang thang không cùng đi với gia đình.
- Trẻ em lang thang cùng đi với gia đình
- Tr
ẻ em mồ côi, không nơi nương tựa và trẻ em không có mối quan hệ với gia đình
(kiếm sống để sinh tồn)
Trẻ trên đường phố
C
C
Earning to improve family
income (kiếm tiền để cải
thiên thu nhập gia đình)
Ghi Chú : Tương đương Gần tương đương
(nguồn: Learning from families on the edge. ChildhopeAsia philippines , Manila,
Philppines, 12.1995 )
TĐP có thể được phân loại đơn giản thành 2 nhóm: nhóm kiếm sống để sinh
tồn và nhóm kiếm tiền để cải thiện thu nhập gia đình
Tóm lại, trẻ em đường phố dù có đi kèm gia đình hay không, hiểu theo kiểu nào
cũng là những trẻ em cần được bảo vệ. Các em đã không được hưởng các quyền cơ
bản sống còn, bảo vệ, phát triển và tham gia.
1.2.2. Khái niệm về hoạt động chăm sóc giáo dục (CSGD) TĐP
1.2.2.1. Hoạt động chăm sóc và giáo dục TĐP
+ Hoạt động chăm sóc TĐP
Là những hoạ
t động giúp cho trẻ được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu,
chẳng những chỉ quan tâm đến sức khỏe, dinh dưỡng hay học hành mà điều quan
trọng hơn là bù đắp phần nào tình cảm, xóa bỏ mặc cảm tự ty, giúp các em tự tin,
khơi dậy tiềm năng, dần dần khẳng định phẩm giá của mình.
Hoạt động chăm sóc TĐP còn là một quá trình thu hút các lực lượng xã hội
các nhà hảo tâm, phát huy vai trò quả
n lý của các cơ quan chức năng nhằm bảo
đảm cho trẻ có chỗ ở, được ăn uống, chăm sóc .
Mô hình chọn nội dung bài học và dẫn dắt TĐP học tập đơn cử như sau:
- “Nếu em là hoa, em sẽ là hoa nào và tại sao vậy? Hoặc “Nếu em là hoa,
em sẽ là thành phần nào của hoa và tại sao vậy?
Mỗi loại TĐP phải có một cách chăm sóc giáo dục khác nhau
-Đối với TĐP không có liên lạc với gia đình
-Đối với trẻ vừa lao động kiếm sống bản thân, vừa giúp gia đình
-Đối với trẻ làm việc thời vụ
-Đối với nhóm TĐP không còn quan hệ gia đình
Mỗi nhóm một phương pháp . Riêng với nhóm sau cùng thường sử dụng
các phương pháp: Giáo dục trẻ qua trẻ: Trị liệu bằng vui chơi: Dạy kỹ năng sống,
1.3. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO
DỤC TRẺ ĐƯỜNG PHỐ
Biểu đồ 1 1. Những yếu tố tác động đến hoạt động chăm sóc giáo dục TĐP
(1) Yếu tố đặc điểm tâm sinh lý
(2) Yếu tố trưởng thành của cá nhân
(3) Yếu tố môi trường và tình huống có nguy cơ
(4) Yếu tố quan điểm chính quyền, lãnh đạo
địa phương
(5) Yếu tố chất lượng cán bộ, giáo dục viên đường phố.
(6) Những yếu tố khác
(3) Thường có biểu hiện tính thần kinh bất ổn, hoặc lo sợ, mặc cảm,
(4) Trẻ thường rơi vào hai thái cực, hoặc trầm cảm hoặc quá manh động
(5) Thái độ chai lỳ, sống đến đâu hay đến đó, rất khó khắc phục. 1.3.1.2. Năng lực bẩm sinh riêng của trẻ đường phố : cũng cần được quan tâm
phát triển như những trẻ bình thường 1.3.2. Yếu tố tự trưởng thành của hoạt động cá nhân
Mỗi trẻ ở một hoàn cảnh phát triển nhưng khâu trung tâm không phải là
môi trường mà là mối quan hệ của trẻ và môi trường với những yếu tố nhất định
của môi trường ấy
. A.N.Leonchiev tìm ra động cơ hoạt động trong cấu trúc hoạt
động cá nhân, nêu rõ tính mục đích của mỗi hoạt động. TĐP có ý chí vươn lên
mạnh mẽ khi tìm thấy thích thú qua sự chăm sóc giáo dục của giáo dục viên.
Một triết lý khác: Cá nhân luận,( individualism ). Triết lý cá nhân luận
cũng xem trọng yếu tố tự trưởng thành của đường phố.
1.3.3. Yếu tố môi trường và tình huống có nguy cơ
1.3.3.1. Yếu tố môi trường
Nông thôn, vùng sâu, vùng xa phải chịu nhiều thiệt thòi, người dân, trong
đó có TĐP, ra thành phố kiếm sống. Nhưng mỗi vùng có một sắc thái khác nhau. 1.3.3.2. Tình huống có nguy cơ cao đối với trẻ đường phố
Nguy cơ bị lạm dụng tình dục; nguy cơ bị lây truyền các bệnh xã hội; nguy
cơ bị lạm dụng sức lao động; nguy cơ trở thành trẻ hư; trẻ làm trái pháp luật
1.3.4. Yếu tố quan điểm chính quyền, lãnh đạo địa phương
Trong vấn đề giáo dục, cụ thể của TĐP, nhà quản lý xã hội là những nhân tố
giải quyết vấn đề TĐP. Tại hội Copenhagen-1995, Chính phủ Việt Nam đã bày tỏ rõ
+ Về tiêu chí định hướng giá trị: các em có hưng thú khi mơ ước về nghề nghiệp,
con người tương lai của mình ( hình tượng tương lai), và giữ tốt mối quan hệ xã
hội, gia đình (quan hệ xã hội).
+ Về tiêu chí khả năng thích ứng: TĐP cầ
n Kỹ năng sinh hoạt tập thể ( sinh hoạt
tập thể), kỹ năng đối phó tình huống có nguy cơ (đối phó tình huống).
Nâng cao chất lượng CSGD.TĐP là kết tập, hệ thống lại chương trình và nội
dung với những tiêu chí trên, củng cố và tập huấn GDV một phương pháp giáo dục
phù hợp với lý luận giáo dục cá biệt trong tình hình hiện nay.
Nội dung cải tiến và sáng tạo chỉ có thể truy
ền đạt có hiệu quả và khả thi khi
đội ngũ giáo dục viên đường phố được hình thành, GDV phải được đào tạo và
hoạt động có tổ chức, được lãnh đạo có hệ thống giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TĐP
2.1 TÌNH HÌNH CHUNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TĐP
2.1.1 Khái quát tình trạng chung của trẻ đường phố trên thế giới
+ Số lượng trẻ đường phố
10
Vào giữa thập niên 1980, có khoảng 30 triệu TĐP ở các nước đang phát
triển. Tuy vậy đây chỉ là con số suy đoán mang tính cách dân số học. Cũng vào
thời điểm đó UNICEF đưa ra con số 100 triệu TĐP đang có mặt trên thế giới.
Nhưng cũng là điều đáng bàn cãi vì con số UNICEF chính thức công bố hiện nay
vẫn 100 triệu, trong khi con số TĐP luôn gia tăng không có gì ngăn chặn được.
Trên thế giớ
i, số TĐP nhiều nhất được ghi nhận là Châu Mỹ La tinh 40 - 50
triệu, Brazil gần 30 triệu, Châu Á 20-30 triệu, Châu Phi 10 triệu.
Ở Việt Nam, TĐP được hiểu là trẻ em lang thang, một số ít TĐP sống “bụi
đời” thật sự “bất cần đời” không liên hệ gia đình, gần với tội phạm có giảm nhanh,
Tháng 12-1995 Bộ LĐTB&XH tổ chức hội nghị về trẻ lang thang, tổng kết các kết
quả điều tra chọn mẫu về trẻ lang thang ở 17 tỉnh thành trong nước.
Tháng 12-1997 theo báo cáo điều tra cả nước của Bộ LĐTBXH, có 15.951
trẻ em đường phố,Hà Nội có 1.015 em trong đó có 116 em xin ăn bụi đời, Tp.HCM
6.158 em trong đó có 2.561 em ăn ngủ tự do trên đường phố. Riêng các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long có 3.352 em. Trong thời kỳ bao cấp, số trẻ em lang thang vì
lý do xã hội (63,3%) nhưng hiện nay trẻ lang thang vì lý do kinh tế (66,5%).Số
lượng T
ĐP trên cả nước tăng cao năm 1999 (23.000 em) và có hướng giảm nhưng
rất chậm vào những năm 2000.Từ năm 2000 trở đi tổng số lượng TĐP giảm không
đáng kể 2001: 22.500 trẻ; 2002: 22000 trẻ; 2003: 21.500 trẻ
11
Tháng 8-2003 UBDSGĐTEVN đã tiến hành điều tra TĐP tại 2 thành phố
Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh. Số TĐP ở 2 thành phố này lên đến 10.063 em, trong
đó Hà Nội có 1556 em, TP.Hồ Chí Minh 8,507 em. Số trẻ này đến từ 57 tỉnh thành
trong cả nước và một số đến từ Campuchia. Được biết có 57,5% TĐP không đi
cùng gia đình; 42,5% TĐP đi cùng gia đình, 8,4% là trẻ mồ côi, không nơi nương
tựa, không liên hệ gia đình. Tp Hồ Chí Minh, hiện có 7 câu lạc bộ, nhà m
ở, 9 mái
ấm, tổ ấm, 32 cơ sở chăm sóc, giáo dục phục vụ cho các em khuyết tật, mô côi, cơ
nhỡ, lang thang có bảo trợ.
+ Tâm trạng TĐP qua các cuộc điều tra, khảo sát
Trong đợt điều tra năm 1992 của Tim Bond về TĐP tại TP Hồ Chí Minh,
Nhóm A1 (không có liên lạc gia đình), và nhóm C (làm việc trên đường phố, tối về
với gia đình), có tâm trạng gần giống nhau (buồn 20%,-25%); Chấp nhận(60%-
58,3%) ; thách thức 20%-16,7%) . Trong khi nhóm TĐ
P A2 ( xa gia đình, nhưng
tỷ lệ đáng kể trong tổng số TĐP tự khai báo (18,45%)
So sánh 2 đợt điều tra năm 1997 và năm 2003 còn cho thấy tổng số TĐP tăng
khá lớn 38,14%; tỷ lệ các em nữ trong tổng số tăng 17,83 %.
+ Trẻ đường phố tập trung trên đống rác Đông Thạnh-Hóc Môn
Hình ảnh xúc động nhất c
ủa TĐP Tp.HCM trong những năm gần đây (1999-
2000) là cảnh tượng hàng trăm trẻ tập trung lao động thâu đêm bới rác ở Đông
12
Thạnh Hóc Môn. Hầu hết các trẻ bới rác ở đây đều là người từ các tỉnh miền Tây
đến. Một số ở Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang + Trẻ đường phố đa số bán vé số
Một hiện tượng khác có từ khi Nhà nước cho phép thành phố và một số tỉnh
mở xổ số kiến thiết. Một lực lượng khá lớn TĐP sống bằng nghề bán vé số. Có đại
lý bán vé số tổ chức tìm các em từ nông thôn lên cho đi bán vé số. + Các giải pháp giải quyết vấn đề TĐP của Thành phố
Các nhà nuôi, nhà mở đều được kiểm tra giám sát chặt chẽ và có hướng thu
gọn, . Nhà nước trung ương cũng như địa phương đã ra nhiều chỉ thị, văn bản và
tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn, tập trung thảo luận và thực hiện các giải pháp
thích hợp nhằm hạn chế số lượng trẻ lang thang ki
ếm sống trên đường phố.
Trong các giải pháp lúc này, giải pháp hồi gia được tập trung lãnh đạo, TĐP
từ thành phố Hồ Chí Minh hồi gia được các địa phương tỉnh thành khác quản lý
1.347 em vào đầu năm 2004, đến tháng 3/.2004 là 2.012 em. Số trẻ tái lang thang
rất ít, dưới 1%,
13
2.2.3. Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, động viên học tập (nhà mở, mỏi ấm)
Chủ yếu các hoạt động là cung cấp nơi cư trú (mái ấm, tổ ấm, nhà nuôi), hoặc
giúp TĐP có nơi nấu ăn, chỗ ngủ, tắm rửa và vui chơi (nhà mở),
Hoạt động giáo dục TĐP trong mái ấm chủ yếu là (1). Tạo điều kiện cho các em
được học văn hoá, nâng cao kiến thứ
c (2). Hướng nghiệp và dạy nghề, giúp các em
có việc làm hợp với sực lực và khả năng (3). Tạo điều kiện cho các em sớm hoà
nhập cộng đồng và đoàn tụ gia đình. Hiện có 80% các nhà nhà nuôi, nhà mở mái
ấm quan tâm tổ chức hoạt động tham vấn, nhưng tổ chức còn là hình thức, cán bộ
chuyên trách chưa được đào tạo (76,5%), chưa chuyên tâm và không được theo dõi
thường xuyên (53,6%).
Đặc điểm giáo dục của mái
ấm theo mô hình này là không cho trẻ tiếp tục lang
thang trên đường phố, mà chỉ chuyên tâm học tập. Mái ấm hiểu theo kiểu diển tả
của một trẻ gái ở Mái ấm Bà Chiểu là “Các em có được một mái nhà chung sống
nhiều chị em và được mẹ che chỡ như con gà mẹ xè cánh ra cho tụi con đi vào đi
ra khỏi mưa nắng và kẻ dữ”.
2.2.4. Tổ chức sinh hoạt tập thể và tư vấn TĐ
P trên đường phố
Hình thức tổ chức là các buổi sinh hoạt ngoài trời định kỳ, nhân dịp lễ hội, có
thể chuẩn bị sắm vai cho các trẻ trong một tiểu phẩm đơn giản, hoặc tập hát những
bài hát riêng cho lứa tuổi, hát sinh hoạt tập thể, tập những trò chơi vui nhộn có ý
nghĩa giáo dục, tuyên truyền phòng chống các tệ nạn,
Khi đã làm quen được với TĐP, các giáo dục viên và các nhà tư vấ
n trẻ em sẽ
cùng thảo luận với các em để: Tìm cách an toàn đưa trẻ về với gia đình;- Tạo điều
kiện, nếu cần phải can thiệp cho trẻ được đi học; Giúp trẻ học nghề trẻ thích; Can
thiệp bảo vệ biện hộ cho trẻ khi trẻ phạm pháp; Giúp đỡ kịp thời khi trẻ có các
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CHĂM SÓC GIÁO DỤC TĐP VÀ TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM
3.1. Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục TĐP
3.1.1.
Định hướng xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ đường phố
Chương trình CSGD.TĐP đề nghị xây dựng 6 chuyên đề, gồm (1) khoa học
thường thức;(2) sinh hoạt tập thể,;(3) lý luận khi nhận thức ;(4)ước mơ tương
lai;(5)quanhệ xã hội;(6) đối phó tình huống có nguy cơ .
Hình thức CSGD các em đã cá biệt lại càng có tính cá biệt cao hơn. Đó là
con đường tư vấn cá nhân Có thể
, không đòi hỏi phải có trường lớp, nhà nuôi, nhà
mở, nhưng tối thiểu, phải có những nhà trọ giá rẻ. Tiền trả nhà trọ từng ngày, sẽ là
tiền tiết kiệm, không trở thành gánh nặng khi em thua lỗ, hoặc bị trấn lột bất ngờ!
Lãnh đạo từ các cơ quan chức năng, hội đoàn, phải vừa nhẹ nhàng quản lý
vừa sâu sát hoàn cảnh từng em từ đó có cơ sở gi
ải quyết hồi gia hay bảo vệ trẻ ở
nhà nuôi, dành cho trẻ thời gian đi lao động và đi học, từng bước chuyển hóa hồi
gia hoặc tìm công việc an toàn hơn.
Sự chăm sóc, hướng dẫn tận tình từng TĐP làm cho những trẻ muốn trở
thành TĐP không còn thấy tự do phóng túng, sự gia tăng số lượng TĐP sẽ bị kiềm
hãm, trước măt cuộc đời TĐP, không còn mông lung, mà đã
được quản lý một
cách êm dịu qua nghiệp vụ và nghệ thuật tư vấn tâm lý của GDV
3.1.2. Nguyên tắc xây dựng hệ thống giải pháp trong điều kiện mới
3.1.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa:
3.1.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi:
3.1.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ:
3.1.2.4. Nguyên tắc phát huy năng lực tự thân và tự quản
3.1.2.5.
tuổi”, rất thích hợp với các hoạt động văn thể mỹ dành cho tuổi trẻ, trong các buổi
sinh hoạt hội họp và ca hát, nhảy múa, phát triển kỹ năng xã hội như thực hành
lắng nghe, giao tiếp, giải quyết xung đột, nhận thức về công bằng xã hội, những kỹ
năng liên kết, kết bạn với người khác, ý nghĩa của đoàn kết, khoan dung, trung
thực, hoà bình, tôn trọng. Giáo dục giá trị sống có một số phương pháp có thể áp
dụng cho TĐP một cách hiệu quả:
- Phương pháp ngồi tư duy trong yên tĩnh lắng nghe
Trẻ được hiểu các giá trị qua những câu chuyện, qua những trò chơi, nhưng chủ
yếu là dành một khoảng thời gian ngắn từ 5 phút đến 15 phút cho trẻ ngồi một
mình thực tập tư duy, tự lắng nghe mình, soát xét mình là ai đã làm được gì và
nh
ững gì cần đạt, cần phát huy…
Giáo dục viên với tư cách là người trợ giúp chứ không phải là người thầy diễn
giải về ý nghiã của giá trị sống và khuyến khích trẻ tự kiểm về mình.
- Phương pháp diễn tả bằng hình vẽ, xây dựng các tiểu phẩm kịch:
Sinh động hơn cả là giáo dục dưới hình thức diễn tả qua hình vẽ, cho các em vẽ
tự do, hoặc dạy các em về kỹ thuật vẽ đại cương…hoặc diễn kịch, sắm vai. Trẻ tự
xây dựng những tiểu phẩm nói lên sự hiểu biết về ý nghĩa cuộc sống, trong phòng
tránh các nguy cơ và xây dựng
đường hướng phát triển cho chính mình. Mỗi năm
thành phố đều tổ chức hội thi vẽ cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn, hoặc những hội thi
chuyên cho TĐP. Nhà mở quận 6 với những tiểu phẩm chống thuốc lá do đội kịch
TĐP Lộc, Trang, Phương… được mời đi hội diễn ở Pháp năm 2004, là những kinh
nghiệm tốt cần phát huy.
- Phương pháp tổ chức những trò chơi sôi động thu hút
Tổ chức hội hè vui chơi tại công viên Đầm sen, Suối tiên, công viên nước, hội
thi bong bóng, hội hoạ, hội thơ Yêu Trẻ, đội banh TĐP…hấp dẫn và thường xuyên
sôi động là đội bóng đá, đội vũ cầu, đội Tekondo…riêng bóng đá là hình thức rèn
trời, công viên… Trong tình hình hiện nay, địa điểm lý tưởng là nhà trọ bình dân.
Mô hình nhà trọ bình dân, nhà tắm rửa, ngủ qua đêm, dùng làm nhà tạm, nhà an
toàn, không xây dựng mới. Nhà trọ bình dân là n
ơi đón tiếp, cung cấp dịch vụ
chăm sóc và giáo dục TĐP, được các TĐP yêu thích và quy tụ được đông đảo TĐP
tham gia tích cực và hồn nhiên .
• Tổ chức tư vấn, sinh hoạt và vui chơi cải thiện đời sống nhà trọ
Các em sẽ thấy tự nhiên và thân thiết khi mỗi tuần có một người anh đóng vai
một đoàn viên thanh niên hay một chị là hội viên phụ nữ, tình nguyện đến t
ổ chức
vui chơi với các em nói những lời hay lẽ phải và nêu những giương tốt động viên
và giáo dục các em qua những con người và hoàn cảnh cụ thể.
Các anh chị đó, sau khi được các em thừa nhận là người thân thiết của các em
sẽ đi sâu vào hoàn cảnh từng em, giúp em này đi học thêm ban đêm hoặc đến học
nghề ở trường nọ, giúp em kia liên lạc gia đình chuẩn bị hồi gia hoặc tiến hành thủ
tục làm con nuôi, đưa vào trại mồ côi,…
3.1.3.5. Xây dựng cơ chế quản lý, chỉ đạo của các cấp chính quyền
• Phân công chủ thể trách nhiệm phối hợp gia đình học đường và xã hội
Cần một chủ thể trách nhiệm phối hợp gia đình, học đường và xã hội. Trước
mắt đó là vai trò của giáo dục viên đường phố khi chưa có tư vấn viên học đường.
• Ảnh hưởng phong tục tập quán và truy
ền thống của cộng đồng
Ở thôn làng, muốn ra đi, không phải chỉ xin phép cha mẹ mà còn phải xin phép
người trưởng tộc và nhiều người khác, có nhiều khả năng bị ngăn cản khi bỏ học đi
làm ăn, vì ở làng rất nghèo nhưng coi trọng người có chữ nghĩa, thích có con đi
học không cho các em bỏ học làm TĐP.
• Tác động của chính sách đối với giải pháp giáo dục TĐP
Tính đế
n ngày 8/1/2004, trong số 10.028 trẻ em lang thang đường phố có mặt
- Có tính tiêu biểu và khái quát hoá chứ không quá chuyên biệt.
• Xác định mẫu được chọn
Trong thành phố hiện nay, tư vấn trẻ lang thang kiếm sống trên đường phố có
nhiều nhóm: Nhóm Thảo Đàn, Trung tâm Công tác Xã hội Thành đoàn, Trung tâm
Công tác Xã hội Trung ương Đoàn, Nhóm giáo dục viên của các nhà mở mái ấm
ánh Sáng, Hoa Hồng (Hội Phụ nữ Từ thiện), Nhóm Quán cơm Giác Ngộ, Nhị
Xuân 2,3 (TNXP), Nhóm Nhà thờ Đức Bà, VP tư vấn trẻ em (UBDSGDTE.TP),
Nhóm Dự án Tương lai (HBTTE.TP) Nhưng nhóm tư vấn đáp ứng các tiêu chí
trên chỉ có :
- Văn phòng Tư vấn Trẻ em UBDSGĐTE.TP
- Văn phòng Trẻ em Hội BTTE.TP
Số TĐP được chăm sóc giáo dục qua con đường tư vấn thực nghiệm lần này là
65 trẻ, được chọn theo cách may rũi trong danh sách các TĐP được VP tư vấn trẻ
em của Hội Bảo trợ trẻ em và UBDSTE.Tp HCM tư vấn.
3.2.3.2. Mẫu đối chứng cụ thể
• Tiêu chí
-
Phải là một mô hình đối chứng thực nghiệm tương đối ổn định.
- Tổ chức hoạt động có pháp nhân được thừa nhận.
- Có thâm niên trên 5 năm hoạt động trở lên.
- Được lãnh đạo đồng ý và tham gia lượng giá.
- Có tính đại diện cho các mô hình thực hiện các giải pháp khác.
18
• Chọn mẫu đối chứng
Mái ấm Mai Liên hiện có thường xuyên 25 TĐP, (tối thiểu 15 em, tối đa 35
em) sống với một giáo dục viên là một nữ tu. Là một cơ sở nuôi dạy TĐP ở sâu
3.2.5. Nội dung phân tích kết quả thực nghiệm
3.2.5.1 Phân tích kết quả đầu vào
- Đánh giá đầu vào nhóm thực nghiệm
- Đánh giá đầu vào nhóm đối chứng
- So sánh đầu vào giữa hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
3.2.5.2 Phân tích kết quả đầu ra
- Đánh giá đầu ra nhóm thực nghiệm
- Đánh giá đầu ra nhóm đối chứng
- So sánh đầu ra giữa hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
3.2.5.3 So sánh kết quả giáo dục và chăm sóc TĐP ở 02 nhóm TN & ĐC
- So sánh chênh lệch đầu vào và đầu ra nhóm thực nghiệm
19
- So sánh chênh lệch đầu vào và đầu ra nhóm đối chứng
- So sánh chênh lệch đầu vào và đầu ra giữa 2 nhóm TN và ĐC
(so sánh hiệu quả CSGD. TĐP giữa 2 nhóm TN & ĐC)
Bảng 3.3c: So sánh hiệu quả CSGD.TĐP giữa 02 nhóm TN& ĐC
Chỉ tiêu
Điểm
b/quân
Quy ra
%
Ghi chú
B/quân TN tăng
giữa đầu vào và đầu
ra
1,16 193,33%
điểm số
b/quân
%
chênh
lệch
giỏi
%
chênh
lệch
khá
%
chênh
lệch
t/bình
%
chênh
lệch
yếu
%
chênh
lệch
kém
Khoa học th/ thức 0,49 1,31 10,27 -8,70 0,2 -3,08
Kỹ năng sống tập thể 0,39 -0,65 3,17 -9,10 3,69 -3,11
Nhận thức lý luận 0,47 1,31 4,51 -0,62 -7,77 2,56
Hình tượng tương lai 0,23 -0,62 -0,3 -0,11 4,2 -3,19
Quan hệ GĐ,XH 1,17 1,58 10,43 -4,40 -1,9 -5,72
Đối phó t/ h nguy cơ 0,68 1,32 -4,38 3,24 2,98 0,07
Kết quả ch/ lệch
phải.Riêng câu hỏi về kỳ vọng hạn chế số lượng TĐP gia tăng khi thực hiện đúng
giải pháp này là 90% ở mức tối đa. Cho thấy tính hiện thực của dự án giảm TĐP
khi đem ra thực hiện.
Bảng 3.4: Tóm lượt ý kiến lượng giá của chuyên gia về giải pháp đề xuất
Sự cần thiết và khả thi
TT Nội dung câu hỏi
1 2 3 4
1 Sự cần thiết phải có một giải pháp mới 3% 5% 20% 73%
2 Tư vấn TĐP thường xuyên là giải pháp
mới, cần thiết và khả thi
0% 0% 5% 95%
3 Giải pháp mới này có thể góp phần hạn
chế gia tăng TĐP
2% 3% 5% 90%
4 Nội dung các chuyên đề trong chương
trình CSGD.TĐP TĐP là thiết thực và
khả thi
0% 5% 10% 85%
5 Vấn đề tập huấn TVV có thể thực hiện
được khi các phường được tăng thêm 01
định biên NVXH
0% 0% 5% 95%
Hệ số tin cậy : o,78
Ghi chú: 1: không đồng ý 2: không có ý kiến,
3: ủng hộ, cần thiết 4: rất ủng hộ, rất cần thiết, khả thi
(Xem thêm bảng hỏi chuyên gia thực nghiệm ở phụ lục 6)
3. Đề tài đã triển khai thực nghiệm (soạn thảo một chương trình giáo dục, tổ
chức hệ thống GDV cộng tác, chọn mẫu thực nghiệm…). Đánh giá kết quả thực
nghiệm cho thấy giả thuyết ban đầu là đúng đắn và đạt hiệu quả chăm sóc giáo dục
rõ r
ệt. TĐP thông qua con đường tư vấn đã nâng cao hiểu biết (kiến thức), kỹ năng,
và biến đổi về thái độ và hành vi. Con đường tư vấn có bài bản, lâu dài sẽ đóng
góp đáng kể vào việc thực hiện chủ trương giảm trẻ lang thang hiện nay ở thành
phố.Tuy nhiên do hạn chế khả năng của đề tài (tài chính, cộng tác viên, thời gian)
trước một vấn đề TĐP là vấn đề
phức tạp, đối tượng thiếu ổn định, có tính xã hội
rộng lớn, nên kết quả trên chỉ là bước đầu, ở một phạm vi nghiên cứu.
KHUYẾN NGHỊ
1. Cần phải có một chiến lược lâu dài về TĐP. Đất nước chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường, rất nhiều vấn đề xã hội trở thành gay cấn mà trước đây chúng ta
chưa nìn thấy (như ma túy, kẹt xe, ô nhiễm môi trường, trẻ phạm pháp…) TĐP đã
có từ lâu, nhưng đến nay trở thành vấn đề xã hội có tầm mức mới. Và là vấn
đề còn
lâu dài. Chừng nào cái nghèo đói còn phân cực xã hội gay gắt và còn có hè phố thì
còn TĐP. Cho nên cần có chiến lược lâu dài chung cả nước và từng địa phương.
2. Các tổ chức quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội nên khuyến khích, hỗ trợ các
tổ chức tư vấn TĐP hiện nay đã hình thành, mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt
động.
22
3. Lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động tư vấn là
các GDV. Hiện nay chưa có chính sách, phần đông là cán bộ phường xã làm kiêm
nhiệm. Cần có sự đào tạo bồi dưỡng về công tác tư vấn, có tính chuyên nghiệp.