1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ OANH
DẠY HỌC THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN NHÀ BÈ (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 7/ 2014
NGHỆ AN - 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ OANH
DẠY HỌC THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN NHÀ BÈ (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 7/ 2014
NGHỆ AN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ OANH
DẠY HỌC THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN NHÀ BÈ (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt
MÃ SỐ: 60.14.01.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TUẤN VŨ
Chương 2 23
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP TRI THỨC, TÌNH CẢM, KỸ NĂNG
TRONG DẠY HỌC THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 23
2.1. Các tri thức cần tích hợp và phương pháp tích hợp 23
2.1.1. Đặc sắc của các kiểu văn bản của thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 23
2.1.2. Ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 30
2.2.1. Tình yêu thiên nhiên, chủ nghĩa yêu nước trong thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh 38
2.2.2.Tinh thần vượt qua mọi thử thách trong thơ văn Hồ Chí Minh 48
2.2.3. Tinh thần lạc quan cách mạng trong thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 53
2.3. Các kỹ năng cần tích hợp và phương pháp tích hợp 55
2.3.1. Xử lý tình huống khó khăn 55
2.3.2. Kỹ năng cảm thụ, phân tích thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh theo đặc
trưng thể loại 58
2.3.3. Kỹ năng đối chiếu phong cách thơ văn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với
phong cách thơ văn của một số tác giả khác 60
Chương 3 65
KHẢO NGHIỆM 65
3.1. Mục đích khảo nghiệm 65
3.2. Nội dung khảo nghiệm 66
3.3. Đối tượng và phương pháp khảo nghiệm 68
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ OANH
DẠY HỌC THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN NHÀ BÈ (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 7/ 2014
NGHỆ AN - 2013
HUYỆN NHÀ BÈ (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt
MÃ SỐ: 60.14.01.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TUẤN VŨ
NGHỆ AN - 7/2014
NGHỆ AN - 2013
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở hiện nay, phần thơ
văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một trọng tâm (được đưa vào trong
chương trình ở các khối 7, 8). Đó là những áng văn chương thuộc nhiều thể
loại, sử dụng nhiều loại văn tự với trình độ nghệ thuật cao, bộc lộ những tư
tưởng tình cảm cao quý, trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Thơ
văn chỉ là một bộ phận nhỏ trong sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh. Thế nhưng, thơ văn chính là nơi kết tinh và soi tỏ chân dung của
Người - con người của dân tộc và nhân loại tiến bộ. Thơ văn của Người
không ngừng mời gọi, hấp dẫn các thế hệ độc giả. E.Antôniô, một nhà báo
Mỹ nhận định: “Không những ở nước các bạn, mà còn ở khắp nơi trên thế
giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tượng trưng cho sự kết hợp kỳ diệu thơ ca
và lòng dũng cảm, sự tận tuỵ đối với lý tưởng cách mạng và nguyện vọng
dân tộc, sự kết hợp giữa tính nhân đạo và tinh thần cao cả”. Hoàng Như
Mai cũng đã từng nhận định: “Điều cần khẳng định, là trong thơ Bác có
những bài rất hay, vĩnh viễn đứng ở đỉnh cao của thơ ca dân tộc và thơ ca
nhân loại”. Những văn bản văn chương có giá trị lớn về nhiều phương diện
như vậy đòi hỏi phải tiếp nhận theo quan điểm tích hợp.
1.2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI về: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
Thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh giữ một vị trí quan trọng
văn học dân tộc nói chung và văn học trong nhà trường nói riêng. Vấn đề
nghiên cứu thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được nhiều nhà nghiên
cứu phê bình văn học, một số giáo viên Ngữ văn, những người yêu thơ văn
của Người nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Nguyễn Đình Thi nhận
định: “Văn Hồ Chủ tịch giản dị như tâm hồn của nhân dân. Cái lớn lao của
một nhà tư tưởng là tìm đường lối giản dị, soi sáng cả muôn ngàn sự việc
3
rắc rối, hỗn độn của đời sống hằng ngày. Cuộc chiến đấu gian nan và phức
tạp của chúng ta đã được Hồ Chí Minh soi sáng theo một đường lối minh
bạch, ai cũng hiểu và tin”; Phần 3: Đi tìm vẻ đẹp một số bài thơ Hồ Chí
Minh trong sách giáo khoa có một số bài của các tác giả Lê Trí Viễn - Xuân
Diệu trong “Văn học và tuổi trẻ”, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1996, tập
mười ba, tập mười bốn, bài Ngục trung nhật ký; Lê Trí Viễn - Vũ Minh
Tâm - Lương Duy Thứ, bài Nạn hữu xuy địch; Hà Minh Đức - Vũ Quần
Chương, bài Vọng nguyệt; Hà Minh Đức, bài Tẩu lộ; Hoài Thanh - Nguyễn
Đăng Mạnh, Tảo giải; Lê Trí Viễn- Hoàng Trung Thông - Trần Đình Sử,
bài Mộ; Vũ Nho, bài Thuỵ bất trước; Trần Đình Sử, bài Văn thung Mễ
Thanh; Lưu Trọng Lư - Nguyễn Đăng Mạnh, bài Vãn cảnh; Đặng Thai
Mai, bài Khán thiên gia thi hữu cảm; Đoàn Đức Phương, bài Tân xuất
ngục, học đăng sơn; Chế Lan Viên, bài Tức cảnh Pác Bó; Nguyễn Xuân
Nam, bài Cảnh khuya, Vũ Minh Tâm - Lương Duy Thứ, bài Vô đề, Nguyễn
Đăng Mạnh, bài Báo tiệp; Mã Giang Lân, bài Nguyên tiêu.
Nguyễn Huy Quát, Đọc hiểu thơ trữ tình trong mối quan hệ với
cảm hứng của tác giả, ở bài viết này, tác giả đã xác minh hoàn cảnh ra đời
một số bài thơ của Bác, trong đó có bài Cảnh khuya. Tác giả khẳng định
“Hoàn cảnh cảm hứng là yếu tố có liên quan mật thiết với nội dung tư
tưởng và nghệ thuật của bài thơ, đọc hiểu, phân tích, bình giá thơ trữ tình
trong nhà trường cần phải hiểu rõ điều này để khỏi làm mất đi giá trị đặc
sắc của nó” [65, 232].
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp thuộc hai
nhóm: phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực
tiễn. Cụ thể, nhóm thứ nhất gồm có: phân tích và tổng hợp tài liệu bàn về
vấn đề, phân loại tài liệu, mô hình hóa Nhóm thứ hai gồm có: điều tra,
quan sát, thực nghiệm, thống kê
5
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn có
ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của dạy học thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh ở trung học cơ sở theo quan điểm tích hợp
Chương 2: Nội dung và phương pháp tích hợp tri thức, tình cảm, kỹ
năng trong dạy học thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Chương 3: Khảo nghiệm
6
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC -
HỒ CHÍ MINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
1.1. Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở trung học cơ sở
hiện nay
1.1.1. Tích hợp
Theo Từ điển tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng.
Tích hợp có ý nghĩa là sự thống nhất, sự hoà hợp, sự kết hợp” [77, 813].
Theo Từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh
vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [22, 215].
Trong tiếng Anh, “integration” (tích hợp) một từ gốc Latin. Integer có
giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục, năm
2006: “Quan điểm tích hợp chính là nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa một
bên là khối lượng tri thức của nhân loại ngày một tăng lên với tốc độ chóng
mặt, nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại với một bên là thời gian
học tập văn hoá trên lớp ngày càng eo hẹp do phải đáp ứng nhiều yêu cầu
và đòi hỏi khác nhau. Chỉ có con đường tích hợp các tri thức gần nhau
trong một lĩnh vực nào đó thì mới giải quyết được mâu thuẫn đó. Học một
vấn đề nhưng qua đó cung cấp, tìm hiểu, khám phá, vận dụng nhiều tri thức
liên quan để giải quyết. Và do đó kết quả thu được cũng mang tính tổng
hợp cao, đa dạng và phong phú”. Quan điểm tích hợp chính là nhằm đáp
ứng yêu cầu “Rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương
pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng
tốt nhất bộ óc của mình ” [75, 132].
1.1.2.1. Nguyên tắc tích hợp thể hiện trong quá trình tổ chức dạy
8
học và biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn
Việc dạy học theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn ở
trung học cơ sở được thực hiện theo phương hướng tích hợp được quán
triệt xuyên suốt từ mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, cấu trúc
chương trình đến việc đổi mới các phương pháp, hình thức dạy học và
các phân môn.
Theo tinh thần này, người giáo viên khi dạy một văn bản văn học
cần hướng dẫn để học sinh khai thác tối đa các yếu tố ngôn ngữ, thấy được
ý nghĩa, vai trò và tác dụng của chúng trong việc biểu hiện nội dung của tác
phẩm văn học, tránh việc xa rời văn bản, chỉ phân tích những nội dung xã
hội đơn thuần. Tất nhiên để tiếp nhận tốt các tác phẩm văn học thì cần phải
huy động nhiều tri thức và kỹ năng văn học khác chứ không phải chỉ mình
các yếu tố ngôn ngữ. Đồng thời ở những giờ dạy học Văn, cùng với việc
chỉ ra vẻ đẹp cụ thể của tác phẩm được học, giáo viên cần hết sức chú ý
giúp các em biết cách thức phân tích, bình giá một tác phẩm văn học theo
là tiền đề giúp cho chúng ta dễ dàng đi vào phân tích và tìm hiểu
những đặc điểm riêng của tác phẩm. Các yếu tố về tác giả, các tác giả
cùng thời đại cũng góp phần giúp chúng ta trong đọc hiểu tác phẩm.
Đồng thời do đặc trưng sáng tác chúng ta cũng không loại trừ việc
phân tích ngôn từ nghệ thuật và phong cách sáng tác. Nó có quan hệ
chặt chẽ với với phân môn Làm văn và Tiếng Việt. Việc phân tích đánh
giá chính là sự vận dụng các thao tác trong tiếng Việt và làm văn để
làm bài. Điều đó cũng được thể hiện rất rõ trong chương trình học của
học sinh. Sách Ngữ văn cải cách có đầy đủ cả ba phân môn Giảng văn,
Tiếng Việt, Làm văn mà trước kia nó được tách rời ra ba phân môn
riêng biệt. Giáo viên phải nắm vững những vấn đề này và hướng dẫn
cho học sinh một cách cụ thể. Điều này thể hiện rất rõ tính tích hợp
của môn Ngữ văn và phương pháp dạy mới.
1.1.2.3. Đa dạng về phương pháp
10
Trong tiến trình dạy học, để bảo đảm tính khoa học và nghệ thuật cho
giờ học Ngữ văn có nhiều phương pháp được vận dụng. Mỗi phương pháp
giảng dạy có những ưu điểm và hạn chế riêng. Quan trọng là chúng ta phải
biết vận dụng phương pháp một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, nhằm
phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập của
tất cả đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yêú. Tất cả các phương pháp
dạy học đều có thể được vận dụng trong giờ học Ngữ văn nhằm đạt được
những mục tiêu của giờ học, phù hợp với quy luật hoạt động chủ thể của
học sinh.
Phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại: là phương pháp trong đó
giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có tranh luận với
nhau và với cả giáo viên, nhờ đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng
cách tăng cường hình thức hỏi - đáp, đàm thoại giữa giáo viên và học sinh,
rèn luyện cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước
một hình thức đặc thù của nhận thức văn học. Âm vang của lời đọc sẽ kích
thích quá trình tri giác, tuởng tượng và tái hiện hình ảnh. Bằng sức mạnh
của đọc diễn cảm, người giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào thế giới của tác
phẩm một cách dễ dàng phù hợp với qui luật cảm thụ văn học.
Đọc diễn cảm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc dạy văn học,
tuy nhiên hiện nay trong dạy học văn người giáo viên vẫn chưa phát huy
hết hiệu quả của nó.
Phương pháp gợi tìm: nòng cốt của phương pháp này là việc sử
dụng câu hỏi để gợi cho học sinh tìm tòi suy nghĩ nhằm đạt được những
mục tiêu của bài học. Đây là một phương pháp thường xuyên được vận
dụng không chỉ với riêng môn học Ngữ văn. Căn cứ vào tính chất hoạt
động nhận thức có thể có các loại vấn đáp như: Vấn đáp tái hiện (dựa vào
12
trí nhớ, không cần suy luận được sử dụng khi cần tái hiện, củng cố hoặc
thiết lập mối quan hệ), Vấn đáp giải thích minh họa (nhằm làm sáng tỏ
một vấn đề nào đó có dẫn chứng minh họa), Vấn đáp tìm tòi (phát hiện,
đàm thoại để tìm lời đáp cho những câu hỏi). Trong khi tìm hiểu văn bản,
có những văn bản không phải đọc lên là học sinh có thể hiểu thấu đáo các
lớp ý nghĩa của nó [6, 84].
Phương pháp này được khởi nguyên từ phương pháp “nêu vấn
đề” trong lý luận dạy học đại cương (Ơrixtic). Phương pháp gợi tìm
chủ yếu cho người học đi tìm để tự chiếm lĩnh lấy tri thức của mình.
Hoạt động nhận thức của học sinh thay đổi theo những chiều hướng
khác nhau trên văn bản của tác phẩm nghệ thuật. Ở đây, vai trò chủ
thể học sinh được phát huy, việc phân tích tác phẩm sâu sắc hơn đòi
hỏi người đọc cũng phải có một vốn tri thức các khoa học cơ sở như:
lý luận dạy học, lịch sử văn học… Phương pháp này giúp cho việc
cảm thụ nghệ thuật ban đầu ở học sinh được khơi sâu thêm bởi những
nỗ lực trí tuệ của các em được thúc đẩy. Học sinh phải suy luận, phân
tích rồi biểu hiện ra bằng ngôn ngữ nói hoặc viết. Chủ yếu hoạt động
Văn. Nếu nhà văn phản ánh cuộc sống trong tác phẩm, thì người đọc đi
theo hướng ngược lại từ những chi tiết nghệ thuật của tác phẩm đến với
cuộc sống. Tái hiện được hiểu rộng hơn. Nó không chỉ là sự hình dung,
tưởng tượng, mà còn bao gồm cả cách hình dung, tưởng tượng nữa.
Chính vì thế mà việc tìm hiểu tiểu sử tác giả, việc tìm hiểu hoàn cảnh ra
đời của tác phẩm, tìm ra, nhắc lại những chi tiết nghệ thuật quan trọng
chính là nhằm tái hiện lại cuộc sống để tìm ra quy luật cảm nhận và
phản ánh của tác giả. Với những tư liệu phong phú, với các câu hỏi
chính xác và có tính thẩm mỹ cao, giáo viên và học sinh có thể tái hiện
gần như tất cả những gì tác động đến cảm xúc và suy nghĩ của nhà văn
[8, 78].
Phương pháp tái tạo: thực chất đây là phương pháp nhớ một cách
14
sáng tạo. Phương pháp này hướng hoạt động của học sinh vào những tri
thức sẵn có trong ngôn ngữ hoặc bài giảng của giáo viên, sách giáo khoa…
đã được chọn lọc. Học sinh không hoàn toàn ghi nhớ máy móc mà chiếm
lĩnh tri thức một cách có ý thức. Tức là tăng cường hoạt động của tư duy để
thuộc nhớ bài đạt kết quả tối đa. Trong phương pháp này giáo viên cũng
nêu vấn đề theo nhiều hướng rồi trò tự giải quyết. Học sinh cũng học cách
tháo gỡ rồi vận dụng vào việc tiếp thu những tri thức mới, chọn lựa tri thức
cũ một cách sáng tạo.
Dạy học nêu vấn đề: là một kiểu dạy học gắn liền với việc tích
cực hóa hoạt động của học sinh. Dạy học nêu vấn đề là một kiểu dạy
học hiện đại, đáp ứng được nhiệm vụ dạy học trong thời kỳ bùng nổ
thông tin và phát triển kinh tế tri thức, mà còn dạy cách làm ra tri
thức, không chỉ dạy học sinh tiếp nhận ghi nhớ thông tin, mà còn dạy
học sinh chủ động lựa chọn thông tin, qua xử lý thông tin hiệu quả [8,
83]. Đây là phương hướng dạy học trong đó học sinh tham gia một
cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề mà người giáo
viên đặt ra. Yếu tố quan trọng nhất của dạy học nêu vấn đề không
cùng chia sẻ những suy nghĩ, kinh nghiệm, hiểu biết bản thân về bài
học qua trao đổi, thảo luận. Thảo luận là một hình thức dạy học trong
đó học sinh tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Hình thức học
tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của học sinh
vào quá trình học tập. Trong đó giáo viên sử dụng các nhóm nhỏ và
yêu cầu học sinh cùng nhau làm việc để mở rộng tối đa việc học của
bản thân học sinh và tất cả học sinh trong nhóm.
Thảo luận nhóm thường được tổ chức theo hình thức: nhóm 2 học
sinh, 4- 5 học sinh. Hình thức thảo luận nhóm tạo điều kiện cho tất cả học
sinh có cơ hội tham gia vào hoạt động học tập của lớp, phát huy tính chủ
động sáng tạo, năng lực tư duy của học sinh. Mặt khác thảo luận nhóm còn
16
rèn luyện tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Hình thức dạy
học thảo luận nhóm thường mất nhiều thời gian đòi hỏi người giáo viên có
năng lực quản lý tổ chức nhóm. Đồng thời đòi hỏi người giáo viên mất
nhiều thời gian chuẩn bị giáo án, chuẩn bị những vấn đề, những câu hỏi
thảo luận phù hợp.
Phương pháp giảng bình: vốn là một phương pháp dạy học truyền
thống, nhưng nó không hề lỗi thời so với xu thế dạy học hiện nay đó là
phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm
trung tâm, giáo viên là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn giúp học
sinh từng bước chiếm lĩnh tác phẩm. Trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản,
nếu thiếu đi những lời giảng sâu sắc, những lời bình đắt giá thì bài giảng
liệu có thành công không?
Giảng bình là một việc làm khá quen thuộc với giáo viên dạy văn,
đã trở thành một yêu cầu trong giờ đọc - hiểu văn bản. Người giáo
viên biết bình và bình giỏi thì sẽ gây được niềm đam mê, sự hứng thú
cho học sinh trong giờ học, không có một giờ giảng văn nào thành
công mà lại thiếu được lời bình của giáo viên. Giảng bình có ưu thế
đặc biệt trong giờ đọc - hiểu, nó là phương pháp đặc thù của cảm nhận
dạy học văn.
Ngày nay với yêu cầu phát huy được tính tích cực chủ động và
sáng tạo của học sinh thì ngoài việc phối hợp một cách hợp lý các
phương pháp giảng dạy, phương pháp dạy đọc - hiểu cũng không
loại trừ việc kết hợp các hoạt động tích cực của học sinh trên lớp
học. Học sinh phải tích cực đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu và tích
cực thảo luận, phát biểu ý kiến tranh luận với các bạn. Giáo viên
phải phát huy tối đa những hoạt động của học sinh thì bài dạy mới
thành công.
18
1.2. Chương trình dạy học thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh ở trường THCS hiện nay
1.2.1 Thống kê số lượng văn bản thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh trong chương trình môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở
TT Tên văn bản Thể loại
Văn tự trong
nguyên tác
Dạy
học
ở
lớp
Hình thức
dạy học
Số
tiết
(Đọc hiểu,
đọc thêm)
1 Cảnh khuya, Rằm tháng
giêng
Thơ Chữ Hán 7 Đọc hiểu 1
19
Những tác phẩm này rất có giá trị trong việc cung cấp những tri thức, tình
cảm và kỹ năng cho các em học sinh góp phần giáo dục thế hệ trẻ hôm nay
và mai sau.
1.3. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học thơ văn Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh ở các trường trung học cơ sở huyện Nhà Bè
hiện nay
1.3.1 Thuận lợi
Huyện Nhà Bè có 6 trường trung học cơ sở. Cơ sở vật chất khang
trang, thiết bị cơ bản đủ cho việc dạy và học, đội ngũ giáo viên Ngữ văn đủ
theo yêu cầu. Đa số giáo viên yêu nghề nhiệt tình năng nổ trong việc tích
cực đổi mới phương pháp dạy học, tay nghề đạt khá giỏi.
Chất lượng bộ môn Ngữ văn năm học 2013 – 2014: học sinh đạt
điểm trung bình môn loại giỏi: 35,1%, học sinh, loại khá: 51%, loại trung
bình: 13,3%, loại yếu kém: 0,6%. Đa số học sinh ngoan hiền tích cực học
tập.
Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để giáo viên dạy tốt thơ
văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Hơn nữa, thơ văn của Người là một
bộ phận quan trọng trong văn học dân tộc. Đó là những tác phẩm có
giá trị. Với ngòi bút tài ba, với nội dung yêu nước và nhân đạo sâu
sắc, thơ văn của Bác giúp cho học sinh cảm nhận lòng yêu nước, tình
yêu thiên nhiên, yêu con người, căm thù giặc, tinh thần lạc quan, ý chí
nghị lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Đó là nguồn cảm hứng vô
tận mà người giáo viên văn có thể khai thác để bồi dưỡng tâm hồn thế
hệ trẻ trong thời đại ngày nay.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước lớn, một lãnh tụ
cách mạng vĩ đại, người đã có công lao lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập
tự do, hạnh phúc. Lòng yêu mến Người sẽ góp phần làm cho người dạy,
người học thêm yêu tác phẩm của Người.
Những tác phẩm văn, thơ của Bác đưa vào chương trình giảng dạy
21
trường bao nhiêu chăng nữa cũng chỉ là rất hạn chế, Thế thì cái gì là quan
trọng? Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ,
phương pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải
vận dụng tốt nhất bộ óc của mình ”. Theo tác giả trọng trách của người
giáo viên là dạy người. Với người giáo viên dạy môn Ngữ văn, trọng trách
đó càng được đặt ra cao hơn, nặng nề hơn. Lý do là người giáo viên dạy
môn Ngữ văn có trong tay vũ khí văn học mà văn học chính là khoa học về
con người, một khoa học có khả năng kỳ diệu trong việc giáo dục con
người.
Với đặc trưng riêng, môn Ngữ văn bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu
tiếng Việt, yêu văn hoá, văn học của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, tự hào
dân tộc, tinh thần nhân văn, lý tưởng Xã hội chủ nghĩa, đạo đức cao thượng,
thị hiếu thẩm mỹ tốt đẹp, đa dạng, hình thành cá tính lành mạnh, nhân cách
toàn diện của một người lao động mới trong xã hội mới, thời đại mới.
Thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được biên soạn trong
chương trình sách giáo khoa nói chung, đặc biệt là cấp trung học cơ sở nói
riêng được dạy theo quan điểm tích hợp là rất cần thiết và khả thi. Bởi lẽ,
Hồ Chí Minh là một tác giả lớn. Thơ văn của Người từng được dạy nhiều
trong nhà trường phổ thông và đại học ở nước ta. Các tác phẩm của Người
đã có công đóng góp to lớn vào quá trình đào tạo lớp lớp thế hệ trẻ Việt
Nam. Việc giảng dạy và học tập thơ văn của Người đã đang và chắc chắn
rằng sẽ còn được tiếp tục nghiên cứu và tìm thấy ở đấy những vẻ đẹp
phong phú.
Đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục
tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp cơ bản trở thành
nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định
thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và
chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Việc này cần được