BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC
KHẢO SÁT
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC
KHẢO SÁT
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Văn Điều
-
Cha, Mẹ, Chồng, con gái và tất cả anh chị em trong gia đình, họ hàng
- Tất cả bạn bè, đồng nghiệp
Đã tạo điều kiện, giảng dạy, hướng dẫn và động viên tôi trong thời gian học tập
và nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.
LỜI CAM ĐOAN
Người nghiên cứu xin cam đoan rằng luận văn này do chính bản thân người
nghiên cứu thực hiện, số liệu trong luận văn là có thực do người nghiên cứu khảo sát
tại 4 trường THCS trên địa bàn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Nếu vi
phạm lời cam đoan trên, người nghiên cứu xin chịu mọi trách nhiệm theo quy định
của phòng Sau Đại học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ .........................................................................................6
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................6
1.1.1.Tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài .........................................................................6
1.1.2.Tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam............................................................................9
1.2.NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Nhu cầu……………. .........................................................................................14
1.2.2. Tham vấn. ..........................................................................................................19
1.2.3. Nhu cầu tham vấn tâm lý ...................................................................................28
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TVTL: tham vấn tâm lý
THCS: trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
GV: giáo viên
HS: học sinh
N: mẫu nghiên cứu
TB: trung bình
ĐLTC: Độ lệch tiêu chuẩn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đánh giá của giáo viên về những khó khăn học sinh THCS huyện Bình Chánh
thường gặp trong học tập…………………………………………….................51
Bảng 2.2: Đánh giá của giáo viên về những khó khăn học sinh THCS huyện Bình Chánh
thường gặp khi giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn…………………..................54
Bảng 2.3: Đánh giá của giáo viên về những biểu hiện tâm trạng của học sinh THCS huyện
Bình Chánh (đặc biệt là các em nữ) trong giai đoạn dậy thì…............................59
Bảng 2.4: Đánh giá của giáo viên về nhu cầu được tham vấn tâm lý của học sinh THCS
huyện
Bình
Chánh……………………………………………………………......62
Bảng 2.5: Đánh giá của học sinh THCS huyện Bình Chánh về những khó khăn các em
thường gặp trong học tập………………………………………………………...65
Bảng 2.6: Ý kiến của học sinh THCS huyện Bình Chánh về những khó khăn khi các em
giao
Bình
Chánh……………………………………………………………......91
Bảng 3.1: Đánh giá của giáo viên về những giải pháp nhà trường và các tổ chức giáo dục
cần thực hiện để tham vấn học sinh hiệu quả……………………………………97
Bảng 3.2: Đánh giá của học sinh THCS huyện Bình Chánh về giải pháp để tham vấn giải
quyết hiệu quả khó khăn của các em…….……………………………………..103
Bảng 3.3: Đánh giá của phụ huynh về những giải pháp nhà trường và các tổ chức giáo dục
cần thực hiện để tham vấn học sinh hiệu quả…………………….....................110
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Gần đây, công tác tham vấn đã trở thành một loại hình hoạt động phổ biến
trong xã hội và từng bước khẳng định vai trò quan trọng của mình trong đời sống
tinh thần của nhiều người.
Bộ Giáo dục – Đào tạo cũng khẳng định tham vấn tâm lý đã “đáp ứng được
một phần nhu cầu bức xúc về giải đáp những vướng mắc trong tâm lý, tình cảm của
học sinh, sinh viên” trong văn bản số 9971/BGD & ĐT – HSSV về việc “triển khai
công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên” ban hành ngày 28/10/2005 và yêu cầu triển
khai rộng rãi hơn mạng lưới tham vấn học đường nhằm giúp học sinh, sinh viên
“chọn được cách xử lý đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp
học sinh, sinh viên thực hiện được nguyện vọng của mình”. [3]
Đối tượng học sinh cần được hướng dẫn, cần được giúp đỡ, cần được tham
vấn tâm lý nhiều nhất có lẽ là học sinh Trung học cơ sở (THCS) - lứa tuổi chuyển
về khi thiết lập mối quan hệ với thầy cô thậm chí không biết làm cách nào để hoà
nhập vào bạn bè trong trường và khi bản thân gặp phải vấn đề không mong đợi, các
em chỉ biết chán nản, buông xuôi và tệ hơn nữa là tìm đến chất kích thích như rượu,
bia, ma tuý và cả cái chết.
Hiểu và quan tâm đến những khó khăn tâm lý đó của học sinh THCS, nhiều
tác giả đã tiến hành khảo sát khó khăn tâm lý cũng như nhu cầu tham vấn tâm lý
(TVTL) của học sinh THCS. Kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học cho rằng nhu
cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS là rất cao. Cụ thể, tác giả Võ Thị Tích
thông qua đề tài “Tìm hiểu thực trạng và các giải pháp định hướng về nhu cầu tư
vấn học đường ở học sinh các trường THCS trong nội thành thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay” [51] đã cho thấy có 81.5% học sinh mong muốn có chuyên viên
tham vấn ngay tại trường mình. Trong bài báo cáo tại Hội thảo khoa học quốc gia;
“Tư vấn tâm lý – giáo dục – Lý luận – thực tiễn và định hướng phát triển” (2006),
tác giả Ngô Nguyễn Thiên Trang [53] cũng nhận định nhu cầu tham vấn tâm lý của
học sinh THCS là rất cao và việc đáp ứng nhu cầu này là “cần thiết và vô cùng quan
trọng”. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này được thực hiện ở học sinh THCS
3
các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh, còn học sinh THCS các huyện ngoại
thành thành phố Hồ Chí Minh thì sao?
Bình Chánh là một huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, có tốc độ
đô thị hoá nhanh và có số lượng dân nhập cư cao. Học sinh thường xuyên đối mặt
với vấn nạn chuyển trường, bỏ học, cha mẹ thiếu quan tâm đến con cái, cha mẹ thất
nghiệp, gia đình xào xáo, phương tiện đi học và dụng cụ học tập hạn chế… Người
nghiên cứu nghĩ rằng các em gặp nhiều khó khăn tâm lý mà gia đình, Thầy Cô khó
có thể hiểu hết để chia sẻ, hỗ trợ đầy đủ cho các em. Vậy những khó khăn đó thuộc
về những lĩnh vực nào? Ngoài sự hỗ trợ của gia đình, thầy cô, các em cần sự hỗ trợ
như thế nào của chuyên viên tham vấn tâm lý học đường chuyên nghiệp?
luận cho đề tài.
5.2. Khảo sát những khó khăn tâm lý của học sinh và nhu cầu tham vấn tâm lý tại
các trường THCS huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số nội dung và giải pháp tham vấn tâm lý tại các trường THCS
huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
6.Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Mục đích của phương pháp này là xây dựng khung lý thuyết cho đề tài. Trên cơ
sở tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, tạp chí chuyên ngành và thu thập
thông tin trên internet về các vấn đề liên quan đến nhu cầu tham vấn tâm lý, người
nghiên cứu sẽ tiến hành:
-
Phân tích, tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước về nhu cầu tham vấn tâm lý.
-
Xác định khái niệm công cụ và các khái niệm có liên quan: nhu cầu, tham
vấn tâm lý, nhu cầu tham vấn tâm lý.
-
Xác định nội dung cho nghiên cứu thực trạng: Dựa vào kết quả tổng hợp của
phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như phần lý thuyết chung
của đề tài, người nghiên cứu sẽ lựa chọn các yếu tố khảo sát như là: những khó
khăn tâm lý của học sinh THCS huyện Bình Chánh và những nhu cầu tâm lý cũng
như những giải pháp TVTL mà học sinh THCS huyện Bình Chánh mong đợi.
6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.Tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài
Theo một số tài liệu, lịch sử hình thành ngành tham vấn tâm lý trên thế
giới được chia thành 3 giai đoạn chính:
• Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX
Từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX được xem là giai đoạn khởi
đầu của công tác hướng nghiệp và tham vấn nghề. Trong giai đoạn này, công tác trợ
giúp chủ yếu tập trung vào việc cung cấp lời khuyên và cung cấp thông tin mang
tính giáo dục cho mọi người nói chung và giới trẻ nói riêng nhằm giúp họ có khả
năng thích ứng với lao động công nghiệp trong giai đoạn cách mạng công nghiệp.
Trong giai đoạn này, công tác hướng dẫn nghề – tham vấn nghề được phát
triển, với phong trào sử dụng các thang đo – trắc nghiệm của các lý thuyết nghiên
cứu tâm lý cá nhân và sự ứng dụng đầu tiên của thuyết phân tâm học vào quá trình
trị liệu những rối loạn tâm lý của con người. Những người đóng góp cho sự ra đời
của tham vấn hướng nghiệp trong giai đoạn này là: Francis Galton (1822 – 1911) và
Wilheim Wundt (1832 – 1920). Ở Mỹ, G. Stanley (1846 – 1924) và James Cattel
(1860 – 1940) mở phòng thực nghiệm tại Đại học Harvard và Đại học Pennsylvania
cuối thế kỷ thứ XIX và phát triển trắc nghiệm đo nhân cách được áp dụng vào tham
vấn nghề. Trong khi đó, ở Pháp, Alfred Binet (1857 – 1911) đã phát triển trắc
nghiệm kiểm tra trí thông minh đầu tiên cho Bộ Giáo dục Cộng hoà Pháp. [12,
tr.62]
Năm 1907, Jesse Davis (1817 – 1955) xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công
-
Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiểu vấn đề.
-
Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề.
-
Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết.
-
Theo dõi sát sao sự tiến triển cùng thân chủ.
Đến thập niên 50 của thế kỷ XX, nhiều thuyết nghiên cứu về quá trình phát
triển tâm lý con người ra đời: Thuyết phát triển tâm lý xã hội, Thuyết phát triển tư
duy trẻ em; Thuyết phát triển nhu cầu con người; Thuyết gắn bó mẹ – con; Thuyết
tổn thương tâm lý… Cùng với sự phát triển của các học thuyết là sự xuất hiện của
các ngành tâm lý học mới cũng như sự lớn mạnh của các ngành tâm lý học ra đời
8
trước đó như Tâm lý học cá nhân, Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học chẩn đoán,
Tâm lý học hành vi lệch chuẩn, Tâm lý học phát triển, Tâm lý học trí tuệ, Tâm lý
học sáng tạo… đã tạo cơ sở cho các nhà tham vấn có thể hiểu biết sâu sắc những
vấn đề của thân chủ mình. Có lẽ sớm nhận ra giá trị này, Hiệp hội Tâm lý học Hoa
Kỳ đã hình thành Tâm lý học tham vấn như là một phân nhánh của mình vào thập
và sử dụng kiến thức; 7/Cách thức giao tiếp và ngôn ngữ; 8/Những giá trị và các tập
tục; 9/Cách sử dụng thời gian và không gian sống;10/Thói quen ăn uống và cách
chế biến món ăn theo phong tục tập quán; 11/Công việc và cách thức thực hiện công
việc. [12, tr.69] Dựa vào mô hình này, nhà tham vấn có thể nắm bắt được nền tảng
văn hoá của thân chủ khi tiếp xúc trực tiếp hoặc thông qua các kỹ năng thu thập
thông tin một cách gián tiếp và nhờ đó, nhà tham vấn có thể tham vấn thành công
cho mọi đối tượng có nhu cầu tham vấn. Với sự thay đổi lớn lao này, tham vấn tâm
lý mở ra cơ hội cho bất kỳ ai gặp khó khăn, bất kỳ ai có nhu cầu và điều này làm gia
tăng đáng kể số lượng người cần trợ giúp tâm lý.
Như vậy, qua 3 giai đoạn phát triển, ngành tham vấn tâm lý trên thế giới đã
hội đủ các điều kiện để trở nên chuyên nghiệp. Những điều kiện đó là:
-
Các học thuyết nghiên cứu tâm lý người phát triển.
-
Các hướng tiếp cận trị liệu tâm lý với cá nhân, nhóm đã thay đổi, hoàn
chỉnh cho phù hợp với ngành tham vấn.
-
Các tổ chức, các hiệp hội tham vấn ra đời quy định các chuẩn mực
đạo đức và pháp lý cho người làm công tác trợ giúp.
-
Các phòng khám sức khỏe tâm thần, các trung tâm tham vấn cộng
đồng, hay trường học gia tăng nhu cầu về người trợ giúp tâm lý.
giúp khác cũng xuất hiện như: công tác xã hội, công tác từ thiện, tuyên truyền về
chính sách dân số, phương pháp phòng chống dịch bệnh, tư vấn tâm lý, … nhằm
giải quyết những vấn đề mang tính thời đại như đói nghèo, bệnh tật, mại dâm, người
có HIV, trẻ mồ côi, trẻ lang thang, người già không nơi nương tựa…
Nhìn từ góc độ hoạt động tham vấn tâm lý, theo đánh giá của tác giả Nguyễn
Thị Oanh, “Phòng tư vấn tâm lý” đầu tiên được thành lập vào năm 1988 ở TP. Hồ
Chí Minh, do Tiến sĩ Tâm lí Tô Thị Ánh phụ trách. Các đối tượng đến đây xin tham
vấn thuộc mọi thành phần và các nhu cầu trợ giúp cũng đa dạng [12]. Năm 1991
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em được Nhà nước phê chuẩn và Luật Bảo vệ và
Chăm sóc Giáo dục Trẻ em được ban hành. Từ đó, Ủy ban Bảo vệ Chăm sóc trẻ em
Việt Nam đã xây dựng nhiều mô hình chăm sóc tinh thần cho trẻ em, trong đó có
mô hình Văn phòng Tư vấn, nhằm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
như trẻ em lang thang cơ nhỡ kiếm sống ở thành phố, trẻ trộm cắp, nghiện hút, trẻ
bị bóc lột lao động và tình dục, trẻ mồ côi không nơi nương tựa. [57]
Vào năm 1995 – 1996, cả nước đã có các văn phòng tư vấn như văn phòng tư
vấn ở quận Hoàn Kiếm (Hà Nội); văn phòng tư vấn ở Quảng Trị, ở Huế; Trung tâm
Tư vấn Thanh niên do Trung ương Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam thành lập tại
thành phố Hồ Chí Minh.
11
Những năm 1997 – 2000, tại thành phố Hồ Chí Minh có nhiều phòng tham vấn
HIV ra đời cùng với sự ra đời của nhiều Trung tâm tư vấn về tình yêu, hôn nhân,
gia đình như Trung tâm Tư vấn Hướng Dương thuộc Liên đoàn Lao động thành phố
Hồ Chí Minh, trung tâm Tư vấn Tâm lý Giáo dục và Tình yêu – Hôn nhân – Gia
đình thuộc hội Tâm lý Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh. Lượng khách tư vấn ngày
càng tăng cao đặc biệt là tư vấn qua điện thoại của đài 108.
Một số cơ sở trị liệu tâm lý cũng được thành lập như: Cơ sở thăm khám trẻ em
N-T của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ tâm lí (Trường
cho thấy:
• Lĩnh vực tham vấn nhiều nhất là sức khoẻ, HIV/AIDS, trẻ em và cha mẹ
trong cộng đồng và tham vấn học đường.
• Đa số các cơ sở tham vấn tâm lý và chuyên viên tham vấn tâm lý gặp khó
khăn về vấn đề kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn.
- Theo tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Võ Thị Tích (2004) nhu cầu tư
vấn học đường ở một số trường THCS, THPT tại thành phố Hồ Chí Minh khá cao
(85 %). Nội dung chủ yếu mà các em muốn tham vấn là các vấn đề học tập, hướng
nghiệp và các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô, cha mẹ. Các em cho rằng rất cần
thiết có một chuyên viên tham vấn ngay trong trường mình học. [44], [51].
- Khảo sát nhu cầu tư vấn tâm lý và giáo dục từ góc nhìn của sinh viên Cao
đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Việt Bắc (2006) [1], cho
kết quả như sau: 31% sinh viên muốn được tư vấn về Ứng xử trong giao tiếp hằng
ngày; 24% sinh viên muốn tư vấn để Nhận thức cuộc sống và lý tưởng; 17% sinh
viên muốn tư vấn về Hướng nghiệp; một số tỉ lệ khác từ 7% trở xuống là các nội
dung Tình yêu, Tình dục.
- Nghiên cứu nhu cầu tham vấn tình yêu – hôn nhân và những vấn đề liên
quan của tác giả Đặng Văn Huệ [26] thông qua việc xem xét các câu hỏi của những
người có nhu cầu tham vấn và trả lời của tham vấn viên. Kết quả cho thấy, người có
nhu cầu tham vấn thường thuộc vào lứa tuổi trẻ và đa phần là phụ nữ. Vấn đề cần
tham vấn thuộc lĩnh vực tình yêu hoặc mối quan hệ giữa hai người khác phái.
Thông qua nghiên cứu, tác giả kiến nghị cần xây dựng mạng lưới tham vấn tâm lý
một cách chủ động, khoa học trong xã hội để hạn chế hiện tượng phát triển tự phát.
13
- Nhu cầu tham vấn tâm lý - giới tính của học sinh một số trường Trung học
Phổ thông tại TPHCM do tác giả Ngô Đình Qua, Nguyễn Thượng Chí (2006) [48]
tiến hành khảo sát trên học sinh lớp 8, lớp 9 trường THCS Nguyễn Gia Thiều và
Minh”. Kết quả khảo sát cho thấy công nhân khu chế xuất Tân Thuận có nhu cầu
tham vấn tâm lý ở mức độ cao nhưng chỉ tham vấn thông qua những mối quan hệ
bạn bè tiếp xúc hằng ngày. Họ thiếu hiểu biết về các dịch vụ tham vấn và thời gian,
điều kiện, kỹ năng để thoả mãn nhu cầu tham vấn rất hạn chế.
Ngoài các công trình khoa học trên, còn rất nhiều những bài tham luận đăng
trong các kỷ yếu hội thảo khoa học và các bài viết trên tạp chí Tâm lý học bàn về
các vấn đề của tham vấn tâm lý. Cụ thể các vấn đề được đề cập đến là nhu cầu tham
vấn tâm lý trong nhà trường [4], [8], [15], [33], [53]; là sự cần thiết phải có chuyên
viên tham vấn tâm lý trong trường học và thực trạng về đội ngũ này [24], [25], [33],
[46], [50]; là những nội dung mà học sinh muốn được tham vấn [10], [28], [34],
[54].
1.2.NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1.2.1. Nhu cầu
Định nghĩa
Trong lịch sử phát triển tâm lý học, nhu cầu là một trong những vấn đề quan
trọng được các nhà tâm lý học quan tâm và nghiên cứu.
Cuối thế kỷ thứ XIX, theo Henrry Murray - nhà tâm lý học người Mỹ - nhu
cầu là một tổ chức cơ động, có tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức, hành
vi và vì vậy, nhờ có nhu cầu mà hoạt động của con người mang tính mục đích. Theo
ông, nhu cầu là một động lực xuất phát từ cơ thể và sự thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi
phải có sự tác động qua lại với các tình huống xã hội, phải có sự cải tổ chúng nhằm
mục đích đạt được sự thích ứng. [27]
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, đã xuất hiện hàng loạt các nghiên cứu về
nhu cầu của con người. Đầu tiên là thuyết động cơ hệ do K.Levin đề xướng.
K.Levin cho rằng, dưới sự tác động của nhu cầu nào đó, trạng thái căng thẳng sẽ
xuất hiện, đồng thời ở chủ thể cũng xuất hiện sự liên tưởng có liên quan tới nhu cầu.
[16, tr.23] Như vậy, nhu cầu vừa là nguyên nhân làm xuất hiện căng thẳng và cũng
ai hết phải kể đến A.N Lêonchiev. Khi bàn về vấn đề nhu cầu, A.N Lêonchiev cho
rằng, một nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó. Nghĩa là
16
nhu cầu phải có đối tượng (các vật thể có khả năng thỏa mãn nhu cầu). Đối tượng
này không phải xuất hiện cùng một lúc và rõ rệt với các trạng thái có tính chất nhu
cầu (những ước mong, những ý muốn chủ quan của chủ thể) mà nó chỉ “phát lộ” ra
trong quá trình con người hoạt động để thỏa mãn nhu cầu. [32] Như vậy, nhu cầu
theo đúng nghĩa tâm lý học phải gắn liền với đối tượng của nó. Nói cách khác, nhu
cầu phải được “vật hoá”, “đối tượng hoá” vào trong thực thể khách quan, ở bên
ngoài chủ thể, hướng dẫn và kích thích chủ thể về hướng đó. Sự phát triển nhu cầu
là sự phát triển nội dung đối tượng của nó.
Trong tâm lý học Việt Nam, khái niệm nhu cầu cũng được sử dụng nhiều
trong các tài liệu và các công trình nghiên cứu. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “Nhu
cầu là một thuộc tính nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân với
hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thoả mãn trong điều
kiện nhất định để có thể tồn tại và phát triển”. [16] Tương tự như vậy, tác giả
Nguyễn Quang Uẩn cũng cho rằng: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người
thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển”. [56] Như vậy, có thể hiểu nhu cầu
với tư cách là một hiện tượng tâm lý, chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống tâm lý
con người. Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của một hay nhiều nhu
cầu nào đó. Khi nhu cầu được thoả mãn thì “thoải mái thì dễ chịu”, khi thiếu hụt thì
“căng thẳng, ấm ứ”. [58]. Chính vì vậy mà tác giả Vũ Dũng [6] cho rằng: “Nhu cầu
là trạng thái mất cân bằng về sinh lý, tâm lý và xã hội của cá nhân”. Vì thế, cá nhân
phải nổ lực tìm kiếm đối tượng thoả mãn nhu cầu của mình để lập lại trạng thái
thăng bằng và ổn định, nói cách khác, nhu cầu là nguồn gốc tích cực của hoạt động
cá nhân.
Từ những quan điểm trên, cho thấy, nhu cầu của con người vừa mang tính tích