MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của con người không phải lúc nào đời sống
của họ cũng diễn ra êm đềm phẳng lặng. Trong mỗi giai đoạn phát triển của
cuộc đời, con người đều gặp những lo âu, căng thẳng. Gặp những khó khăn
này, con người luôn mong muốn có sự đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ của người
khác để thoát ra khỏi chúng. Chia sẻ trở thành một nhu cầu tinh thần không
thể thiếu của con người. Tuy nhiên không phải lúc nào bạn bè, người thân
cũng giúp chúng ta giải tỏa được những lo âu, tháo gỡ được những khó khăn,
vướng mắc. Chính vì vậy nghành tham vấn đã ra đời nhằm giúp con người
vượt qua những khó khăn tâm lý để thích ứng với cuộc sống.
Tham vấn là quá trình trợ giúp con người có mục đích rõ ràng và mang
tính chuyên nghiệp. Trong đó, người trợ giúp (nhà tham vấn) đã được đào tạo
về chuyên môn, vận dụng các lý thuyết tâm lý và kỹ năng giao tiếp để can
thiệp một cách có chủ ý vào đời sống tinh thần của đối tượng (thân chủ) nhằm
hỗ trợ họ giải quyết và vượt qua các khó khăn bằng chính năng lực của bản
thân. Nhờ các chức năng trên mà tham vấn có thể giúp con người giải quyết
được những vướng mắc tâm lý trong đời sống tình cảm, trong các mối quan
hệ xã hội và có thể tạo ra khả năng để con người độc lập quyết định cuộc sống
của mình theo chiều hướng tốt hơn.
Hiện nay trên thế giới nghành tham vấn tâm lý đang rất được quan tâm
và là một hướng phát triển mạnh. Tuy nhiên ở Việt Nam thì tham vấn hoàn
toàn là một nghề mới mẻ, còn ít được quan tâm nghiên cứu cả về lý luận và
thực tiễn.
Việt Nam đang trên con đường hội nhập với xu thế phát triển chung của
thế giới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Xu thế hội nhập đã
đem lại cho con người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng nhiều cơ
hội phát triển, đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn như việc làm,
đạo đức, lối sống, tư tưởng, tình cảm…
Học sinh THCS là giai đoạn quá độ, giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang
người lớn. Điều này làm nảy sinh trong các em cảm giác mới lạ, độc đáo, cảm
khối lớp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu như nhu cầu, nhu cầu tham vấn tâm lý.
5.2. Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trường
trung học cơ sở thị trấn Văn Điển và các nguyên nhân ảnh hưởng tới thực
trạng trên. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn
của các em.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Mục đích: Thu thập và phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Nội dung: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về nhu cầu tham vấn tâm
lý
- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ
cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên
cứu thực tiễn.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Mục đích: Phát hiện, khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của
các em học sinh và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Nội dung: Xây dựng phiếu hỏi gồm các câu hỏi đóng và mở, cấu trúc
của bảng hỏi gồm 16 câu (xem phụ lục) điều tra thực trạng nhu cầu tham vấn
tâm lý và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Cách tiến hành: Phát phiếu và nói rõ mục đích của cuộc điều tra, hướng
dẫn các em trả lời câu hỏi.
6.3. Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Tìm hiểu, thu thập và bổ sung một số thông tin liên quan đến
đề tài.
- Nội dung: Phỏng vấn một số học sinh và giáo viên trong trường.
- Cách tiến hành: Đầu tiên là xác định đối tượng phỏng vấn, sau đó đặt
vấn đề, nêu mục đích trao đổi. Trong quá trình thực hiện phỏng vấn chúng tôi
mãn bằng nhiều cách thật, giả (giả là trong giấc mơ), và chỉ có như vậy con
người mới tiêu hết năng lượng sinh lý.
Phân tâm học chủ trương coi trọng nhu cầu tự do cá nhân, như các nhu
cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. Theo đó việc thỏa mãn nhu cầu này
là giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế tự do cá nhân mới thực sự được
tôn trọng. Việc kìm hãm tình dục sẽ dẫn tới mọi hành vi mất định hướng của
con người.
Lý thuyết Động cơ hệ, do K. Levin đề xướng, tiếp theo là các công trình
của các đại diện do trường phái tâm lý học nhân văn như A. Maslow, G.
Allport, K.Rodzere và một số người khác.
+ Trường phái tâm lý học hành vi do nhà tâm lý học hành vi người Mỹ J.
Wason (1878 – 1985) khởi xướng, chủ trương không mô tả, giảng giải các
trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể. Với công thức S – R,
các nhà tâm lý học hành vi đã đồng nhất phản ứng với nội dung phản ánh bên
trong, làm mất tính chủ thể, tính hội của tâm lý con người. Về sau này các nhà
tâm lý học hành vi mới bổ sung vào công thức S – R những biến số trung gian
và những hành vi tạo tác.
+ Trường phái tâm lý học nhân văn với đại diện là nhà tâm lý học A.
Maslow (1908 – 1966). Với lý thuyết phân cấp nhu cầu, trường phái này đã
nhìn nhận nhu cầu của con người theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo thứ tự
tăng dần từ nhu cầu thấp đến nhu cầu cao nhất. Sự phân cấp đó như sau: Nhu
cầu thể chất (hay còn gọi là nhu cầu sinh lý); nhu cầu an toàn; nhu cầu giao
lưu, tình cảm ( còn gọi là nhu cầu xã hội); nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu tự
hoàn thiện. Theo A. Maslow, tuy phân chia các mức độ như vậy song vị trí
của chúng trên tháp nhu cầu không phải là cố định mà nó linh hoạt thay đổi
tùy theo điều kiện cụ thể. Trong quá trình phát triển của cá nhân, các nhu cầu
đó tạo nên một kiểu dạng tháp có thứ bậc. Tuy nhiên, việc đề cập đến nguyên
nhân phát sinh cơ và mức độ thứ bậc của ông rất đáng nghi ngờ. Theo A.
Maslow, những nhu cầu thuộc về sinh lý (đói, khát, tình dục…) nằm ở đáy
tháp, một số trong chúng tuân thủ nguyên tắc cân bằng trạng thái.
giảm tới mức tối thiểu về sự khác biệt giữa người và động vật.
+ A.G. Kovaliov trong lý luận bàn về nguồn gốc của tính tích cực bên
trong của con người đã đưa ra khái niệm nhu cầu như sau: Nhu cầu là đòi hỏi
của các cá nhân và các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất
định để sống và phát triển…Theo ông, một nhu cầu khách quan nào đó trước
khi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của con người đã được con
người ý thức.
+ A.N. Leonchiev (1903 – 1979), người đề xuất nguồn gốc lý thuyết hoạt
động của phạm vi động cơ hóa của con người, quan niệm rằng: Nhu cầu cũng
như các đặc điểm tâm lý khác của con người có nguồn gốc trong hoạt động
thực tiễn. Theo ông, nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái
gì đó và “ hoạt động và duy nhất chỉ có trong đó mà thôi, các nhu cầu mới có
được tính cụ thể về mặt tâm lý học” [11, 221]. Ông mô tả nguồn gốc của nhu
cầu – cũng như mối quan hệ của nó với hoạt động bằng sơ đồ: Hoạt động –
nhu cầu – hoạt động. Theo ông, đây là luận điểm có ý nghĩa quan trọng đối
với tâm lý học.
+ Trong khi phân tích bản chất nhu cầu, A.A. Xmirnov cho rằng, nhu
cầu của con người được thực hiện dưới dạng các ước ao và ý nghĩa của chủ
thể. Theo ông, mang ý nghĩa báo hiệu sự xuất hiện của nhu cầu hay sự thỏa
mãn nhu cầu, mà các ước ao và ý hướng đó điều chỉnh hoạt động của con
người bằng cách làm cho hoạt động ấy xuất hiện, tăng cường hay làm yếu nó
đi.
+ X.L. Rubin đã bàn nhiều về nhu cầu. Theo ông, con người có nhu cầu
sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩm của xã hội, vì thế cần
phải xem xét đồng thời nhu cầu với các vấn đề cơ bản của con người. Khi nói
đến nhu cầu, sẽ xuất hiện hai hệ thống mà ta dễ nhận ra đó là: Thế giới đối
tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể. Hay nói cách khác, đó là mối quan hệ
thống nhất giữa hai yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan trong hoạt động
thỏa mãn nhu cầu.
+ B.Ph. Lomov tuy không đặt nhu cầu như một vấn đề riêng biệt, nhưng
các nghiên cứu lý thuyết tâm lý:
+ Tâm lý học đặc điểm và nhân tố.
+ Tâm lý học phân tâm với trị liệu bằng phương pháp phân tâm do
S.Freud sáng lập.
+ Tâm lý học nhân văn do Carl Roger và Maslow xây dựng.
+ Từ những năm 1950 các lý thuyết của tâm lý học được phát triển rộng
rãi và nghiên cứu ứng dụng và tham vấn – trị liệu tâm lý như lý thuyết phát
triển con người của Erikson (1950) và của Piaget (1954) đã cung cấp cho các
nhà tham vấn những kiến thức hiểu biết về đặc điểm tâm lý của từng giai
đoạn phát triển của con người làm nền tảng cho sự tương tác với đối tượng và
môi trường; Các nghiên cứu của Albert Ellis về phép trị liệu hành vi cảm xúc
(1957) nhằm giúp đối tượng xóa bỏ những niềm tin phi lý của mình từ đó xóa
bỏ hành vi tiêu cực như là hậu quả của những niềm tin phi lý; Virginia Axline
với phép trị liệu bằng trò chơi cho trẻ em; Frederick Perls với phép trị liệu
tâm lý học cấu trúc tập trung vào kinh nghiệm hiện tại và việc nâng cao tự
nhận thức của đối tượng.
Từ những lý thuyết tâm lý có tính chất tạo nền tảng về cơ sở lý luận và
nhu cầu của xã hội về tham vấn đòi hỏi phải có những nhà tham vấn chuyên
nghiệp đã dẫn đến việc các trường học, trung tâm đào tạo về tham vấn được
thành lập.
Cho đến nay tham vấn được ứng dụng rộng rãi trong đời sống của con
người và xã hội loài người. Tham vấn chính thức thức trở thành một nghề
chuyên môn, có khoa học lý thuyết và thực nghiệm. Các nhân viên tham vấn
qua đào tạo được xã hội thừa nhận và tác nghiệp với tư cách là chuyên gia
tham vấn hay cán sự xã hội làm công tác xã hội trong các trường giáo dưỡng,
các cơ sở, trung tâm xã hội cộng đồng, các trung tâm tham vấn, trong trường
học, bệnh viện, nhà tù. Người ta xem tham vấn như là một trong những dịch
vụ xã hội có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống tinh
thần của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Tại một số nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Úc, Singapore,
phát triển như: Tham vấn qua đài (chương trình Cửa Sổ Tình Yêu được nhiều
bạn trẻ yêu mến), qua truyền hình (chương trình Người Xây Tổ Ấm, chương
trình Văn Hóa Ứng Xử), qua tổng đài 1088, qua Internet… Bên cạnh đó ở địa
bàn dân cư hoặc trong cơ quan, doanh nghiệp, các vấn đề tâm lý xã hội, các
khúc mắc, bất hòa trong cuộc sống được can thiệp, giúp đỡ không mang tính
chính quy được triển khai thông qua các tổ hòa giải địa phương hay tổ chức
Công đoàn, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên.
Cũng đã có nhiều cuốn sách viết dành riêng cho tham vấn tâm lý: Năm
1998 – cuốn sách “tham vấn HIV- AIDS” do bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc chủ biên
về thực tế HIV- AIDS ở Việt Nam.
Từ khoảng năm 2000, nhiều trường học tại Tp. HCM như trường Khánh
Hội A – quận 4, trường Nguyễn Gia Thiều – quận Tân Bình, trường Diên
Hồng – quận 10, trường Mạc Đĩnh Chi – quận 6 và rất nhiều trường khác nữa
đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lý và các tổ chức trong và
ngoài nước để triển khai các chương trình tham vấn tâm lý cho học sinh.
Năm 2002 nhà xuất bản Thanh Niên đã xuất bản 8 tập sách khác nhau về
tham vấn trên một số lĩnh vực như: Tham vấn tình yêu tuổi học đường, tham
vấn sức khỏe học đường, tham vấn sức khỏe vệ sinh thân thể, tham vấn giao
tiếp ứng xử, tham vấn thời trang thẩm mĩ, tham vấn hướng nghiệp, tham vấn
các phương pháp học tập, tham vấn các vấn đề xã hội.
Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại Tp. HCM” được
Viện Nghiên cứu giáo dục, trường ĐHSP Tp. HCM tổ chức với sự tham gia
của nhiều nhà tâm lý, giáo dục và hiệu trưởng các trường.
Xuất phát từ thực tiễn, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nhu
cầu tham vấn tâm lý. Chúng tôi có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu sau
như “Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh – sinh viên ở Việt
Nam hiện nay” của tác giả Bùi Thị Xuân Mai. Nghiên cứu này cho biết, có
trên 90% số người được hỏi cho là rất cần và cần dịch vụ tham vấn. Có rất
nhiều vấn đề được khách thể điều tra cho rằng đó là những mối quan tâm mà
họ cần tới tham vấn. Riêng nhóm khách thể ở lứa tuổi vị thành niên, những
họ cũng như các hình thức tham vấn phù hợp.
Thời gian gần đây, do nhu cầu về tham vấn của xã hội tăng lên nhanh
nên các hình thức tham vấn trực tiếp và gián tiếp qua các phương tiện như báo
chí, phát thanh, truyền hình, điện thoại… phát triển nhanh chóng. Một số
trung tâm tham vấn được thành lập dưới sự quản lý của các tổ chức nhà nước
hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đoàn thể nhân nhân. Trong số này
có một số trung tâm, cơ sở hoạt động dưới sự tài trợ kinh phí của các tổ chức
chính phủ, phi chính phủ trong và ngoài nước nên ban đầu thường ít chú trọng
đến mục đích lợi nhuận thu được từ hoạt động nghề nghiệp. Nhìn chung, các
trung tâm tham vấn hoạt động không chỉ với một mục đích duy nhất là tham
vấn.
Một điều đáng lưu ý là dù ở bất kỳ hình thức nào, qua phương tiện nào
thì sự can thiệp giúp đỡ cũng thường mang tính tư vấn, thuyết phục, cho lời
khuyên đối với người có nhu cầu tham vấn là chính mà ít chú ý tới cách tiếp
cận, phương pháp thân chủ trọng tâm mà ngày nay đang rất phổ biến trong
hoạt động trợ giúp xã hội.
Những năm gần đây, cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa nền
kinh tế, tăng cường sự hội nhập quốc tế về mọi mặt, công tác xã hội chuyên
nghiệp được du nhập vào Việt Nam. Chúng ta đã chú ý hơn các tiếp cận thân
chủ trọng tâm, tránh áp đặt và ra lời khuyên đơn thuần như trước đây. Nhân
viên tham vấn đã được đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức, kỹ năng qua
các lớp tập huấn ngắn ngày.
Như vậy, hoạt động tham vấn một cách chuyên nghiệp ở nước ta còn rất
mới mẻ cả về nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Trong khi đó nhu cầu đòi hỏi
về tham vấn trong xã hội hiện nay là rất lớn. Hầu như ở bất kỳ lĩnh vực, địa
bàn nào, không phân biệt vị trí xã hội cao thấp, nghề nghiệp, giàu nghèo cũng
có những cá nhân gặp phải vấn đề xã hội, tâm lý, quan hệ gia đình, bạn bè,
công việc. Điều đó đang đặt ra cho chúng ta sự nỗ lực rất nhiều trong nghiên
cứu, phát triển tham vấn trên mọi phương diện.
2. Lý luận tâm lý học về nhu cầu và nhu cầu tham vấn tâm lý
con người, cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng, con người nói chung sống
và hoạt động. Nhu cầu luôn có đối tượng, đối tượng của nhu cầu là vật chất
hoặc tinh thần, chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò
định hướng, đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con
người.
Theo bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, nhu cầu là: Điều cần thiết để đảm bảo
cho sự tồn tại và phát triển của con người. Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu
hụt thì căng thẳng và ấm ứ. Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của
tập thể, khi hòa nhập khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản thiết yếu, có nhu cầu
thứ yếu, giả tạo. Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi.
Theo giáo trình tâm lý học đại cương do tác giả Nguyễn Quang Uẩn chủ
biên thì khái niệm nhu cầu được định nghĩa như sau: “Nhu cầu là sự đòi hỏi
tất yếu mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [16, 204].
Nhìn chung các quan niệm về nhu cầu nói trên có sự tương đồng, đều đi
đến khẳng định:
Nhu cầu của con người và xã hội là một hệ thống đa dạng, bao gồm nhu
cầu tồn tại, nhu cầu phát triển, nhu cầu chính trị, tôn giáo… Nhu cầu của con
người xuất hiện như những đòi hỏi khách quan của xã hội, do xã hội quy định,
đồng thời nhu cầu mang tính cá nhân với những biểu hiện phong phú và phức
tạp.
Trên cơ sở phân tích, tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu
cầu và trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi sử dụng khái niệm: “Nhu cầu là
những đòi hỏi tất yếu, khách quan được con người phản ánh trong những
điều kiện cụ thể và cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển”.
2.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng. Đối tượng của nhu cầu là tất cả
những yếu tố vật chất và tinh thần trong thế giới hiện thực có thể được thỏa
mãn được yêu cầu để tồn tại và phát triển của cá nhân. Nhu cầu không tách
rời hoạt động, mà hoạt động của con người luôn có đối tượng.
Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó
thức của con người, là động cơ thực sự của cá nhân. Chính nhu cầu thúc đẩy
con người tích cực hoạt động, tạo nên những điều kiện, những phương tiện
tương ứng để thỏa mãn đòi hỏi của mình.
Một nhu cầu khách quan nào đó, phải được phản ánh vào đầu óc cá
nhân, tức là phải được cá nhân nhận thức, tự ý thức. Khi nhu cầu đã được con
người phản ánh, nó sẽ trở thành một trạng thái chủ quan, một thái độ của cá
nhân, xác định hướng suy nghĩ, tình cảm, ý chí của cá nhân đó. Nó có xu thế
điều chỉnh hành vi, hành động của cá nhân.
Nhu cầu là biểu hiện đầu tiên của tính tích cực cá nhân, nó có tác dụng
xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó đối với hiện
thực và đối với bản thân, xét đến cùng nó xác định lối sống và hoạt động của
cá nhân.
Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động, nhưng đồng
thời hoạt động lại làm nảy sinh và phát triển những nhân cách mới. Sự phong
phú và đa dạng của nhu cầu phụ thuộc vào sự phong phú và đa dạng của hoạt
động. Vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động thường xuyên với nội dung và
hình thức phong phú đa dạng, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.
Như vậy các nhu cầu của con người được thể hiện ở chủ thể dưới dạng
ước ao, chính nó điều chỉnh hoạt động của con người, làm xuất hiện các hoạt
động của con người. Do vậy khi có một đối tượng của nhu cầu vạch phương
hướng cụ thể cho hoạt động thì đối tượng đó vừa đáp ứng được nhu cầu vừa
trở thành động cơ thúc đẩy hoạt động.
2.1.4. Phân loại nhu cầu
Hệ thống nhu cầu của con người rất đa dạng. Có nhiều cách phân loại
nhu cầu khác nhau:
- Cách thứ nhất: Dựa vào hình thức tồn tại của đối tượng của nhu cầu, có
thể chia thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
- Cách thứ hai: Dựa vào hình thức vận động của vật chất, có thể chia
thành nhu cầu sinh lý học và nhu cầu xã hội.
- Cách thứ ba: Dựa vào chủ thể của nhu cầu, có thể chia thành nhu cầu
khi được kết hợp với sự vô tâm, vô trách nhiệm.
12. Ích kỷ: Đặt quyền lợi của mình trên hết, muốn hài lòng về mình, tự
gợi dục, có khuynh hướng chủ quan tri giác thế giới bên ngoài.
13. Tính xã hội: Lãng quên quyền lợi riêng vì quyền lợi của nhóm, xu
hướng vị tha, hào hiệp, nhường nhịn, quan tâm đến những người khác.
14. Nhu cầu tìm người bảo trợ: Chờ mong lời khuyên nhủ, sự giúp đỡ,
bất lực, tìm sự an ủi, khuyên nhủ, đối xử nhẹ nhàng.
15. Nhu cầu giúp người: Là người bạn của những kẻ đau buồn “ có
nguyện vọng quan tâm đến người khác, giúp đỡ vật chất, cho phép cư trú…”.
16. Nhu cầu bị trách phạt: Kìm nén những xúc động của mình nhằm
tránh bị trách phạt hoặc bị lên án. Có nhu cầu chú ý đến dư luận xã hội, tự
chủ, nhã nhặn, giữ gìn những nguyên tắc chung.
17. Nhu cầu tự vệ: Luôn luôn chuẩn bị đề phòng đầy đủ trong quan hệ
với địch thủ, khó thừa nhận sai lầm của mình, luôn luôn biện hộ bằng những
việc diễn ra, từ chối sự phân tích những sai lầm của mình.
18. Nhu cầu vượt qua những thất bại: Có đặc điểm nổi bật là sức mạnh
của ý chí, sự kiên trì, dũng cảm.
19. Nhu cầu an toàn: Sợ hãi, lo lắng, kinh hoàng, hoảng loạn, tính cảnh
giác quá mức là vốn có đối với người này, không có sáng kiến, tránh sự đấu
tranh.
20. Nhu cầu ngăn lắp trật tự: Có xu thế ngăn lắp, trật tự, cẩn thận, chính
xác, đẹp đẽ.
21. Nhu cầu phán đoán: Muốn đặt ra những vấn đề chung và trả lời về
chúng, say mê với những hiểu biết trìu tượng, khái quát hóa, hấp dẫn bởi
những vấn đề vĩnh cửu về ý nghĩa cuộc sống, về cái thiện và cái ác.
Abraham Maslow (1908 - 1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng
học thuyết phát triển về nhu cầu con người vào những năm 50 của thế kỷ XX.
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng
một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì xếp phía dưới, trong khi
những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng
+ Nhu cầu tự hoàn thiện – cơ hội thể hiện bản thân (self – actualization
needs): Bậc cuối cùng và cao nhất trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của
Maslow có tác động lớn nhất tới sự hoàn thiện nhân cách. Maslow mô tả nhu
cầu này là sự mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình
“sinh ra để làm” – Sự hiện thực hóa cái mình (cái bản thân). Đó là nhu cầu
được tự khẳng định mình, nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân, cơ hội của sự
phát triển và học hỏi cá nhân để tự hoàn thiện mình.
Tháp nhu cầu của A. Maslow
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu giao lưu,
tình cảm
Nhu cầu được
tôn trọng
Nhu
cầu
tự
hoàn
thiện
Nhu cầu thể chất
Như vậy, mỗi nhu cầu con người trong “hệ thống thứ bậc” phải được
thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để có thể phát triển khả năng
cao nhất của mình. Vì vậy trong tham vấn cần quan tâm đến nhu cầu của thân
chủ và xác định nhu cầu đó thuộc thứ bậc nào để từ đó giải quyết vướng mắc
các nhu cầu cơ bản trước tiếp đến giải quyết các nhu cầu bậc cao sâu.
Các cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối vì trên thực tế
không thể tìm ra một nhu cầu vật chất nào mà lại không có yếu tố tinh thần
trong đó và ngược lại… Cũng như vậy, không một nhu cầu nào của con người
lại không mang tính xã hội. Ở con người điều có ý nghĩa lớn nhất trong cuộc
sống và hoạt động là nhu cầu tâm lý, nhu cầu lao động, nhu cầu học tập, nhu
cầu giao lưu…