p
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
CHU THỊ TÂM
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH THCS Ở
NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI, 2013
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
CHU THỊ TÂM
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH THCS Ở
NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên đề : Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Tạ Thị Ngọc Thanh
Hà nội, 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS ở
nội thành thành phố Hà Nội” là công trình khoa học do tôi thực hiện. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được
công bố trong công trình nghiên cứu nào khác. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
nếu có sự khiếu nại, tố cáo về bản quyền tác giả
Tác giả luận văn
Chu Thị Tâm
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa Cao học Tâm lý học khóa 2011 – 2013, ngoài những
nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên, hỗ trợ của rất
5
MỤC LỤC
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày một phát triển, khoa học công nghệ ngày càng cao, yêu cầu con
người phải không ngừng lao động, học tập nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng cho nhu
cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và sự phát triển của xã hội. Trong quá trình lao
động, học tập, con người luôn cần sự đầu tư thời gian và công sức để có thể đạt
được hiệu quả cao nhất. Việc đáp ứng yêu cầu và nhịp độ khẩn trương của công việc
khiến con người dễ cảm thấy quá tải và dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi,
ảnh hưởng không tốt tới cơ thể cũng như kết quả lao động. Bởi thế, xã hội càng phát
triển thì những vấn đề của đời sống tâm lý, tình cảm cũng càng nảy sinh phong phú,
đa dạng và bức xúc hơn. Chính vì vậy, con người cần phải được nghỉ ngơi, thư giãn
không chỉ về mặt thể chất mà còn phải được giải tỏa cả về mặt tinh thần khỏi những
căng thẳng, lo âu, stress của công việc, học tập mang lại. Đối với con người không
chỉ sức khỏe thể chất mà cả nhu cầu về sức khỏe tâm trí cũng là một vấn đề hết sức
quan trọng. Hiện nay, ở một số nước phát triển, nhiều loại hình tham vấn tâm lý đã
xuất hiện nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí cho mỗi cá nhân trong xã hội.
Ở Việt Nam, nền kinh tế - xã hội đang phát triển mạnh và đầy biến động. Đặc
biệt là tại một số thành phố lớn như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…Trong
đó, thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước, tập trung rất
nhiều trường phổ thông, đại học lớn, có nhiều điều kiện thuận lợi để học sinh học
tập, giao lưu và phát triển. Ngược lại, để đáp ứng được yêu cầu phát triển học sinh
cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ cuộc sống thực tiễn. Điều đó tạo ra nhiều
áp lực, trọng trách với học sinh. Đồng thời sự áp đặt kỳ vọng của cha mẹ, thầy cô
cũng tạo thêm nhiều áp lực, gây căng thẳng cho học sinh trong cuộc sống, học tập
những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh nhằm
giúp đỡ và định hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn và lành mạnh. Vì
vậy, việc nghiên cứu thực trạng nhu cầu TVTL của học sinh ở nội thành thành phố
Hà Nội là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để xác định phương hướng,
cách thức tổ chức các hoạt động tham vấn có hiệu quả cho HS.
9
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học
sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội” được chọn làm đề tài nghiên cứu
của luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu NC TVTL của học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội và
đề xuất một số khuyến nghị phù hợp nhằm đáp ứng NC TVTL của học sinh THCS,
góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội: Trường THCS Phương Liệt và
Trường THCS Giáp Bát.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu tham vấn tâm lý về các vấn đề học tập, về các mối quan hệ ở học
đường của học sinh THCS.
4. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng NC TVTL về các vấn đề trong học tập
và các mối quan hệ ở học đường. Cụ thể là: Nhu cầu về lĩnh vực TVTL học đường,
về hình thức TVTL học đường.
- Về khách thể nghiên cứu: 300 học sinh THCS, bao gồm: 150 HS Trường
THCS Phương Liệt và 150 HS Trường THCS Giáp Bát.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hóa một số thành tựu lý luận về nhu cầu, TVTL, TVTL
HĐ, NC TVTL HĐ của HS THCS. Trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lý luận cho việc
6.4. Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp này nhằm tìm hiểu sâu hơn về NC TVTL HĐ của HS THCS
cũng như nguyên nhân, hậu quả của một số sự kiện hoặc vấn đề mà người phỏng
vấn muốn biết.
6.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
11
- Là phương pháp dựa trên những trường hợp đặc trưng nhằm tìm hiểu rõ về
trường hợp nghiên cứu bằng cách phân tích toàn diện trường hợp đã chọn trong
môi trường tự nhiên của nó. Kết quả nghiên cứu điển hình giúp cho người nghiên
cứu giải thích được tại sao mọi việc lại xảy ra như vậy trong thực tiễn, qua đó góp
phần xác định những vấn đề quan trọng cần quan tâm.
6.6. Phương pháp toán thống kê
- Sử dụng các phần mềm thống kê toán học như Exel, SPSS để xử lý và phân
tích số liệu điều tra.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu tham vấn tâm lý trên thế giới
Tham vấn tâm lý là một chuyên ngành tâm lý tương đối trẻ. Năm 1907, Jesse
Davis (1817 – 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn
nghề tại Michigan. Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đến công tác hướng
nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1854 – 1908). Ông là người đánh dấu cho sự ra đời
của chuyên ngành hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp ở Mỹ. Ông được xem như cha đẻ
của ngành hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp. F. Parsons đã viết cuốn sách “ Cẩm nang
hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra
cách bắt đầu và xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả. Chính điều này
đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của ngành hướng dẫn tư vấn nghề. Một
năm sau khi F. Parson qua đời (1909), cuốn sách “Chọn nghề” (Choosing Vocation)
của ông đã được xuất bản, cuốn sách này trình bày phương pháp kết nối những đặc
Rogers không chỉ được coi là có ý nghĩa lớn lao trong công việc trợ giúp thân chủ
mà còn được xem là cách sống của con người. Mục đích của phương pháp tham vấn
tập trung vào cá nhân không phải là chữa trị cho thân chủ hoặc tìm kiếm những
nguyên nhân từ quá khứ mà cái chính là khuyến khích thân chủ tự hiện thực hoá
những tiềm năng của bản thân, tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển tâm lý lành
mạnh ở thân chủ. Thân chủ được xem như là một chủ thể có hiểu biết, họ phải được
hiểu, và chấp nhận để nhà tham vấn có thể cung cấp những loại hình giúp đỡ tốt
hơn cho họ.
Đầu năm 1942, Rogers xuất bản tập sách “Tham vấn và trị liệu tâm lý”
(Counseling and Psychotherapy), ghi lại những vấn đề chính trong phương pháp của
ông sau 10 năm kinh nghiệm làm công tác trị liệu cho cả trẻ em và người lớn. Cuốn
sách này có ảnh hưởng lớn lao đến ngành, tham vấn, đánh dấu sự ra đời của tham
vấn hiện đại.
Những năm 50 của thế kỉ XX là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của ngành tham
vấn với sự ra đời rầm rộ của các phương tiện hỗ trợ để đánh giá khách quan tình
14
trạng hiện tại của thân chủ, đó là các trắc nghiệm tâm lý dùng để đánh giá mức độ
nhận thức, hứng thú, trí thông minh, nhân cách. Chính việc ra đời các trắc nghiệm
khách quan đã giúp cho việc đánh giá của các nhà chuyên môn thêm chính xác,
đồng thời nâng cao uy tín của hoạt động tham vấn. Đây cũng là những năm đánh
dấu sự phát triển của rất nhiều học thuyết khác nhau trong lĩnh vực tham vấn gắn
liền với tên tuổi của các nhà tâm lí học (TLH) lớn trên thế giới như: “Các giai đoạn
phát triển tâm lý và trí tuệ” của Jean Piaget (1896 – 1980); “Lý thuyết các giai đoạn
phát triển tâm lý cá nhân” của Erickson (1902 – 1994)… Những lý thuyết này đã
cung cấp cho các nhà tham vấn những kiến thức cần thiết về các giai đoạn phát triển
tâm lý cá nhân, từ đó làm nền tảng cho quá trình tương tác của các nhà tham vấn
với đối tượng.
Vào những năm 60 của thế kỉ XX, bên cạnh ba hướng tiếp cận chính là tiếp
cận Phân tâm học (Freud), tiếp cận trực tiếp (Williamson) và tiếp cận thân chủ trung
tâm (Rogers) thì thời kỳ này còn có sự ra đời của nhiều cách tiếp cận mới như tiếp
đưa ra vai trò và chức năng của các nhà TVHĐ. Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu
học và Trung học (Elementary and Secondary Education Act) ra đời và quỹ để phát
triển những cơ hội giáo dục cho những gia đình nghèo cũng được hình thành. Đến
những năm 80 và 90, nhu cầu cần làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà TVHĐ
xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan.
Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia của Mỹ cho các chương trình tham vấn học
đường ra đời và kể từ đó, ngành TVHĐ được xem là đã có tương đối các cơ sở để
phát triển vững mạnh.
Ngày 1/1/2006 Nghị viện Hoa Kỳ lấy ngày 6/10 là tuần lễ quốc về tham vấn
học đường. Hiện nay, hiệp hội các nhà TVHĐ Hoa Kỳ (ASCA) được xem là nguồn
tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình TVTL HĐ của hầu hết các nước trên
thế giới. ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội
của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tham vấn tâm lý ở Việt Nam
Tâm lý học được “du nhập” vào Việt Nam đã gần 50 năm với tư cách là một
nghề – nghề dạy tâm lý (nghề sư phạm) và nghiên cứu tâm lý. Mặc dù hiện nay
ngành Tâm lý học vẫn chưa được cấp mã số cho “nghề trợ giúp tâm lý” nhưng các
16
hoạt động trợ giúp tâm lý nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội vẫn phát triển và khẳng
định “chỗ đứng” của mình trong xã hội. Ngày nay, tại các đô thị lớn, nhiều cá nhân
hoặc gia đình có vấn đề tâm lý đó biết tìm đến các “bác sĩ tâm lý” để nhờ giúp đỡ.
Hiện nay, tuy chưa có một tài liệu nào công bố rõ ràng về từng bước, từng
giai đoạn phát triển của ngành tham vấn ở Việt Nam. Nhưng trước tiên, không thể
phủ nhận vai trò của các bác sĩ, nhất là những bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi khoa
trong việc phát triển những liệu pháp tâm lý, áp dụng trong việc chữa trị các bệnh
nhân rối nhiễu và rối loạn hành vi, nhân cách, cũng như trong việc chữa trị và làm
việc với các bệnh nhân trẻ em. Tên tuổi của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cùng các
cộng sự của ông ở Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em (NT) được ghi nhận cùng
với những cố gắng của họ để phát triển TLH lâm sàng và tư vấn tâm lý trẻ em. Các
bác sĩ tâm thần học cũng đóng một vai trò lớn trong việc phát triển những liệu pháp
Khánh Hội A – quận 4, Nguyễn Gia Thiều – quận Tân Bình, Diên Hồng – quận 10,
Trương Công Định, Phú Mỹ – quận Bình Thạnh, Mạc Đĩnh Chi – quận 6 và rất
nhiều trường khác nữa đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lý và các tổ chức
trong và ngoài nước để triển khai các chương trình tham vấn học đường cho HS.
Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố HCM” được
Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường Đại học Sư phạm thành phố HCM tổ chức. Cũng
trong thời gian này, một số sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư
phạm thành phố HCM đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình về vấn đề
tham vấn học đường. Những “sự kiện” này được xem là những bước khởi đầu cho
nhiều sự thay đổi tiếp theo của ngành tham vấn học đường tại Việt Nam.
Năm 2004, Trung tâm hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học
Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đến hoạt động
nghiên cứu và hỗ trợ hoạt động tham vấn học đường.
Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em thành
phố. HCM và sự hỗ trợ của UNICEF, văn phòng tư vấn trẻ em thành phố HCM đã
tổ chức hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường
học”. Trong hội thảo nhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo các trường đã quan
tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của mình. Ngày 18 tháng 02 năm 2006, Hội thảo
khoa học quốc gia “Tư vấn tâm lý – giáo dục lý luận, thực tiễn và định hướng phát
18
triển” đã được tổ chức tại thành phố HCM. Trong hội thảo, nhiều nhà tâm lý, giáo
dục cũng đã đề cập đến vấn đề tham vấn học đường như là một điều “khẩn thiết”
nhằm hỗ trợ HS và nhà trường trong hoạt động giáo dục. Sở Giáo dục – Đào tạo
thành phố HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn
học đường trong thời gian này với sự tham gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà
trường và phụ huynh HS. Ngoài ra, chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ nữ
Tp. HCM khởi xướng (ThS. Nguyễn Thị Oanh phụ trách) cũng nhận được sự hưởng
ứng rất nhiệt tình của đông đảo HS, phụ huynh và các trường học. Tháng 06 năm
2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được
nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc.
Chỉ khi các nhu cầu cấp thấp được đáp ứng đầy đủ mới xuất hiện các nhu
cầu cấp cao. Ngược lại, khi đã ở những nấc cao của nhu cầu con người không còn
phải bận tâm về những nhu cầu cấp thấp nữa. Các tác giả khi nghiên cứu về nhu
cầu, đều thống nhất rằng nhu cầu là nguồn gốc mọi hành động của con người. Khi
một nhu cầu xuất hiện, sẽ hình thành trong con người một động cơ, thôi thúc hành
động để thoả mãn nhu cầu đó…
* Quan điểm của phân tâm học
Đại diện tiêu biểu là S.Freud (1856 - 1939), ông cho rằng, đời sống tâm lý
của con người bao gồm 3 khối (cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi). Trong đó nhu cầu tự
nhiên là bản năng tình dục (cái ấy) khi không được thoả mãn bị dồn nén sẽ thăng
hoa thành động lực chủ đạo thúc đẩy con người hành động trong nhiều lĩnh vực: lao
động, học tập, khoa học, nghệ thuật, kinh tế…Theo ông mọi nhu cầu khác chỉ là
biến thể của nhu cầu tự nhiên, chúng vẫn có cái gốc là nhu cầu tự nhiên, là bản năng
tình dục. Cũng theo ông mọi nhu cầu của con người cần phải được thoả mãn trong
đời sống hiện thực hoặc là trong giấc mơ. Đặc biệt, nếu sử dụng năng lựợng tình
dục (libido) được giải phóng thì nó sẽ thăng hoa giúp con người trở thành thiên tài
tạo nên những tác phẩm văn học nghệ thuật bất hủ, những công trình nghiên cứu
khoa học vĩ đại….Vì vậy học thuyết của S.Freud chủ trương giải phóng (cái ấy)
khỏi sự chèn ép của cái siêu tôi.
* Quan điểm của chủ nghĩa hành vi
20
J. Watson (1878 - 1958), người khởi xướng ra Tâm lý học hành vi ở Mỹ
(1913) cho rằng: “ Khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể sẽ tạo ra phản
ứng tương ứng đáp lại theo công thức:
S R
(Kích thích Phản ứng )
Tuy nhiên, các nhà tâm lý học hành vi đã không xét đến yếu tố tâm lý ẩn
đằng sau mỗi hoạt động, thúc đẩy hoạt động xảy ra. Hơn thế nữa, họ còn không đề
cập, chú ý đến tính tích cực, tính chủ thể trong đời sống của mỗi người. Cùng một
kích thích nhưng tác động vào mỗi người khác nhau là khác nhau. Như thế, chủ
hoạt động của bộ óc tất cả công lao làm cho xã hội phát triển được nhanh chóng và
đáng lẽ người ta phải giải thích rằng hoạt động của mình là do nhu cầu của mình
quyết định (mà những nhu cầu đó quả thật đã phản ánh vào trong đầu óc con người,
làm cho họ có ý thức đối với những nhu cầu đó) thì người ta lại quen giải thích rằng
hoạt động của mình là do tư duy của mình quyết định”. [1 ; 280]
D.N. Uznetze là một trong những người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết
nghiên cứu về nhu cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi.
Tương ứng theo mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: không có gì đặc
trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu. Nhu cầu, đó là cội
nguồn của tính tích cực, với ý nghĩa này thì khái niệm nhu cầu rất rộng. Nhu cầu là
một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi,
ông quan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó xác định
xu hướng, tính chất hành vi. Và ông cũng cho rằng: Có thể dựa vào nhu cầu của con
người để phân loại hành vi của con người.
X.L.Rubinstein khẳng định rằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bản
chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề
cơ bản của con người với nhân cách. Nói đến nhu cầu của con người là nói đến việc
đòi hỏi một cái gì đó hay một điều gì đó nằm ngoài con người trong quá trình hoạt
động để thỏa mãn nó. Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào
thế giới đối tượng, trong những điều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ
lực, năng lực của chính chủ thể. Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ
thống là: thế giới đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể. Tức là phải có mối
22
quan hệ thống nhất giữa hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan
(của chủ thể) trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu mang tính tích cực, thúc
đẩy con người hoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện đối tượng thỏa mãn nó.
A.N. Leonchiep cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý khác của con
người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn. Theo ông, nhu cầu
thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái
gì đó. Trong mối quan hệ giữa đối tượng thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu, ông cho
tại và phát triển”. [29 ; 204]
- Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nhu cầu là “điều cần thiết để đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển của con người. Được thoả mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì căng
thăng và ấm ức. Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, khi hoà
nhập, khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo. Nhu
cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi.” [31 ; 266]
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nó chi phối mạnh mẽ đến
đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Chính sự cần thiết
đáp ứng những đòi hỏi tất yếu sẽ nảy sinh và thúc đẩy tính tích cực của con người
và thể hiện rõ nét bản chất xã hội của con người. Đồng thời cũng đảm bảo cho con
người tồn tại và phát triển.
Theo chúng tôi: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thỏa
mãn để tồn tại và phát triển” trong cuốn giáo trình “Tâm lý học đại cương” do
Nguyễn Quang Uẩn chủ biên (2011). [29; 204]
1.2.1.2. Đặc điểm nhu cầu
Thứ nhất: Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng. Đặc điểm đầu tiên và chủ yếu
của bất kỳ một nhu cầu nào đó cũng phải kể đến là tính đối tượng. Đối tượng của
nhu cầu là tất cả những yếu tố vật chất và tinh thần trong thế giới hiện thực có thể
được thoả mãn để tồn tại và phát triển cá nhân. Nhu cầu không tách rời hoạt động,
mà hoạt động luôn có đối tượng. Khi chưa có đối tượng nhu cầu chưa tồn tại theo
đúng nghĩa của nó, lúc ấy cá nhân chỉ là trạng thái thiếu thốn hoặc mong muốn một
cách mơ hồ. Khi bắt gặp sự vật, đối tượng có khả năng thoả mãn sự thiếu thốn của
cơ thể, khi đó nhu cầu mới thực sự xuất hiện.
24
Thứ hai: Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thoả
mãn nó quyết định. Mỗi cá nhân đều được đặt trong một điều kiện sống nhất định,
rộng hơn là một điều kiện xã hội lịch sử cụ thể. Điều kiện sinh hoạt vật chất là cơ sở
tạo nên mặt nội dung của nhu cầu. Vì thế khi xem xét nội dung của nhu cầu, ta có
thể thấy được những điều kiện sống bên ngoài của cá nhân đó. Mặt khác, thông qua
những phương thức thoả mãn nhu cầu, chúng ta có thể đánh giá được điều kiện