BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thư Hà
RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
VIÊN Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thư Hà
RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
VIÊN Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành :
Tâm lý học
Mã số
60 31 04 01
và tích cực tham gia cùng tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh/chị, các bạn lớp
Tâm lý K22; đến những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong
khi học cũng như trong quá trình thực hiện luận văn.
Trần Thư Hà
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
T
1
Lời cảm ơn
T
1
Mục lục
T
1
1T
1T
1T
Danh mục các chữ viết tắt
T
T
1
T
1
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................ 5
T
1
T
1
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước.................................................................... 6
T
1
T
1
1.2. Khái niệm rối nhiễu tâm lý ............................................................................. 10
T
1
T
1
1.3. Rối nhiễu lo âu, căng thẳng nghề nghiệp, rối nhiễu nhân cách ...................... 15
T
1
1.4.1. Nghề điều dưỡng ...................................................................................... 33
T
1
1T
1.4.2. Vai trò và đặc điểm tâm lý của điều dưỡng viên...................................... 36
T
1
T
1
1.4.3. Biểu hiện rối nhiễu tâm lý của điều dưỡng viên ...................................... 40
T
1
T
1
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ......................................................................................... 43
T
1
1T
Chương 2. THỰC TRẠNG RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
T
1
T
1
2.2.1. Rối nhiễu lo âu của điều dưỡng viên ....................................................... 54
T
1
T
1
2.2.2. Căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng viên......................................... 66
T
1
T
1
2.2.3. Rối nhiễu nhân cách của điều dưỡng viên ............................................... 82
T
1
T
1
2.2.4. Quan điểm của điều dưỡng viên với những đánh giá hiện nay của
T
1
xã hội về nghề điều dưỡng ....................................................................... 87
T
T
1
T
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 102
T
1
1T
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTNN
:
căng thẳng nghề nghiệp
RNLA
:
rối nhiễu lo âu
RNNC
:
Bảng 2.5.
Tỷ lệ mức độ RNLA về mặt tâm lý ..................................................... 60
Bảng 2.6.
Sự khác biệt RNLA theo lứa tuổi và khoa làm việc............................ 61
Bảng 2.7.
Những nguyên nhân chủ quan của RNLA .......................................... 64
Bảng 2.8.
Biểu hiện CTNN về mặt sinh lý – thể chất ........................................ 66
Bảng 2.9.
Tỷ lệ mức độ CTNN về mặt sinh lý – thể chất .................................. 69
Bảng 2.10.
Biểu hiện CTNN về mặt tâm lý .......................................................... 70
Bảng 2.11.
Tỷ lệ mức độ CTNN về mặt tâm lý .................................................... 73
Bảng 2.12.
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
Bảng 2.20.
T
1
Đánh giá của điều dưỡng viên về mức độ cần thiết của nhóm
biện pháp bệnh viện thực hiện............................................................. 92
T
1
Bảng 2.21.
T
1
Đánh giá của điều dưỡng viên về mức độ cần thiết của nhóm
biện pháp từ phía xã hội ...................................................................... 93
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1.
Các mức độ rối nhiễu tâm lý theo APA ............................................ 11
Biểu đồ 2.1.
Biểu hiện RNLA về mặt sinh lý – thể chất ....................................... 56
Biểu đồ 2.2.
Tỷ lệ mức độ RNLA về mặt sinh lý – thể chất ................................. 58
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
T
1
tố nguy cơ quan trọng làm tăng thêm những bệnh lý về tim mạch, tiểu đường, tiêu
hóa… Trong nhiều bệnh thực thể, những người có sẵn rối nhiễu tâm lý từ trước sẽ
chậm trễ trong việc điều trị, tìm kiếm sự giúp đỡ khiến cho bệnh nặng hơn. Ngược
lại, những người mắc bệnh mãn tính, bệnh nan y dễ bị rối nhiễu tâm lý” [4]. Ngoài
ra, theo WHO, những người sống trong các tình trạng rối nhiễu tâm lý, như: rối loạn
trầm cảm, lo lắng, căng thẳng thần kinh, rối loạn hành vi sẽ dễ sa sút trong học tập,
làm việc và có thể bị thất học, thất nghiệp, nặng hơn có thể tự tử…
Nguyên nhân dẫn đến rối nhiễu tâm lý không chỉ là yếu tố bệnh lý mà còn do
rất nhiều yếu tố khác. Điều kiện xã hội, hoàn cảnh sống, áp lực học tập - công
việc… cũng làm cho con người rơi vào tình trạng rối nhiễu tâm lý.
Rối nhiễu tâm lý có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, trong đó có điều
dưỡng viên. Rối nhiễu tâm lý của điều dưỡng biểu hiện chủ yếu là: lo âu; căng
thẳng, mệt mỏi; rối nhiễu hành vi và nhân cách khiến họ mất tập trung trong công
việc, sinh hoạt cuộc sống hàng ngày gặp nhiều trở ngại, sức khỏe giảm sút…
Điều dưỡng viên được coi là một trong những đối tượng dễ bị rối nhiễu tâm lý
vì ba nguyên nhân chính sau đây:
• Thứ nhất, do môi trường làm việc có nhiều yếu tố bất lợi, như: vi sinh vật gây
bệnh làm cho người điều dưỡng có nguy cơ mắc bệnh lây nhiễm cao; đối
tượng tiếp xúc thường xuyên của điều dưỡng viên là người bệnh, nhiều khi
bệnh nhân “giận” bệnh, sẽ “giận” lây sang cả điều dưỡng; yêu cầu của bệnh
2
viện với điều dưỡng viên khá cao, thường xuyên kiểm tra định kỳ hoặc đột
xuất kỹ năng lâm sàng và kiến thức nghề nghiệp của điều dưỡng…
• Thứ hai, do đặc trưng nghề nghiệp, thời gian làm việc thất thường (phải trực
đêm, trực trong các ngày nghỉ lễ, làm theo ca kíp). Điều dưỡng viên cũng chịu
áp lực khi không được quyền tự quyết trong công việc của mình, luôn phải
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng rối nhiễu tâm lý của điều dưỡng viên ở một số bệnh viện
tại thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giúp điều
dưỡng viên phòng tránh, giảm thiểu rối nhiễu tâm lý.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Rối nhiễu tâm lý của điều dưỡng viên bệnh viện.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Điều dưỡng viên đang làm việc ở một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu rối nhiễu tâm lý của điều dưỡng viên trong công việc và cuộc
sống hàng ngày biểu hiện qua 3 nhóm: nhóm rối nhiễu lo âu, nhóm căng thẳng nghề
nghiệp và nhóm rối nhiễu nhân cách.
4.2. Về khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là 200 điều dưỡng viên đang làm việc ở một số khoa
của 4 bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh: bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, bệnh
viện Thống Nhất, bệnh viện Nhân dân Gia Định, bệnh viện Nhi Đồng 2.
Mỗi bệnh viện nghiên cứu 50 điều dưỡng viên.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Điều dưỡng viên bệnh viện có những biểu hiện của rối nhiễu tâm lý, như: rối
nhiễu lo âu, căng thẳng nghề nghiệp và rối nhiễu nhân cách. Xét trên tổng thể mức
độ xuất hiện các biểu hiện thì có những điều dưỡng đã bị rối nhiễu tâm lý.
Nếu tìm hiểu được thực trạng và nguyên nhân rối nhiễu tâm lý của điều dưỡng
viên sẽ đề xuất được một số biện pháp phù hợp giúp điều dưỡng viên bệnh viện
phòng tránh, giảm thiểu rối nhiễu tâm lý.
4
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Hầu hết các nghiên cứu về RNTL và điều trị RNTL được tiến hành ở các nước
nói tiếng Anh và các nước Phương Tây.
Vào những năm 1955, một số tác giả đã quan tâm đến việc nghiên cứu yếu tố
tâm lý ảnh hưởng đến sức khỏe [24], Naiemeh Seydefatamie, Maryam Tfreshi và
Hamid Hagani nghiên cứu khách thể là sinh viên năm nhất đã thu được kết quả: rối
nhiễu tâm lý của sinh viên là 65,8%; stress trong môi trường tình huống không quen
thuộc là 64,2%; stress nhiều hơn đáng kể so với sinh viên năm thứ tư.
Một nghiên cứu ở Tehran với mẫu khảo sát có đặc điểm: hầu hết các sinh viên
là nữ tỉ lệ 87,2% từ 18 đến 24 tuổi, khoảng 57% sinh viên sống trong ký túc xá của
trường học đến từ các nước khác. Kết quả nghiên cứu, sinh viên gặp khó khăn khi
stress thì mới tìm kiếm bạn bè tỉ lệ 76,2% và thay đổi các mối quan hệ trong xã hội
tỉ lệ 63,4%. [28]
Kết quả một nghiên cứu định tính của nhóm tác giả H.J Hoekstra, B.B Van
Meijel, T.G Vande Hoflemen trên sinh viên Điều dưỡng năm nhất về nhận thức đối
với các bệnh nhân tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần ảnh hưởng đến sự lựa
chọn của họ về chuyên môn trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần và tương lai
làm việc trong lĩnh vực này. Phương pháp phỏng vấn sinh viên tại một trường học
của Hà Lan. Kết quả, 70% sinh viên có nhận thức tiêu cực đối với người bệnh bị
tâm thần. [26]
Khi tìm hiểu: “Sức khỏe tâm lý của nữ hộ sinh Úc trong lúc mang thai và sau
khi sinh”, tác giả Mc.Cann, T.V. Klark.E và cộng sự đã khảo sát các nữ hộ sinh này
tại các bệnh viện phụ sản Melbourne, Australia. Kết quả cho thấy: những phụ nữ có
niềm tin tôn giáo thì mức độ rối nhiễu tâm lý thấp hơn nhiều so với các nhóm còn
lại. Như vậy yếu tố niềm tin trong bản thân mỗi nữ hộ sinh giúp họ giảm thiểu
những vấn đề rối nhiễu tâm lý. [25]
6
Nhiều nghiên cứu gần đây đã cho biết mức độ phổ biến của các RNTL ngày
7
viên nữ, những yếu tố liên quan đến môi trường học tập có tác động mạnh mẽ.
Chiều hướng tích cực của sức khỏe tâm thần được đo lường thông qua các thang đo
về hạnh phúc và hy vọng trên sinh viên nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố liên
quan đến nhà trường. Đối với nữ, tất cả các yếu tố bao gồm các đặc điểm về gia
đình, nhà trường và xã hội đều có tác động đến cảm nhận về hạnh phúc và hy vọng
của họ. [15]
• Nhóm tác giả Trần Ngọc Đăng và cộng sự (2010) xác định tỷ lệ RNTL và
các yếu tố liên quan đến RNTL (bao gồm yếu tố nhà trường, gia đình và bản thân)
của sinh viên khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
là: 58,47%, không có sự khác biệt về tỷ lệ rối nhiễu tâm lý giữa nam và nữ. Ngoài
ra, nhóm cũng tìm thấy một số yếu tố gia đình, nhà trường, bản thân có liên quan
đến RNTL. [15]
• Một nhóm tác giả khảo sát nhận thức về sức khỏe tâm thần trong dân số
chung ở Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2002 của Bệnh viện tâm thần cho thấy
cộng đồng hiểu biết về sức khỏe tâm thần còn ít và phiến diện, tuy nhiên có sự đồng
ý cao với khái niệm “Cuộc sống hạnh phúc là cuộc sống không có bệnh tật và chan
hòa tình cảm của bản thân với mọi người xung quanh”. [15]
• Nghiên cứu về mới đây bạo lực tình dục tại Việt Nam, những người cung
cấp thông tin tin rằng bạo lực không chỉ ảnh hưởng về thực thể mà còn cả về sức
khỏe tâm lý của phụ nữ. Lạm dụng tình dục được đề cập ít nhất. Bạo lực tình dục
được xem là riêng tư và không được thảo luận cởi mở trong cộng đồng. Phụ nữ sẽ
tìm kiếm sự chăm sóc sức khỏe chỉ trong những trường hợp rất nghiêm trọng. Các
nhóm hòa giải ở địa phương được dùng để dàn xếp các trường hợp bạo lực tình dục.
Nhân viên y tế có nhận thức về bạo lực tình dục và lên án nó nhưng không được
chuẩn bị để can thiệp. Tình trạng này thường do không biết biểu hiện của vấn đề,
hoặc không được đào tạo đầy đủ. [5]
• Một nghiên cứu stress trong việc nuôi con cái của các gia đình có con nhỏ
chậm phát triển trí tuệ ở Miền Trung Việt Nam: 106 người mẹ và 93 người cha có
con được phát hiện chậm phát triển trí tuệ, được thực hiện với cha mẹ có con tàn tật
trẻ sống trong gia đình bạo lực thì có đến 36,5% trẻ bị lo âu, trầm cảm ở mức độ
nhẹ; 15,4% trẻ ở mức độ vừa và 15,3% trẻ trầm cảm ở mức độ nặng. Từ chỗ lo âu,
9
trầm cảm dẫn đến trẻ có những hành vi gây hấn, sai phạm. Có 11,5% trẻ có nhiều
hành vi gây hấn. Hơn 30% trẻ có hành vi sai phạm, trong đó 7,7% trẻ có nhiều hành
vi sai phạm. [5]
RNTL của điều dưỡng viên cũng được một số tác giả chú ý tìm hiểu, cụ thể
là những nghiên cứu sau:
• Đề tài nghiên cứu “Rối loạn tâm thần ở điều dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu năm 2009” của nhóm tác giả Trương Đình Chính, Cao Ngọc Nga,
Nguyễn Đỗ Nguyên và Ngô Tích Linh được thực hiện trên 382 điều dưỡng và nữ hộ
sinh được chọn ngẫu nhiên hệ thống tại các cơ sở y tế công của tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ có rối loạn tâm thần là 59%. Những yếu
tố thuộc môi trường làm việc có liên quan đến khả năng mắc rối loạn tâm thần là
làm việc tại các khoa nhiều bệnh nhân hoặc bệnh nhân nặng, công việc đòi hỏi quan
sát hoặc lựa chọn chính xác. Các yếu tố gia đình và xã hội có liên quan với
khả năng mắc các rối loạn tâm thần là bất hòa với hàng xóm. [2]
• Nhóm tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh thực hiện đề tài
“Tình hình căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng” [16] với mục đích
nhằm xác định tỉ lệ nhân viên điều dưỡng bị CTNN tại bệnh viện đa khoa Trung
ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu
Thành - Hậu Giang, đồng thời xác định các yếu tố có thể gây CTNN cho 378 nhân
viên điều dưỡng ở ba tuyến bệnh viện này. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỉ lệ
45,2% bị căng thẳng ở mức cao; 42,8% ở mức trung bình. Tại bệnh viện Đa khoa
Trung ương Cần Thơ, tỉ lệ điều dưỡng bị căng thẳng cao nhất với 53,1%. Các tác giả
cũng đưa ra một số yếu tố có thể gây CTNN cho điều dưỡng, bao gồm:
- Yếu tố cá nhân: thâm niên công tác.
- Tính chất công việc: làm việc quá giờ (>8h/ngày) và công việc nhiều áp lực.
Ở nước ngoài: có một số tổ chức và cá nhân đã xây dựng khái niệm rối
nhiễu tâm lý như sau:
• APA – Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ trong DSM – IV – TR (Dignosic &
statistical Manual of Mental díosdess - Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu
tâm thần) đã đưa ra khái niệm: “RNTL một hành vi có ý nghĩa lâm sàng hoặc một
hội chứng tâm lý xuất hiện ở một cá nhân gây ra sự đau khổ, bất lực, rối loạn chức
11
năng, làm gia tăng hành vi nguy cơ tự hủy hoại bản thân, làm cá nhân mất khả năng
kiểm soát bản thân”. Khái niệm RNTL này được sử dụng nhằm phân biệt RNTL với
những rối loạn sinh lý do tổn thương thực thể hoặc do não bộ gây ra. APA cũng
xây dựng “Các mức độ rối nhiễu tâm lý” – Sức khỏe tâm lý được biểu diễn là hàm
số liên tục khác với quan niệm cũ là “hay có bệnh” . [20]
Hội chứng rối nhiễu tâm lý (nặng)
Triệu chứng nhẹ, thoáng qua: tai nạn; ảnh hưởng trầm cảm;
cảm giác lo lắng, mất người thân, người sống sót tội lỗi; tâm
thể; khó chịu; ngủ khó khăn, tuyệt vọng; nóng nảy; lo ngại;
cảm thấy quan trọng của người khác; tự tử.
Những vấn đề tâm lý, xã hội: tăng hành vi uống rượu; bạo lực;
lạm dụng thuốc, các chất kích thích…
Sức khỏe tâm lý bình thường
Biểu đồ 1.1. Các mức độ rối nhiễu tâm lý theo APA
13
có các tiêu chí chẩn đoán rõ ràng, được thừa nhận trên khắp thế giới. Bảng phân loại
rối loạn tâm thần và hành vi của Tổ chức Y tế thế giới đưa ra năm 1992 (ICD – 10,
1992) và Bảng tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại rối loạn tâm thần của các nhà tâm
thần học Mỹ tái bản và bổ sung năm 2000 (DSM – IV – TR, 2000) là hai công cụ đã
được quốc tế hóa, được các nhà tâm thần học, tâm lý học, công tác xã hội sử dụng
nhiều trong nghiên cứu và chẩn đoán, trị liệu RNTL ở người lớn cũng như trẻ
em. Bảng phân loại bệnh tâm thần của Hiệp hội tâm thần Mỹ (DSM - IV – TR,
2000) mô tả khoảng 250 RNTL khác nhau. Một số RNTL phổ biến có thể kể đến
như: rối loạn ăn uống (chán ăn, ăn vô độ…), rối loạn cảm xúc (trầm cảm, hưng
cảm…), rối loạn dạng cơ thể, rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu và rối loạn nhân
cách... [20]
• Một số tác giả là Robert S.Feldman (2003), Paul Bennett (2003), James
E.Maddux và Barbara A. Winstead (2008) đều cho rằng: một kinh nghiệm hay một
hành vi ứng xử của cá nhân được xem là rối nhiễu phải đáp ứng các tiêu chí: lệch
chuẩn về mặt thống kê, rối loạn chức năng, rối loạn stress, sai lệch các nguyên tắc
xã hội, làm suy giảm hoạt động nghề nghiệp, đời sống gia đình và xã hội, đặt cá
nhân vào tình huống nguy hiểm. Những người bị các triệu chứng: lo âu không rõ lý
do kéo dài, buồn rầu, ám sợ đám đông, bị tổn thương tâm lý, khó tập trung trong
công việc, chán nản, rối nhiễu hành vi…ở mức độ nhẹ và do các sự kiện trong cuộc
sống gây ra được gọi là những người bị RNTL. Chữa trị RNTL cần phải sử dụng
các liệu pháp tâm lý. [18]
Ở Việt Nam, RNTL là khái niệm đã được các tác giả trong nước đề cập chủ
yếu trong những nghiên cứu ở lĩnh vực trị liệu tâm lý.
• Thuật ngữ “rối nhiễu tâm lý” được dịch từ tiếng Anh là “mental disorder”,
tiếng Pháp là “trouble mentaux”. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sử dụng thuật ngữ này
thay cho “rối loạn tâm thần”, “bệnh tâm thần” hay “bệnh lý” trong thăm khám và
chữa trị tâm lý cho trẻ em và thanh niên ở Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em (N T). Trong tác phẩm “Tâm lý lâm sàng trẻ em Việt Nam” (1999), Nguyễn Khắc Viện
loạn tâm lý thì đều mang nội dung ý nghĩa như nhau.
15
- Không giống các bệnh thực thể khác, chẩn đoán RNTL bác sĩ phải dựa trên
kết quả hỏi khám lâm sàng tỉ mỉ và trình tự tư duy phân tích tâm lý lâm sàng và tâm
thần học, các xét nghiệm khác chủ yếu giúp loại trừ bệnh thực thể.
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về RNTL, tuy nhiên chúng ta có thể
hiểu một cách chung nhất: RNTL là trạng thái bệnh lý về mặt tinh thần, cũng giống
như những bệnh khác về mặt cơ thể. Đó không phải là điên, hay thần kinh như mọi
người thường nghĩ. Một người có RNTL là người có các hành vi, cảm xúc kém
thích nghi, mang tính kỳ lạ, gây đau khổ hoặc làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc
sống, mối quan hệ của bản thân và những người xung quanh.
Trên cơ sở các quan niệm và phân tích trên, xuất phát từ mục đích nghiên
cứu của đề tài, chúng tôi thống nhất với khái niệm RNTL của APA, theo đó:
“RNTL là hành vi có ý nghĩa lâm sàng hoặc một hội chứng tâm lý xuất hiện ở
một cá nhân gây ra sự đau khổ, bất lực, rối loạn chức năng, làm gia tăng hành vi
nguy cơ tự hủy hoại bản thân, làm cá nhân mất khả năng kiểm soát bản thân”.
1.3. Rối nhiễu lo âu, căng thẳng nghề nghiệp, rối nhiễu nhân cách
1.3.1. Rối nhiễu lo âu
1.3.1.1. Khái niệm rối nhiễu lo âu
Dr Savitri Ramaiah khi nghiên cứu về lo âu đã có những phân tích về lo âu, sợ
hãi, rối nhiễu lo âu như sau: [19]
- Lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa,
khó chịu, mơ hồ, kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã mồ
hôi, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị, bứt rứt, không thể ngồi yên
hoặc đứng yên một chỗ. Ngoài ra còn kèm theo các triệu chứng: kém tập trung chú
ý, không thể thư giãn, kích động cơ thể. Lo âu về bản chất là sự đáp ứng với một đe
dọa không được biết trước từ bên trong.
- Khác với lo âu, sợ hãi lại là một đáp ứng với một đe dọa được biết rõ từ bên
giao cảm này có thể dẫn đến chóng mặt và ngất cũng như cảm giác dị cảm ở đầu
chi, mất cảm giác hoặc tê bì quanh miệng. Những triệu chứng lo âu có thể theo tình
huống hoặc trôi lơ lửng. Lo âu tình huống được gây ra bởi một phản ứng quá mức
với những yếu tố sang chấn môi trường bên ngoài, có thể nhận diện được. Trái lại,