tìm hiểu nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trung học cơ sở - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Lý do
chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11, 12 đến 14,
15 tuổi (tương đương với những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường
THCS). Lứa tuổi này còn được gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí
đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng lứa tuổi học sinh THCS là giai
đoạn quá độ, giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn. Điều đó tạo nên
nội dung cơ bản của sự khác biệt giữa lứa tuổi này với lứa tuổi khác. Đó là sự
xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả biến đổi mạnh mẽ
của ý thức và tự ý thức; của nội dung và hình thức hoạt động học tập; của các
kiểu quan hệ với người lớn, với bạn bè và của tính tích cực xã hội ở các em.
Điều này làm nảy sinh trong các em cảm giác mới lạ, độc đáo - cảm giác
mình đã trở thành người lớn. Học sinh THCS muốn tò mò, khám phá thế giới,
muốn được độc lập và bình đẳng với người lớn, muốn đứng ngang hàng với
người lớn, muốn được người lớn tôn trọng và công nhận vị thế của mình trong
xã hội. Nhưng trên thực tế các em vẫn là học sinh, chưa thực sự là người lớn,
vẫn phải phụ thuộc vào cha mẹ, thầy cô, các em vẫn còn là những người thiếu
kinh nghiệm trong mọi mặt của đời sống xã hội.
Sự mâu thuẫn giữa nhu cầu vươn lên làm người lớn và địa vị thực tế của
học sinh THCS đã tạo nên những khó khăn tâm lý trong tâm hồn các em.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Thế kỷ XXI, thế kỷ của công nghệ mới, của sự bùng nổ thông tin mạng, thế
kỷ của mở cửa và hội nhập, của sự giao thoa văn hoá giữa các quốc gia, dân tộc
và vùng lãnh thổ trên thế giới. Sự giao thoa, du nhập tất cả các lối sống, các hoạt
động, cả tích cực lẫn tiêu cực đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.
111
Hoà chung xu thế mở cửa và hội nhập với thế giới, Việt Nam cũng đã và
đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế và sự thực thì

2
2
học sinh, đặc biệt là học sinh THCS để giúp các em có khả năng tốt hơn trong
việc giải quyết những khó khăn tâm lý gặp phải trong cuộc sống và trong học
tập còn là một lĩnh vực khá mới mẻ cần nghiên cứu và phát triển.
Xuất phát từ những vấn đề đó, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“Tìm hiểu nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trung học cơ sở”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS. Trên cơ
sở đó kiến nghị một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn của các
em.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu ở học sinh hai khối lớp 8 và khối lớp 9 thuộc hai trường THCS
Thanh Xuân Nam (quận Thanh Xuân) và trường THCS Tân Trào (quận Hoàn
Kiếm), TP Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Học sinh THCS có thể gặp nhiều khó khăn tâm lý như: Lo lắng về sự phát
triển cơ thể, áp lực trong học tập, đặc biệt khó khăn trong giao tiếp với bạn bè,
với người lớn từ đó các em có nhu cầu tham vấn về những vấn đề trên.
5. Giới hạn phạm vi nghên cứu đề tài
5.1. Về đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu về một số khó khăn tâm lý
mà học sinh THCS thường gặp trong học tập cũng như trong cuộc sống, trên
cơ sở đó tìm hiểu nhu cầu tham vấn tâm lý để giải toả những khó khăn tâm lý
đó của các em.
5.2. Về khách thể nghiên cứu
333

Quan điểm của chủ nghĩa hành vi mà J. Watson (1878 - 1958) là ngời
khởi xớng cho rằng: khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể sẽ tạo ra
một phản ứng tơng ứng để đáp lại. Vì thế mọi hành vi của cơ thể tạo ra đều đ-
ợc biểu đạt theo công thức:
S - R (Kích thích - phản ứng)
J.Watson hoàn toàn không đề cập đến giữa kích thích và phản ứng có
cái gì. Ông không xét đến yếu tố tâm lý ẩn đằng sau mỗi hoạt động, thúc đẩy
hoạt động bộc lộ ra bên ngoài. Và điều đó có nghĩa là ông không chú ý đến
tính tích cực của chủ thể trong đời sống của mỗi con ngời. Chính vì vậy, ụng
đã không giải thích đợc nhiều hiện tợng tâm lý xảy ra trong thực tế. Sai lầm
này đã đa lý thuyết hành vi của J. Watson vào chỗ bế tắc.
Sau J. Watson, E. Tolman (1886 - 1959) - ngời khởi xớng ra chủ nghĩa
hành vi mới đã đề cập đến vấn đề mà chủ nghĩa hành vi cổ điển bỏ qua, tức là
nghiên cứu xem có cái gì xảy ra giữa S và R. Yếu tố trung gian này đã can
thiệp vào trong quá trình tạo ra phản ứng. Bởi vì quá trình phản ứng không chỉ
có kích thích vật lý bên ngoài mà còn cả những nhân tố tâm lý bên trong đó là
nhu cầu tiếp nhận cái kích thích đó.
Nhà tâm lý học ngời áo S.Freud (1856 - 1939) đã đề cập tới nhu cầu
trong Lý thuyết bản năng của con ngời. Theo ông, lực vận động hành vi con
ngời nằm trong bản năng. Đời sống tâm lý của con ngời gồm ba khối cái nó,
cái tôi và cái siêu tôi. Trong đó nhu cầu tự nhiên là bản năng tình dục,
cái nó khi không đợc thoả mãn, bị dồn nén sẽ thăng hoa thành động lực chủ
đạo thúc đẩy con ngời hoạt động trong nhiều lĩnh vực: lao động, học tập, khoa
6
6
6
6
6
6
học, văn hoá Ông khẳng định rằng, tất cả hành vi của con ngời đều hớng tới

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, cú nhiều nghiên cứu chuyên biệt về
nhu cầu con ngời. Đầu tiên là lý thuyết hệ ng cơ do K. Lewin đề xớng. K.
Lewin cho rằng, dới sự tác động của nhu cầu nào đó, trạng thái căng thẳng sẽ
xuất hiện, đồng thời ở chủ thể cũng xuất hiện sự liên tởng có liên quan với nhu
cầu. Ông nhấn mạnh rằng, thật sai lầm nếu chỉ nghĩ rằng những nhân tố thực
của hoạt động tâm lý con ngời chỉ xuất phát từ nhu cầu cơ thể mà nó còn đợc
xuất phát từ nhu cầu xã hội. Mọi dự định, ý nghĩ là một dạng của nhu cầu, từ
đó dẫn đến sự xuất hiện hệ thống căng thẳng và đó cũng là nguyên nhân tạo ra
sự hoạt động tích cực của con ngời, hoạt động sẽ làm dịu đi sự căng thẳng
Abraham Maslow (1908 - 1970) nhà tâm lý học Mĩ đại diện cho trờng
phái Tâm lý học Nhân văn, với lý thuyết Phân bậc nhu cầu, đã nhìn nhận nhu
cầu của con ngời theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ nhu
cầu cấp thấp đến nhu cầu cấp cao nhất. A. Maslow nhận định rằng khi một
nhu cầu đợc thoả mãn thì nó không còn là động lực thúc đẩy. Và những nhu
cầu cơ bản của con ngời đợc ông xác định theo cấp tăng dần và thể hiện trong
các mức độ sau:
+ Mức thứ nhất: Các nhu cầu sinh lý, là nhu cầu cơ bản để duy trì bản
thân cuộc sống của con ngời, nh: Nhu cầu về thức ăn, nớc uống, nhà ở, thoả
mãn tình dục
+ Mức thứ hai: Các nhu cầu an ninh, an toàn, là nhu cầu tránh sự nguy
hiểm về thân thể, sự đe doạ mất việc làm, mất tài sản.
+ Mức thứ ba: Các nhu cầu xã hội, là nhu cầu giao lu với ngời khác và
đợc ngời khác thừa nhận.
+ Mức thứ t: Các nhu cầu đợc tôn trọng, là xu thế muốn đợc độc lập và
muốn đợc ngời khác tôn trọng ca con ngời khi đợc chấp nhận là thành viên
của xã hội. Đó là nhu cầu về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
8
8
8
8

đã bắt tay vào thử nghiệm để thiết lập và giải quyết vấn đề động cơ trong hoạt
động của con ngời. Dựa vào học thuyết của các tác gia kinh điển của chủ
nghĩa Mac - Lênin về con ngời, họ đã nhấn mạnh ý nghĩa căn bản của nhu
cầu, coi nó là động lực thúc đẩy con ngời hoạt động.
ầu tiên là D. N. Uznadze. Trong cuốn Tâm lý học đại cơng, xuất bản
năm 1940 bằng tiếng Gruzia, ở chơng Tâm lý học của hoạt động, ông viết:
Không có gì có thể đặc trng cho một cơ thể sống hơn là sự có mặt ở nó các
nhu cầu Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực, với ý nghĩa này thì khái
niệm nhu cầu rất rộng Các nhu cầu phát triển và điều không thể phủ nhận là
ở giai đoạn phát triển cao nhất thì con ngời có vô số những nhu cầu mới, mà
những nhu cầu này không những không có ở động vật mà còn không thể có ở
con ngời trong giai đoạn phát triển sơ khai [5, 12]. Ông viết: Cần xuất phát
từ cái gì trong khi phân loại các hình thái hành vi ngời? Vấn đề động cơ hay
nguồn gốc của tính tích cực có ý nghĩa cơ bản và ở đây khái niệm nhu cầu
phải giữ vai trò quyết định. D. N. Uznadze cho rằng khi có một nhu cầu cụ
thể nào đó xuất hiện, chủ thể hớng sức lực của mình vào thực tại xung quanh
nhằm thoả mãn nhu cầu đó, đấy chính là cách nảy sinh hành vi. Nh vậy, D. N.
Uznadze quan niệm rằng nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó
xác định xu hớng, tính chất hành vi. Ông là ngời đã khám phá ra quan điểm
mới về nhu cầu và sự liên quan của nó với các dạng khác nhau trong hành vi
con ngời.
10
10
10
10
10
10
Trong các công trình nghiên cứu của mình, X. L. Rubinstein đã bàn
nhiều về vấn đề nhu cầu. Theo ông, con ngời có nhu cầu sinh vật nhng bản
chất con ngời là sản phẩm của xã hội loài ngời. Do đó, X. L. Rubinstein nhấn

cầu và hoạt động đợc A.N. Lêonchiev mô tả bằng sơ đồ:
Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động
Đây là luận điểm có ý nghĩa quan trọng đối với tâm lý học mà trong đó
không một quan niệm nào dựa trên cơ sở của t tởng cho là có một động lực
mà trên nguyên tắc là tồn tại trớc bản thân hoạt động, lại có thể đóng vai trò
một quan niệm xuất phát, có khả năng dùng làm cơ sở đầy đủ cho một lý
thuyết khoa học về nhân cách của con ngời [16, 224].
Nh vậy, theo quan điểm của A.N. Lêonchiev, một hoạt động diễn ra bao
giờ cũng nhằm vào mục đích đạt đợc kết quả nhất định nào đó. Động cơ của
hoạt động chính là nhu cầu đã đợc đối tợng hoá và đợc hình dung trớc, dới
dạng các biểu tợng của kết quả hoạt động. Ông viết: Không phải nhu cầu,
không phải sự trải nghiệm về nhu cầu ấy mà là động cơ, một cái khách quan,
mà trong đó nhu cầu tìm thấy bản thân mình trong những điều kiện nhất
định.
Bên cạnh những tác giả trên, còn có nhiều tác giả trong quá trình nghiên
cứu của mình đề cập đến vấn đề nhu cầu ở nhiều góc độ khác nhau nh nhà tâm
lý học A. A. Xmirnôv, B.Ph.Lômôv, L.I. Bôjôvich, v.v Họ không chỉ vận dụng
lý luận về nhu cầu vào thực tiễn hoạt động mà còn bổ sung, làm phong phú
hơn lý luận về các loại nhu cầu đặc trng của con ngời.
- ở Việt Nam:
Bên cạnh các nghiên cứu nhu cầu mang tính lý thuyết của các nhà tâm
lý học nh Đỗ Long, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Un, còn có một số
công trình tiếp cận nghiên cứu nhu cầu trên khách thể là học sinh, sinh viên và
12
12
12
12
12
12
một số nhóm quần chúng nhân dân đã đợc thực hiện. Một số công trình có thể

chức năng một cách đầy đủ trong cuộc sống. Công tác tham vấn nhằm giúp
một ngời nào đó có khả năng đơng đầu tốt hơn với sự căng thẳng, tìm ra các
cung cách riêng mang tính thực tế để giải quyết các vấn đề và ra quyết định có
hiểu biết về việc sẽ làm gì để giảm bớt ảnh hởng của các vấn đề đó đối với bản
thân, gia đình và bạn bè. Nhà tham vấn ở đây có thể là một ngời lớn tuổi,
những ngời đứng đầu bộ tộc, buôn làng, cha xứ hay những nhà hiền triết, v.v.
Là quá trình xin và cho lời khuyên của một ngời có kinh nghiệm với
một ngời đang gặp khó khăn cần sự trợ giúp, tham vấn đã xuất hiện ngay từ
buổi bình minh của xã hội loài ngời. Tuy nhiên, với t cách là một hoạt động
chuyên môn, đợc nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong xã hội nh một nghề
mang tính chuyên nghiệp thì mãi đến thế kỷ XIX ngời ta mới thấy có những
dấu hiệu chính thức.
Sự ra đời và phát triển của tham vấn với t cách là một nghề mang tính
chuyên nghiệp nh hiện nay chịu tác động của nhiều yếu tố:
Trong phong trào đổi mới trợ giúp xã hội vào những năm cuối của thế
kỷ XIX với phơng pháp làm việc với cá nhân (case work), ngời ta đã chú trọng
sử dụng việc trao đổi trực tiếp với cá nhân nhằm tìm hiểu những nhu cầu cụ
thể để giúp đỡ các cá nhân và gia đình.
Các quá trình can thiệp để giúp đỡ những ngời bị tâm thần của các nhà
tâm thần học cũng nh các cách tiếp cận nhân đạo trong giáo dục cuối thế kỷ
XIX là một trong những cơ sở quan trọng làm tiền đề cho tham vấn ra đời với
t cách là một ngh chuyên nghiệp.
Sự ra đời và phát triển của tham vấn hớng nghiệp gắn liền với tên tuổi
Frank Parsens đã tạo ra sự phát triển nở rộ của các công trình nghiên cứu sau
đó. Quá trình tham vấn hớng nghiệp này là những tiền đề cần thiết cho tham
vấn ra đời.
14
14
14
14

Gestal tập trung vào kinh nghiệm hiện tại và nâng cao nhận thức của đối tợng
151515
là những lý thuyết đợc nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong tham vấn không
chỉ trong thời điểm đó và cả sau này. Vào thời gian này các trung tâm, các tr-
ờng học đào tạo về tham vấn bắt đầu đợc thành lập.
Ngày nay tham vấn đã đợc ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống của con
ngời. Các cán bộ tham vấn với t cách là các chuyên gia tham vấn hay các cán
bộ xã hội đợc làm việc trong các trờng giáo dỡng, trong các trung tâm tham
vấn tại cộng đồng, trong bệnh viên, nhà tù v.v. Các cán bộ tham vấn chuyên
nghiệp, đặc biệt trong các nghề trợ giúp nh luật pháp, y học, tâm lý học, công
tác xã hội phải đợc đào tạo ít nhất ở bằng thạc sĩ, đợc tập huấn về chuyên
môn và phải có bằng hành nghề do hội đồng quốc gia cấp. Ngời ta xem tham
vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động chất xám trợ giúp cho thân chủ có
khả năng đối diện với các vấn đề phức tạp, khó khăn trong cuộc sống. Vì thế
nó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lợng cuộc sống tinh thần cho
mỗi cá nhân và gia đình. Công tác tham vấn có thể đợc thực hiện với các cá
nhân,gia đình và các nhóm xã hội, cụ thể nó đợc thực hiện thông qua:
+ Công tác tham vấn cá nhân giải quyết các vấn đề tâm lý nh: lo sợ,
chán nản, muốn tự tử, sầu khổ, nạn nhân của bạo lực, tham vấn cải tạo/phục
hồi và các vấn đề cá nhân khỏc.
+ Tham vấn gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý nh: hôn nhân, bao
gồm cả việc hành hạ vợ/chồng, nạn bạo hành gia đình, mối quan hệ giữa bố
mẹ với con cái và mối quan hệ anh em ruột thịt.
+ Tham vấn nhóm gồm các cá nhân có những nhu cầu và những mối
quan tâm chung.
- ở Việt Nam:
Hiện nay hầu nh cha có tài liệu nào ghi lại sự phát triển của ngành tham
vấn ở Việt Nam trớc năm 1945.
Sau khi nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà chính thức ra đời, các hình
thức tham vấn trợ giúp dới dạng đài, báo đã bắt đầu xuất hiện. Hình thức tham

cán bộ tham vấn và ra lời khuyên đơn thuần nh trớc đây. Các cán bộ tham vấn
đã bắt đầu đợc đào tạo, bồi dỡng kiến thức, kỹ năng thông qua các khoá tập
huấn ngắn ngày. Chơng trình đào tạo cán bộ xã hội quốc gia đã bắt đầu có bộ
môn tham vấn. Hi vọng trong thời gian tới chúng ta sẽ có các địa chỉ chuyên
171717
nghiên cứu, đào tạo các chuyên gia tham vấn để hoạt động này ngày càng trở
nên chuyên nghiệp hơn.
Trong thời điểm hiện nay, để đáp ứng nhu cầu đang bức xúc của xã hội,
các chuyên gia tâm lý và tham vấn ở nớc ta đang đẩy mạnh việc nghiên cứu và
ứng dụng tham vấn vào nhà trờng. Đã có một số công trình nghiên cứu, khảo
sát thực trạng những khó khăn tâm lý và tìm hiểu nhu cầu tham vấn của học
sinh. Đã bắt đầu xuất hiện những mô hình trợ giúp tâm lý trong nhà trờng nhng
mới chỉ đang trong giai đoạn thử nghiệm. Nh vậy, mặc dù tham vấn trong học
đờng đã bắt đầu đợc quan tâm nghiên cứu nhng mới trong giai đoạn thăm dò
thử nghiệm. Đặc biệt những nghiên cứu về thực trạng thực hiện hoạt động tham
vấn và khả năng đáp ứng nhu cầu tham vấn của lực lợng giáo viên trong nhà tr-
ờng, lực lợng mà từ trớc đến nay vẫn tiến hành hoạt động tham vấn mang tính
chức năng cho học sinh, còn ít đợc nghiên cứu.
Tóm lại, hoạt động tham vấn chuyên nghiệp ở nớc ta còn rất mới mẻ
không chỉ về nghiên cứu lý luận mà còn cả về ứng dụng trong hoạt động thực
tiễn. Trong khi đó, nhu cầu tham vấn của xã hội, đặc biệt là nhu cầu tham vấn
của học sinh, sinh viên và thế hệ trẻ hiện nay là rất lớn. Việc này đòi hỏi các
nhà nghiên cứu, những chuyên gia tham vấn đầu ngành cần nỗ lực rất nhiều
trong việc nghiên cứu và phát triển ngành tham vấn trên mọi phơng diện.
1.2. Những vấn đề chung về nhu cầu tham vấn tâm lý
1.2.1. Khái niệm nhu cầu trong tâm lý học
1.2.1.1. Định nghĩa về nhu cầu
Theo t tởng của C. Mac thì tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con
ngời, và do đó, là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: ngời ta phải có khả năng sống
đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Nhng muốn sống đợc thì trớc hết cần phải

giới sự vật hiện tợng làm cho đối tợng bộc lộ để chiếm lĩnh, đồng thời với sự
thoả mãn nhu cầu, con ngời li tích luỹ thêm tri thức, kinh nghiệm phong phú
hơn. Điều đó cho thấy nhu cầu thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân với
hoàn cảnh.
Theo quan điểm của A.N. Lêonchiev thì: Nhu cầu là một trạng thái của
con ngời, cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng, con ngời nói chung sống và
hoạt động. Nhu cầu luôn có đối tợng, đối tợng của nhu cầu là vật chất hoặc
191919
tinh thần, chứa đựng khả năng thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò định h-
ớng, đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con ngời.
Nhìn chung, các quan niệm về nhu cầu nh trờn có sự tơng đồng, đều đi
đến khẳng định:
Nhu cầu của con ngời và xã hội là một hệ thống đa dạng, bao gồm nhu
cầu tồn tại (ăn uống, duy trì nòi giống, tự vệ), nhu cầu phát triển (học tập,
giáo dục, văn hoá), nhu cầu chính trị, tôn giáo v.v Nhu cầu của con ngời
xuất hiện nh những đòi hỏi khách quan của xã hội, do xã hội quy định, đồng
thời nhu cầu mang tính cá nhân với những biểu hiện phong phú và phức tạp.
Nhu cầu là hình thức tồn tại của mối quan hệ giữa cơ thể sống và thế
giới xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực, mọi hoạt động của con ngời
đều là quá trình tác động vào đối tợng nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó. Do
vậy, nhu cầu đợc hiểu là trạng thái cảm nhận đợc sự cần thiết của đối tợng đối
với sự tồn tại và phát triển của mình. Nhu cầu khi đợc thoả mãn sẽ tạo ra
những nhu cầu mới ở mức độ cao hơn, con ngời sau khi hoạt động để thoả
mãn nhu cầu thì phát triển, và nảy sinh ra nhu cầu cao hơn nữa. Và nh vậy,
nhu cầu vừa đợc coi là tiền đề, vừa đợc coi là kết quả của hoạt động. Nhu cầu
là tiền đề của sự phát triển.
Trên cơ sở phân tích, tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu
cầu và trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi sử dụng định nghĩa: Nhu cầu
là những đòi hỏi tất yếu, khách quan đợc con ngời phản ánh trong những
điều kiện cụ thể và thấy cần đợc thoả mãn để tồn tại và phát triển là khái

sự phát triển của các động cơ hoạt động cụ thể của con ngời. Nh vậy, sự phát
triển các nhu cầu diễn ra theo con đờng phát triển các hoạt động tơng ứng với
một phạm vi đối tợng ngày càng phong phú và đa dạng.
- Nhu cầu có tính ổn định: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất
hiện lặp đi lặp lại (thụng thng mức độ cao hơn) khi sự đòi hỏi gây ra nhu
cầu tái hiện. Một yêu cầu về điều gì đó chỉ xảy ra một lần mang tính đơn lẻ
và không lặp lại nữa thì sẽ không biến thành nhu cầu và không đặc trng cho
những đặc điểm tâm lý của con ngời [24, 332].
Tính ổn định của nhu cầu đợc thể hiện bi tần số xuất hiện một cách th-
ờng xuyên, liên tục. Tính ổn định của nhu cầu thể hiện cấp độ cao của nhu
212121
cầu: cấp độ tâm lý, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý. Nhu cầu càng phát triển
ở mức độ cao thỡ càng ổn định, càng bền vững. Nhu cầu đợc thể hiện qua ba
mức độ là ý hớng, ý muốn, ý định. ở mức độ ý định - mức độ cao nhất của
nhu cầu, khi chủ thể đã ý thức đợc đầy đủ cả về trạng thái đòi hỏi của bản thân
cũng nh về đối tợng và phơng thức thoả mãn nhu cầu.
- Phng thc tho món nhu cu: Nhu cu c tho món thụng qua
hoạt động. Chỉ có thông qua hoạt động thì đối tợng của nhu cầu mới đợc bộc
lộ và đáp ứng sự đòi hỏi của nhu cầu. Chỉ có thông qua hoạt động có đối tợng
nhu cầu mới đợc cụ thể hoá vê mặt tâm lý học và mới đợc thoả mãn. Chính vì
lẽ đó mà nhu cầu luôn có mối quan hệ mật thiết với động cơ. Phơng thức thoả
mãn nhu cầu của chủ thể phụ thuộc vào sự phát triển, phong tục, truyền thống
v.v của mỗi xã hội mà chủ thể sống, phụ thuộc vào trạng thái tâm lý riêng
cũng nh khả năng hoạt động của chủ thể. Mỗi loại nhu cầu cụ thể đợc thoả
mãn trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động tơng ứng.
Nhu cầu và hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau. Theo khẳng
định của A.N. Lêonchiev thì nhu cầu nói riêng, tâm lý của con ngời nói chung
có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn. Hoạt động và duy nhất chỉ có trong đó
mà thôi, các nhu cầu mới có đợc tính cụ thể về mặt tâm lý học [5, 50]. ễng
núi: Tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng nhu cầu với tính chất là một sức mạnh

nhu cầu khác nhau:
- Cách thứ nhất: Dựa vào hình thức tồn tại của đối tợng của nhu cầu, có
thể chia thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
- Cách thứ hai: Dựa vào hình thức vận động của vật chất, có thể chia
thành nhu cầu sinh lý học và nhu cầu xã hội.
- Cách thứ ba: Dựa vào chủ thể của nhu cầu, có thể chia thành nhu cầu
xã hội, nhu cầu cá nhân
Các cách phân loại này chỉ mang tính chất tơng đối vì trên thực tế
không thể tìm ra một nhu cầu vật chất nào mà lại không có yếu tố tinh thần
trong đó và ngợc lại Cũng nh vậy, không một nhu cầu nào của con ngời lại
không mang tính xã hội. ở con ngời điều có ý nghĩa lớn nhất trong cuộc sống
232323
và hoạt động là nhu cầu tâm lý, nhu cầu lao động, nhu cầu học tập, nhu cầu
giao lu, tự khẳng định.
Các loại nhu cầu luôn có quan hệ với nhau, việc thoả mãn nhu cầu bản
năng trớc hết là đảm bảo sự tồn tại của cơ thể, tiếp đến là hoạt động. Ngợc lại
những nhu cầu tâm lý thực hiện những giá trị, ý nghĩa cuộc sống, cũng đồng
thời hớng tới việc cải thiện đời sống xã hội - lịch sử, vận động và phát triển
không ngừng cùng với sự vận động và phát triển của xã hội thông qua hoạt
động của chủ thể.
1.2.1.4. Các mức độ của nhu cầu
Mức độ của nhu cầu đợc thể hiện tăng dần, từ ý hớng lên ý muốn và
cuối cùng là ý định. ý hớng, ý muốn và ý định là các mức độ cụ thể biểu hiện
mức độ của nhu cu.
+ ý hớng:
ý hớng là bớc khởi đầu của nhu cầu. ở mức độ này nhu cầu cha đợc
phản ánh đầy đủ rõ ràng vào trong ý thức của con ngời. ở ý hớng, chủ thể mới
ý thức đợc trạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó cha ý thức đợc
đối tợng và khả năng thoả mãn nhu cầu. Nói cách khác, lúc này chủ thể đang
trải nghiệm sự thiếu hụt nhng cha xác định đợc đó là sự thiếu hụt về cái gì?

mãn nhu cầu. ở ý định, nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ
chủ thể hoạt động nhằm thoả mãn nó. Đồng thời lúc này, chủ thể có khả năng
hình dung về kết quả của hoạt động. ở mức độ này, chủ thể không chỉ ý thức
rõ về mục đích, động cơ mà còn cả hành động dẫn tới mục đích đó.
ý hớng, ý muốn và ý định biểu hiện mức độ nhu cầu từ thấp đến cao,
trên cơ sở kế thừa và phát triển. ý hớng là cơ sở của ý muốn, ý muốn thừa kế
và phát triển ở mức độ cao hơn so với ý hớng. Tơng tự nh vậy ở ý muốn và ý
định. Vì vậy, mức độ ý định là sự chuyển tiếp của ý hớng lên ý muốn và từ ý
muốn lên ý định.
1.2.1.5. Sự hình thành nhu cầu
Về vấn đề sự hình thành nhu cầu, có sự khác nhau trong nghiên cứu
gia cỏc trng phỏi.
252525

Trích đoạn Nhu cầu tham vấn tâm lý Nhu cầu tham vấn tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS Tổ chức nghiờn cứu Khỏch thể và địa bàn nghiờn cứu Cảm nhận của học sinh về bầu khụng khớ tõm lý trong lớp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status