BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----o0o-----
NGUYỄN XUÂN HÙNG
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2012
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----o0o-----
NGUYỄN XUÂN HÙNG
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ
CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÂM
LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
LỜI CAM ĐOAN
Người nghiên cứu xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực
hiện. Các số liệu trong luận văn này là có thực. Nếu có vi phạm, người nghiên cứu
xin chịu mọi trách nhiệm theo qui định của Phòng Sau Đại Học – Trường Đại học
sư phạm TP.HCM.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1 ................................................................................................................5
CƠ SỞ LÝ LUẬN NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ .............................................5
CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON ..................................................................................5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tham vấn tâm lý ................................................5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về tham vấn tâm lý ở nước ngoài .....................5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tham vấn tâm lý ở Việt Nam .....................10
1.2 Một số khái niệm cơ bản..................................................................................15
1.2.1 Nhu cầu ......................................................................................................15
1.2.2 Tham vấn tâm lý ........................................................................................26
1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý ...........................................................................36
1.3 Giáo viên mầm non và nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non ......38
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Cao đằng
Cao đẳng sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Có con
Công lập
Đại học
Điểm trung bình
Độc thân
Đôi khi
Hiếm khi
Không bao giờ
Không có con
Không ý kiến
Lớn hơn
Nhỏ hơn
Nội thành
Ngoại thành
Rất thường xuyên
Tham vấn tâm lý
Thành phố Hồ Chí Minh
Tư thục
Thường xuyên
Trung cấp
Viết tắt
tuổi và tình trạng hôn nhân........................................................................................60
Bảng 2.5 So sánh các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý .......................................61
theo loại hình trường và khu vực ..............................................................................61
Bảng 2.6 Các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong hôn nhân, gia đình, bạn bè
và hàng xóm ..............................................................................................................62
Bảng 2.7 Các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong ..........................................65
các mối quan hệ nơi làm việc ....................................................................................65
Bảng 2.8 Các nội dung lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp .....................................66
Bảng 2.9 Các nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý cảm xúc và sức khỏe ..........69
Bảng 2.10 So sánh các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong đời sống hôn nhân,
gia đình, bạn bè và hàng xóm theo trình độ và tình trạng hôn nhân .........................72
Bảng 2.11 So sánh các nội dung lĩnh vực giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ
nơi làm việc theo loại hình trường và khu vực. ........................................................73
Bảng 2.12 So sánh các nội dung lĩnh vực chuyên môn ............................................75
nghề nghiệp theo trình độ, năm trong nghề và khu vực. ...........................................75
Bảng 2.13 So sánh các nội dung liên quan đến việc quản lý cảm xúc và sức khỏe
theo trình độ, năm trong nghề và loại hình trường ...................................................81
Bảng 2.14 Cách giải quyết khi có xung đột tâm lý ...................................................82
Bảng 2.15 Các nguyên nhân liên quan đến vấn đề cá nhân ......................................85
Bảng 2.16 Các nguyên nhân liên quan đến công việc ..............................................88
Bảng 2.17 Các hình thức tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non..........................91
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên ................................................58
Biểu đồ 2.2 Các lĩnh vực cần được tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non ..........60
Biểu đồ 2.3 Cách giải quyết khi gặp khó khăn, xung đột tâm lý ..............................84
Biểu đồ 2.4 Các hình thức tham vấn tâm lý ..............................................................92
Minh về “Những khó khăn nổi bật trong công tác của giáo viên mầm non các tỉnh,
thành phố phía Nam” cho thấy giáo viên mầm non có 100 khó khăn [51]. Như vậy
có thể thấy, áp lực công việc của giáo viên mầm non cực kỳ lớn. Chính những áp
lực này có thể trở thành tác nhân tạo ra những cảm xúc tiêu cực trong cuộc sống và
hoạt động nghề nghiệp nếu không được hỗ trợ tham vấn để giúp họ vượt qua những
khó khăn đó.
Thực tế hiện nay cho thấy, tình trạng giáo viên mầm non bỏ nghề ngày càng nhiều.
Theo Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ Giáo Dục – Đào Tạo, cả nước còn thiếu trên
20.000 giáo viên mầm non để thực hiện đề án phổ cập cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015,
riêng tại TP.HCM thiếu hơn 2.000 giáo viên, nhiều trường đã phải đưa bảo mẫu lên
thay thế [76].
Trưởng Phòng Giáo dục Mầm non của Sở Giáo Dục và Đào Tạo TP.HCM, cho biết
giáo viên làm việc trong lớp đông trẻ thường bị áp lực cao, nhất là những ngày đầu
tiếp nhận trẻ mới ở các lớp mầm và nhóm nhà trẻ. Lãnh đạo Phòng Giáo dục Mầm
non cũng cho biết thêm, không ít trường vì hiệu trưởng muốn tiết kiệm không xin
thêm giáo viên cho các lớp tăng sĩ số, lại không có bảo mẫu nên giáo viên phải làm
việc rất vất vả, dễ căng thẳng [74]. Nhiều tạp chí cũng như nhiều trang web đã ghi
nhận những khó khăn mà giáo viên mầm non gặp phải trong công việc như: nhiều
phụ huynh không thông cảm với giáo viên, thanh tra thiếu thiện chí, không công
bằng, đồng nghiệp ích kỷ, không không hợp tác, công việc nặng nhọc …
Từ thực trạng ở trên, có thể thấy đời sống và hoạt động nghề nghiệp của giáo viên
mầm non gặp quá nhiều áp lực, bên cạnh đồng lương cơ bản khá thấp làm cho cuộc
sống của họ khó khăn thì những áp lực gặp phải trong công việc lại càng làm cho
giáo viên mầm non luôn ở trạng thái tinh thần căng thẳng, mệt mỏi. Nếu họ không
có sự thông cảm, thấu hiểu từ phía phụ huynh cũng như những người quản lý thì
những cảm xúc tiêu cực ấy sẽ làm giảm sút hiệu quả công việc và có thể ảnh hưởng
xấu đến thể chất và tinh thần của trẻ.
Thực trạng về sức khỏe tinh thần của giáo viên mầm non ở trên cho thấy giáo viên
mầm non cần có được sự hỗ trợ của các nhà tham vấn tâm lý – những người có thể
giúp họ giải tỏa được những căng thẳng trong công việc.
9, 11, Quận Thủ Đức và Củ Chi ở TP.HCM.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Giáo viên mầm non tại TP.HCM có nhu cầu tham vấn tâm lý.
3
- Có sự khác biệt ý nghĩa về nội dung tham vấn tâm lý thuộc lĩnh vực chuyên môn
nghề nghiệp giữa các nhóm giáo viên theo khu vực và năm trong nghề.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hoá tài liệu để làm cơ sở lý luận của đề tài
6.2. Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non tại
TP.HCM
6.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo
viên mầm non.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu của
đề tài.
Thể thức: Yêu cầu giáo viên trả lời những câu hỏi trên các phiếu điều tra.
Gồm có 2 bảng hỏi:
+ Bảng hỏi mở (bảng thăm dò ý kiến): gồm có 6 câu hỏi điều tra trên 10
chuyên gia và 30 giáo viên mầm non tại TP.HCM.
+ Bảng hỏi đóng: gồm có 7 câu hỏi điều tra trên 310 giáo viên mầm non và
Ban Giám hiệu ở một số trường mầm non tại TP.HCM.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn:
Tìm hiểu sâu hơn về nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên và các biện pháp
cần thiết để đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của giáo viên mầm non.
7.2.3. Phương pháp chuyên gia
con người là sự phát triển của các trắc nghiệm tâm lý và giáo dục. Francis Galton
(1822 – 1911) và Wilheim Wundt (1832 – 1920), đây là những nhà tâm lý học ứng
dụng người Anh đầu tiên đã phát triển phòng thực nghiệm để kiểm tra sự khác biệt
về thể chất và tâm lý của con người. Định hướng khoa học này trong lĩnh vực tâm
lý học nhanh chóng phát triển ở Mỹ, G. Stanley (1846 – 1924) và James Cattel
(1860 – 1940), những nhà tâm lý học thực nghiệm Mỹ lần đầu tiên đã mở phòng
thực nghiệm tại Đại học Harvard và Đại học Pennsylvania [63; tr.18 – 20]
5
Vào đầu thế kỷ XX, những trắc nghiệm về năng lực như: Trắc nghiệm đánh giá
thành tựu đạt được ở trường học và trắc nghiệm đánh giá nhân cách được phát triển.
Công tác hướng nghiệp phát triển dựa trên khoa học trắc nghiệm kiểm tra sự khác
biệt tâm - sinh lý của các cá nhân đã đánh dấu giai đoạn ứng dụng rộng rãi ban đầu
của các công cụ đo lường và nhanh chóng được sử dụng để trợ giúp các cá nhân
trong việc ra quyết định chọn nghề.
Năm 1907, Jesse Davis (1817 – 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về
công tác hướng dẫn nghề tại Michigan. Jesse B. Davis có thể được xem là một trong
những người đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những
hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” cho học sinh các trường học công. Tuy
nhiên người có ảnh hường lớn nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank
Parsons (1854 – 1908), được xem như cha đẻ của nghề Hướng dẫn đã viết cuốn
sách “Chọn lựa một nghề” vào năm 1909, qua đó trình bày phương pháp kết nối
những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp. Với lý thuyết
mang tên “Nhân cách và yếu tố”, Frank Parsons cho rằng, thông qua việc làm các
trắc nghiệm tâm lý sẽ phát hiện ra những đặc điểm nhân cách khác nhau của mỗi
người. Sau khi tìm ra các đặc điểm nhân cách của mỗi cá nhân, nhà tham vấn giúp
cá nhân đó tìm hiểu về phân loại các công việc trong thị trường lao động và việc
làm cuối cùng là kết hợp giữa những đặc điểm nhân cách với những công việc làm
phù hợp. Những tư tưởng của F. Parsons trong công tác hướng nghiệp đã thực sự
Thập niên 50 của thế kỷ XX, giai đoạn có sự ra đời của rất nhiều học thuyết nghiên
cứu về quá trình phát triển tâm lý con người như: thuyết phát triển tâm lý xã hội,
thuyết phát triển tư duy trẻ em, thuyết phát triển nhu cầu con người, thuyết gắn bó
mẹ – con, thuyết tổn thương tâm lý, thuyết phát triển đạo đức con người đã cho
phép các nhà tham vấn vận dụng để giúp đỡ cho thân chủ của mình. Các học thuyết
này là cơ sở khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các
biểu hiện rối loạn tâm lý con người.
Cũng vào những năm 50 của thế kỷ XX, phương pháp thân chủ làm trọng
tâm của C. Rogers (1902 – 1987) là một bước chuyển từ sự tham vấn có định
hướng, tham vấn tập trung vào thân chủ và vấn đề của họ với tập sách Tham vấn và
trị liệu tâm lý, cuốn sách có ảnh hưởng rất lớn đến nghề tham vấn chuyên nghiệp
sau này.
7
Bên cạnh cách tiếp cận phân tâm của S. Freud, tiếp cận thân chủ trọng tâm của C.
Rogers, thập niên 60 của thế kỷ XX đánh dấu sự ra đời của nhiều cách tiếp cận mới
như tiếp cận xúc cảm thuần túy của Albert Ellis, tiếp cận hành vi của Bandura, tiếp
cận ứng xử học của Bern, tiếp cận hiện sinh của Arbuckle… Tất cả các hướng tiếp
cận tham vấn này giúp cho sự phát triển của ngành tham vấn trong suốt thế kỷ XX.
Các kiến thức của tâm lý học thực sự đã ảnh hưởng và trợ giúp rất nhiều cho ngành
tham vấn: Tâm lý học nhân cách giúp làm sáng tỏ các quan điểm về cấu trúc nhân
cách con người đồng thời cũng giúp các nhà tham vấn tôn trọng nhân cách của
người khác trong mối quan hệ tham vấn. Tâm lý học chẩn đoán cung cấp những
phương pháp phổ biến về chẩn đoán tâm lý. Kiến thức tâm lý học hành vi lệch
chuẩn giúp nhà tham vấn nắm được các cách tiếp cận khác nhau về hành vi chuẩn
mực, bệnh lý và sai lệch, phân loại được các hành vi lệch chuẩn căn cứ vào các tiêu
chí khác nhau. Các lý thuyết trong tâm lý học phát triển giúp cho các nhà tham vấn
hiểu được các quá trình phát triển tâm lý của con người trong các giai đoạn phát
đức và pháp lý cho người làm công tác trợ giúp. Các hiệp hội, trường học đào tạo
nghề tham vấn phát triển mạnh, đa dạng và công tác giám sát tham vấn theo hướng
ngày càng khoa học và kiểm soát chặt chẽ. Những người hoạt động trong lĩnh vực
tham vấn đã được bằng cấp hóa và xây dựng được những mô hình đào tạo nhà tham
vấn chuyên nghiệp theo hướng chuyên sâu. Sự phát triển mạnh của ngành tham vấn
tâm lý ở các nước phương Tây, kể cả một số nước trong khu vực như Singapore,
Thái Lan... Trong mỗi khu dân cư với số lượng vài chục nghìn dân, người ta thường
bố trí một trung tâm tham vấn (Counseling Center) hay văn phòng dịch vụ gia đình
(Family Services) để triển khai các hoạt động trợ giúp xã hội. Singapore với số dân
chưa đến 4 triệu nhưng có tới trên 300 cơ sở thực hiện dịch vụ này. Hệ thống dịch
vụ gia đình hay trung tâm tham vấn tỏ ra rất hữu hiệu trong việc giúp đỡ cá nhân và
gia đình tháo gỡ những khó khăn, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân, gia đình, hay
trong nuôi dạy con cái. Dịch vụ tham vấn còn được đưa vào trong hệ thống các
trường học. Tại các trường phổ thông, người ta sử dụng mô hình Công tác xã hội
học đường (School Social Work) trong đó có hoạt động tham vấn nhằm giúp đỡ
những học sinh, phụ huynh học sinh có con gặp khó khăn trong hành vi và học tập,
giải quyết những mối quan hệ bất đồng giữa thầy cô và học sinh, giữa học sinh và
học sinh. Theo kết quả điều tra của Lim Peng Ann: Năm 1999, có tới 60% số trường
phổ thông Singapore có triển khai công tác xã hội học đường, trong đó có hoạt động
9
tham vấn toàn thời gian hay bán thời gian. Hầu hết các trường đại học, cao đẳng ở
các nước phát triển đều có trung tâm tham vấn (Student’s Councelling Center)
nhằm giúp sinh viên giải toả những khó khăn trong học tập, trong quan hệ bạn bè,
gia đình và các quan hệ xã hội khác. Những khó khăn trong hòa nhập của các sinh
viên sẽ được trung tâm này giúp đỡ tháo gỡ qua loại hình tham vấn nhóm hay tư
vấn cung cấp thông tin. Sự căng thẳng trong học tập ở cường độ cao của các sinh
viên là một trong những vấn đề thường gặp và được các nhà tham vấn tại trung tâm
hỗ trợ giải tỏa thông qua các hình thức tham vấn khác nhau [47].
vấn tâm lý được đề cập ngày một nhiều hơn. Trong thực tiễn triển khai các chính
sách, chương trình phát triển xã hội, tham vấn tỏ ra là một trong những kỹ năng
quan trọng, giúp các cán bộ xã hội thực thi nhiệm vụ của mình. Chính vì vậy, vào
những năm gần đây, tại các khoá tập huấn của các ngành Lao động, Thương binh và
Xã hội, Uỷ ban Dân số, Trẻ em và Gia đình, Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, các khoá
tập huấn của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như của UNDP, UNICEF, Trăng lưỡi
liềm đỏ... nội dung tham vấn đã được đưa vào như một phần quan trọng của chương trình.
Từ những năm 90, với sự trợ giúp kinh phí khoa học của nhà nước và các tổ
chức khác trong nước cũng như quốc tế, các nhà tâm lý học Việt Nam đã tiếp cận
được với những tổ chức tâm lý học các nước trên thế giới như: Mỹ, Úc, Canađa,
Pháp… trong số đó có rất nhiều nhà tâm lý học thực hành thuộc các trường phái
khác nhau: Adler, Phân tâm học, Tâm lý học hành vi … Những cuộc đối thoại về
chuyên môn, nghề nghiệp, định hướng phát triển khoa học tâm lý đã củng cố thêm
những điều kiện cần thiết cho sự hình thành một phân ngành khoa học mới – Tham
vấn tâm lý ở Việt Nam.
Những nghiên cứu về nhu cầu và thực trạng của hoạt động tham vấn
tâm lý ở Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động tham vấn tâm lý như:
Những nghiên cứu về lĩnh vực tham vấn học đường, hướng nghiệp, những nghiên
cứu về việc sử dụng các kỹ năng tham vấn của chuyên viên tham vấn, những nghiên
cứu về tham vấn tâm lý trong hoạt động giáo dục phạm nhân trẻ vị thành niên,
những nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý của công nhân.
11
Các nghiên cứu về tham vấn học đường
Nghiên cứu thực trạng tham vấn hướng nghiệp tại Việt Nam của tác giả Đỗ
Thị Lệ Hằng, nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 10, 11, 12 ở 6 trường tại Hà
Nội, Đà Nẵng và TP.HCM. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy: Đã có nhiều hình
Vì vậy, người tham vấn phải có sự hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi, các kiến thức
trong lĩnh vực tâm lý và giáo dục, cần thiết lập mối quan hệ cởi mở, tin tưởng lẫn
nhau giữa nhà tham vấn và đối tượng [55; tr. 24 - 30].
Những nghiên cứu về các kỹ năng tham vấn của nhà tham vấn
Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Tường Vy về một số kỹ năng tham vấn của
tham vấn viên tâm lý trên địa bàn TP.HCM. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy: Các
tham vấn viên nhận định đã nắm vững và sử dụng thành thạo phần lớn các kỹ năng
trong tham vấn, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những nhận định khá mơ hồ về một số kỹ
năng tham vấn, đặc biệt là kỹ năng hỏi trong tham vấn. Từ đó tác giả đề nghị cần
trang bị cho tham vấn viên tâm lý những kỹ năng thật chuẩn xác và có hệ thống [65;
tr. 31 - 37].
Nghiên cứu thực trạng kỹ năng hỏi trong tham vấn của cán bộ xã hội của tác
giả Bùi Thị Xuân Mai nghiên cứu trên 177 cán bộ xã hội. Kết quả cho thấy các cán
bộ xã hội có nhận thức đúng về mục đích của việc lắng nghe. Tuy nhiên, sự ít quan
tâm đến suy nghĩ, cảm xúc của đối tượng bởi các hành vi ghi chép, suy đoán khi
lắng nghe ở một số cán bộ xã hội vẫn cón hạn chế. Từ đó tác giả đề xuất cần rèn
luyện kỹ năng lắng nghe trong tham vấn cho cán bộ xã hội [48; tr. 31 - 38].
Những nghiên cứu về thực trạng tham vấn và nhu cầu tham vấn
Nghiên cứu “Thực trạng tham vấn tâm lý tại TP.HCM”của nhóm nghiên
cứu: Trần Thị Giồng và Đỗ Văn Bình (2003), Qua kết quả, nhóm nghiên cứu đưa ra
những kiến nghị cần thiết: Cần mở các cơ sở tham vấn tâm lý có chế độ kiểm tra,
giám sát, hỗ trợ. Thành Phố cần đầu tư đào tạo chuyên viên tham vấn tâm lý dài hạn
ở nước ngoài, khuyến khích các trường đại học, Hội Khoa học Tâm lý – giáo dục
mở ngành đào tạo tham vấn tâm lý và bồi dưỡng cho đội ngũ tham vấn hiện nay [4;
tr. 28 - 31].
Nghiên cứu về “nhu cầu tham vấn tâm lý - giới tính cúa học sinh một số
trường trung học tại TP.HCM của tác giả Ngô Đình Qua, Nguyễn Chí Thượng cho
thấy nhu cầu tham vấn tâm lý ngày càng tăng và các em mong muốn có phòng tham
vấn giới tính miễn phí [57].
13
triển như một chuyên ngành của khoa học tâm lý, cùng với nó là tâm lý học lâm
sàng phát triển như một phân ngành của tâm lý học y học. Có thể nói, tâm lý học tư
14
vấn và tâm lý học lâm sàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Cả hai cùng một mục
đích giúp đỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn của khách hàng. Trong khi tâm lý
học lâm sàng tập trung vào những yếu tố bệnh lý của chứng rối loạn tâm thần hay
các rối nhiễu tâm lý thì tâm lý học tư vấn giúp những người bình thường giải quyết
những khó khăn trong đời sống gia đình, ở cơ quan, ngoài xã hội.
Bên cạnh sự bùng nổ của các trung tâm tham vấn tâm lý, các công trình nghiên cứu
về nhu cầu tham vấn tâm lý ở các lĩnh vực ngày càng nhiều nhưng vẫn chưa đồng
bộ và rộng khắp ở các đối tượng. Các công trình nghiên cứu trên đối tượng người
lao động chủ yếu là công nhân, còn các đối tượng khác như cán bộ công chức, giáo
viên, đặc biệt là giáo viên mầm non thì chưa được quan tâm nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Nhu cầu
1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu
Nghiên cứu nhu cầu cá nhân, trong tâm lý học có nhiều cuộc tranh luận về
vấn đề: hành vi của con người có được quy định bằng tác động bên ngoài hay bởi
một số “sức mạnh bên trong”. Xung quanh vấn đề này có nhiều quan điểm khác
nhau:
Quan điểm của chủ nghĩa hành vi, các tác giả đại diện như: V. Koller, E.
Thorndike, N.E. Miller… giải thích hành vi như hệ thống xác định các đáp ứng đối
với tác động bên ngoài [43; tr 549].
Nhà Phân tâm học S. Freud nhìn thấy mọi hành vi của con người có động cơ
từ những đam mê và bản năng. Ông khẳng định: Tất cả hành vi của con người đều
hướng tới việc thỏa mãn những nhu cầu của cơ thể [43].
Nhà tâm lý học nổi tiếng Mac Đaugôn trong cuốn sách “Tâm lý học xã hội” đã
khẳng định rằng: Tư duy và hành vi của con người được xác định bằng các bản
sự vật, một hiện tượng hoặc những người khác. Như vậy, nhu cầu biểu lộ sự gắn bó
của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào thế giới đó.
Theo A.N. Leonchiev, nhu cầu là một trạng thái của con người, cần một cái gì
đó cho cơ thể nói riêng, con nguời nói chung để sống và hoạt động. Nhu cầu bao
giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó, nghĩa là nhu cầu phải có đối tượng. Với
tính chất là một cá nhân, chủ thể sinh ra đã có nhu cầu nhưng nhu cầu với tính chất
là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong hoạt động [43; tr. 161 – 162].
Ông cho rằng, trong tâm lý học về nhu cầu, cần phân biệt rõ hai khía cạnh của nhu cầu:
16