SKKN Sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học ngữ văn ở Trung tâm GDTX - DN - Pdf 26

A: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Cơ sở lí luận:
“Văn học là nhân học”– dạy văn là dạy người. Bộ môn ngữ văn có vai trò
quan trọng trong các nhà trường. Nó không chỉ giúp học sinh có được những tri
thức nhiều mặt về đời sống mà còn bồi đắp tư tưởng, tình cảm , đạo lí tốt đẹp,
giáo dục đạo đức cho học sinh, hướng các em tới Chân - Thiện - Mĩ; góp phần
quan trọng trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người.
Chính vì vậy, dạy học ngữ văn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước,
nghành Giáo dục quan tâm. Ngữ văn lâu nay luôn được xác định là hai môn học
chính trong các trường học (dung lượng kiến thức, số tiết dạy nhiều). Từ nhiều
năm nay, vấn đề đổi mới dạy học ngữ văn được các nhà khoa học quan tâm,
nghiên cứu. Nhiều phương pháp, biện pháp mới liên tục được đưa ra, dù khác
nhau nhưng đều thống nhất khẳng định vai trò của người học - lấy HS làm trung
tâm. Điều này cũng được chỉ thị 40-CT/TW 15-6-2004 của Ban Bí thư TW
Đảng nêu rõ: “ Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải
đẩy mạnh việc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp GD theo hướng
hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tiếp tục điều chỉnh và giản hợp nội
dung, phù hợp với tâm lí HS, đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp
GD nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lí thuyết, ít nghiên cứu, tự
giác giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành, thói quen tự học tự sáng
tạo cho HS …”
Từ đó đến nay Bộ GD-ĐT luôn định hướng: đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, lấy HS làm
trung tâm.
Gần đây nhất Bộ GD&ĐT cũng đã trình Ban Bí thư TW chiến lược phát
triển của nghành GD (từ 2013 - 2020) đó là: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD
và ĐT, nâng cao chất nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
Trang
1
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc

hình ảnh, hình tượng là chưa đầy đủ. Trí tuệ và cảm xúc là không tách rời. Bên
cạnh sự phân tích, lí giải, cắt nghĩa, cảm nhận … tôi còn sử dụng phương pháp
“Sơ đồ, bảng biểu” khi dạy văn. Đây là một phương pháp chúng ta quan niệm ít
dùng đối với môn ngữ văn. Nhưng tôi đã sử dụng và thấy có hiệu quả. Vì vậy tôi
muốn trình bày để thầy cô giáo và các em HS cùng tham khảo, đóng góp ý kiến .
2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài:
2.1. Đối tượng: Thực tế sử dụng phương pháp “ Sơ đồ, bảng biểu”
2.2. Phạm vi: Một số dạng bài trong dạy học ngữ văn ở Trung Tâm
GDTX
3. Mục đích của đề tài:
Đề tài làm rõ hiệu quả của việc vận dụng phương pháp “Sơ đồ, bảng
biểu” trong giảng dạy ngữ văn ở TTGDTX. Giúp HS tiếp thu bài hiệu quả nhất.
Nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn ở Trung Tâm, góp phần đổi mới phương
pháp dạy học ngữ văn.
Trang
3
B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Phương pháp sơ đồ, bảng biểu là gì?
Sơ đồ là hình vẽ quy ước, sơ lược, nhằm mô tả một đặc trưng nào đó của
một sự vật hay một quá trình nào đó (Từ điển Tiếng Việt).
Như vậy phương pháp sơ đồ, bảng biểu là sử dụng hình vẽ, quy ước, thiết
kế mẫu bảng để mô hình hóa bài học, giúp HS có được những kiến thức cơ bản
về bài học.
II. Những trường hợp vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu:
1. Đối với những bài khái quát văn học( Văn học sử):
Những bài học này thường khô khan, khó, dài đối với HS. Vì nó cung cấp
kiến thức ở độ khái quát cao: về chặng đường phát triển, những đặc điểm, thành
tựu của một thời kì, giai đoạn văn học; phân biệt với các thời kì khác. Cho nên
vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu ở những bài học này, HS sẽ dễ dàng
nắm bắt được những nét khái quát, có sự so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn,

Trang
4
hết thế
kỷ XIX
xây dựng nhà
nước phong kiến
- Yêu nước
với âm hưởng
hào hùng
… ……………… …………… ………………. ……………….
Sau khi dựa vào SGK, điền thông tin vào bảng mẫu trên, HS sẽ nắm được:
VHVN từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XІX gồm 4 giai đoạn (từ thế kỉ X - hết thế kỉ
XІV; từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII; từ thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XІX;
nửa cuối thế kỉ XІX); phát triển ở những hoàn cảnh lịch sử khác nhau,với các tác
giả, tác phẩm tương ứng. Đặc biệt về nội dung: giai đoạn đầu – yêu nước mang
âm hưởng hào hùng, hào khí Đông A; giai đoạn 2 - phản ánh, phê phán hiện
thực xã hội phong kiến; giai đoạn 3 - văn học xuất hiện trào lưu chủ nghĩa nhân
đạo; giai đoạn 4 - yêu nước mang âm hưởng bi tráng. Như vậy, hoàn cảnh lịch
sử xã hội tác động đến văn học - “xã hội nào văn học ấy”. Đồng thời HS cũng
ghi nhớ luôn tác giả, tác phẩm thuộc giai đoạn nào: Giai đoạn đầu – Chiếu rời đô
(Lí Công Uẩn); Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn); Phú sông Bạch Đằng (Trương
Hán Siêu)…; Giai đoạn 2 - Nguyễn Trãi; Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ;
Giai đoạn 3-Hồ Xuân Hương,Nguyễn Du;Giai đoạn cuối- Nguyễn Đình Chiểu,
Nguyễn Khuyến… thuận tiện cho việc học tác phẩm sau đó.
1.2. Bài “Khái quát VHVN từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám
năm 1945”:
Tôi vận dụng phương pháp sơ đồ ở mục I.1 - Quá trình hiện đại hóa văn
học với mẫu bảng:
Giai đoạn Đặc điểm Thành tựu
Từ đầu thế kỷ XX đến

Tập trung phản
ánh cuộc kháng
chiến chống Pháp
- Truyện và
Ký là những
thể loại mở
đầu
- Đạt được
nhiều thành
tựu
- Chưa phát triển
nhưng đã có một
số tác phẩm và
sự kiện quan
trọng
……… ………………… …………… ……………. ……………
Với mẫu bảng trên HS sẽ nắm được: VHVN thời kì này theo sát từng
chặng đường lịch sử, từng nhiệm vụ chính trị của đất nước (1945-1954: cuộc
kháng chiến chống Pháp; 1955 -1964 - những đổi thay của đất nước trong xây
dựng XHCN, miền Nam với nỗi đau chia cắt; 1965-1975 – tập trung vào cuộc
kháng chiến chống Mĩ). Như vậy văn học đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chính
trị của đất nước – phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu. Đồng thời cũng thấy
được thành tựu về mặt nghệ thuật – đó là sự phát triển phong phú, đa dạng các
thể loại văn học, nhất là văn xuôi và thơ ca.
2. Đối với những bài học có sự đối sánh, liên tưởng:
Đối sánh, liên tưởng thường là so sánh, đối chiếu để giúp HS khắc sâu đặc
điểm của đối tượng này (đặt trong mối liên quan với đối tượng khác) làm nổi bật
sự giống nhau, khác nhau hoặc mối quan hệ.
Trang
6

Chặng I: Tấm ở nhà,đi dự hội và trở thành hoàng hậu:
Sự việc Tấm Mẹ con Cám
Xuất thân - Mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị hắt
hủi, làm việc vất vả.
- Em cùng cha khác mẹ với
Tấm, được nuông chiều
Cái yếm đỏ - Chăm chỉ, bắt đầy giỏ tôm
tép.
- Lừa Tấm, trút hết giỏ tôm
tép
……………… …………………………… ……………………………
Trang
7
Chặng II: Tấm vào cung và hóa thân
Tấm Âm mưu của mẹ con Cám
- Từ cung vua, làm giỗ cha, trèo
cau cúng Bố
- Chặt cau -> Tấm ngã xuống ao chết. Cho
Cám mặc quần áo của Tấm đưa vào cung
- Hóa thành chim vàng anh, về
cảnh cáo Cám
- Bắt chim ăn thịt
………………………………. ……………………………………….
Qua 2 mẫu bảng trên HS có thể so sánh, đối chiêu, khắc sâu những điều
mà tác giả dân gian gửi gắm:
- Tấm là một cô gái hiền lành, chăm chỉ, thật thà, hiếu thảo. Mẹ con Cám
là những kẻ lười nhác, xấu xa, độc ác.
- Ở chặng đầu, gặp khó khăn Tấm thụ động, phản ứng yếu ớt (chỉ biết
khóc, chờ Bụt hiện lên giúp đỡ). Chặng sau, Tấm chủ động đấu tranh quyết liệt
để giành lại hạnh phúc.

Các phương diện Văn học lãng mạn Văn học hiện thực
Đặc trưng -Tiếng nói cá nhân,
tràn đầy cảm xúc…
-Phơi bày thực trạng bất công,
thối nát của xã hội đương thời….
Tác giả, tác phẩm tiêu biểu …………………… …………………………….
Đóng góp …………………… …………………………….
Hạn chế …………………… …………………………….
Với mẫu bảng này tôi giúp HS phân biệt được 2 xu hướng văn học lãng
mạn và hiện thực, nắm được đặc trưng của từng xu hướng. Đồng thời cũng thấy
được 2 xu hướng văn học này cùng tồn tại song song vừa ảnh hưởng, tác động
qua lại chuyển hóa lẫn nhau trong văn học. Điều đó được minh chứng ở các tác
phẩm văn học mà các em học sau đó.
* Tiết học “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam): Tôi dùng mẫu bảng so sánh giữa
yếu tố ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm.
Các phương diện Bóng tối Ánh sáng
Các hình ảnh, chi
tiết
- Bóng tối lan tràn, đường
phố, các ngõ đầy bóng tối…
- Bầu trời ngàn sao, đom
đóm, các loại đèn, khe ánh
sáng, hột…
- Ngọn đèn của chị Tí…
Khái quát …………………………… ……………………………
Qua mẫu bảng HS sẽ dễ dàng nhận thấy bóng tối lan tràn, ngự trị, bao
trùm làm chủ cả thiên truyện, còn ánh sáng nhỏ bé, yếu ớt (như ngọn đèn của chị
Tí). Có những ánh sáng đẹp đẽ, rực rỡ nhưng lại xa xôi, quá khứ, vụt qua, ngoài
tầm tay nhân vật. Thạch Lam nói nhiều đến ánh sáng nhưng lại để nhân vật của
mình ngậm ngùi vì thiếu ánh sáng. Và hai yếu tố này góp phần làm nổi bật cuộc

lửa” trong tâm hồn con người Tây Bắc. Vì vậy, trong tác phẩm bên cạnh hình
tượng con sông Đà hung bạo - trữ tình, Nguyễn Tuân còn làm nổi bật hình tượng
ông lái đò qua cuộc chiến trên thác nước sông Đà. Tôi đã làm nổi bật điều đó
bằng bảng mẫu:
Trang
10
Trùng vi thạch trận Sông Đà Ông lái
Vòng I - Mở ra 5 cửa trận, 4 cửa tử, một
cửa sinh nằm ở phía tả ngạn
- Giữ mái chèo cho
khỏi bị hất…
…………… ………………………………. ……………………
Sau khi tìm hiểu 3 vòng trùng vi thạch trận HS sẽ thấy được:
- Đây là cuộc chiến quyết liệt, không cân sức (Sông Đà hung bạo, nham
hiểm, xảo quyệt; ông lái chỉ có vũ khí là chiếc bơi chèo); nhưng cuối cùng ông
lái đã chiến thắng .
- Đó là chiến thắng của sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí, nghị lực;
sự tài chí, kinh nghiệm lão luyện của ông lái.
- Cuộc chiến đấu cho thấy những phẩm chất của người lái đò - giản dị,
thầm lặng, tài hoa, trí dũng; thể hiện niềm tin tưởng, ngợi ca con người Tây Bắc,
con người Việt Nam trong xây dựng cuộc sống mới.
- Những bài học về ý chí, nghị lực của con người để vượt qua mọi thử
thách trong cuộc sống.
3. Đối với những phần tổng kết, bài ôn tập:
Những phần, những bài này thường khái quát nội dung của cả bài hoặc hệ
thống tri thức đã học trong cả một kì học, một năm học. Lượng kiến thức nhiều,
tổng quát, khó. Vận dụng phương pháp này HS sẽ hình dung được nội dung bài
học, lượng kiến thức cơ bản nhất đã học.
3.1. Trường hợp tổng kết nội dung một bài học: có thể sử dụng phương
pháp sơ đồ, bảng biểu cho nhiều bài. Ở đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ:

tự
nhiên
Trong
quan
hệ với
quốc
gia,
dân
tộc
Trong
quan
hệ xã
hội
Ý
thức
về bản
thân
*Bài “Tấm Cám” (Ngữ văn 10-Tập I): Lập bảng so sánh sự phát triển
tính cách của Tấm ở hai chặng đường đời. Căn cứ vào bảng mẫu GV cung cấp
HS sẽ hoàn thiện và nắm được nội dung bài học:
Chặng
đường
đời
Thân phận, địa vị
của Tấm
Dã tâm của
mẹ con Cám
Mức độ
xung đột
Phạm vi

(Thiện-ác)
*Bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông”(Hoàng Phủ Ngọc Tường)-Ngữ văn
12-Tập II
Tôi yêu cầu HS vẽ sơ đồ tóm lược vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông
Hương trong bài kí. Từ đó rút ra nhận xét về tình cảm, thái độ, tài năng của tác
giả. Sau đó tôi cung cấp và hướng dẫn HS hoàn thiện sơ đồ:
Trang
12
Sông Hương – Bản trường ca của rừng già
Sông Hương – Cô gái Di – gan phóng khoáng
và man dại
Sông Hương – Người mẹ phù xa của vùng văn
hóa xứ sở
Sông Hương – người gái đẹp ngủ mơ màng
giữa cánh đồng Châu Hóa được người tình đánh
thức
Sông Hương – mang vẻ đẹp như triết lý, như cổ
thi khi đi qua những lăng tẩm…
Sông Hương ở thượng
nguồn
Sông Hương ở Đồng bằng
và ngoại vi thành phố Huế
Sông Hương – là điệu Slow tình cảm dành
riêng cho Huế
Sông Hương – là người tài nữ đánh đàn lúc đêm
khuya
Sông Hương – Người tình dịu dàng, chung thủy
Sông Hương – là một bản hùng ca ghi dấu
những chiến công oanh liệt của dân tộc
Sông Hương – dòng sông thi ca, là nguồn cảm

Sinh
hoạt
PCNN
Nghệ
thuật
PCNN
Chính
luận
PCNN
Báo
chí
PCNN
Khoa
học
PCNN
Hành
chính
Thể loại văn bản tiêu biểu
Đặc trưng
Các phương tiện diễn đạt

Ví dụ 2: Tổng kết văn học nước ngoài ở lớp 12,tôi cung cấp bảng mẫu:
Các phương diện Lỗ Tấn Sô- Lô -Khốp Hê-minh-uê
Tên tuổi, quê quán
xuất thân
…………………. ……………… ……………………
Những nét chính
trong cuộc đời sự
nghiệp
…………………. …………… ………………….

2. Với bài “Sóng” : Cảm nhận, phân tích bài thơ
*Lớp 12 năm 2007-2008 (Chưa sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu)
Sĩ số Điểm giỏi Điểm Khá Điểm TB Điểm yếu Điếm kém
51
HS
SL % SL % SL % SL % SL %
0 0 5 9.8% 39 61.17% 7 13.72% 0 0
*Lớp 12 năm 2008-2009( Đã sử dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu)
Sĩ số Điếm giỏi Điếm Khá Điểm TB Điếm yếu Điếm kém
50
SL % SL % SL % SL % SL %
1 2.0% 7 14% 39 78% 3 6% 0 0
C. KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của đề tài:
Qua quá trình giảng dạy, sử dụng phương pháp “sơ đồ, bảng biểu” trong
dạy học ngữ văn ở Trung Tâm, tôi nhận thấy phương này mang lại rất nhiều hiệu
quả:
Trang
15
Trước hết là tác dụng khơi gợi hứng thú học tập cho HS, phát huy tính
tích cực, chủ động ở người học. Bởi lẽ, nếu không sử dụng sơ đồ bảng biểu,
chúng ta sẽ phải liên tục đặt ra những câu hỏi có vấn đề để HS giải quyết. Như
vậy HS dễ cảm thấy nhàm chán, kiến thức bị chẻ nhỏ, rời rạc theo từng câu hỏi.
Trái lại với phương pháp sơ đồ, bảng biểu, HS sẽ hứng thú hơn. Bởi mỗi lần giải
quyết một mẫu bảng, sơ đồ HS sẽ có cảm giác như mình tham gia một trò chơi
thú vị. Quá trình tư duy, giải quyết yêu cầu của sơ đồ, bảng biểu lúc này được
xem như một hành trình khám phá, chinh phục và khi hoàn thành sơ đồ, bảng
biểu HS sẽ cảm thấy hứng khởi vì mình đã chinh phục được thử thách, vui với
cảm giác thành công và chiến thắng.
Bên cạnh đó một lợi ích đáng kể nữa của việc sử dụng phương pháp này

“chất văn” vốn có của môn Ngữ văn.
Trên đây là thực tế của việc vận dụng phương pháp “sơ đồ, bảng biểu”
của tôi tại TTGDTX Hà Trung. Nó chỉ là ý kiến chủ quan của bản thân tôi, rất
mong được sự góp ý chân thành của bạn bè, đồng nghiệp, để đề tài của tôi được
hoàn thiện và có hiệu quả hơn nữa.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hà Trung, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Giáo viên
Nguyễn Thị Hoa Lê
Trang
17
Tài liệu tham khảo
1- SGK ngữ văn 10, 11, 12 (NXBGD- chương trình chuẩn)
2- Tạp chí văn học các số từ 2010 đến nay
3- Thiết kế bài học ngữ văn 10, 11, 12 (Phan Trọng Luận- NXBGD Việt Nam)
4- Internet
Trang
18
MỤC LỤC
A. Đặt vấn đề
1
1. Lý do chọn đề tài

1
2. Phạm vi đối tượng nghiên cứu của đề tài

2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status