TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN LUẬT CẠNH TRANH
HÀNH VI XÂM PHẠM BÍ MẬT KINH DOANH VÀ THỰC TIỄN
TẠI VIỆT NAM
GVHD
: THẦY TRẦN THĂNG LONG
Lớp
: VB17ALA01
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
STT
1
2
3
4
Họ và tên
Châu Minh Luân
Hoàng Thị Thúy Vân
Lê Thị Mỹ Thu
Trần Thị Phương Na
Mã số sinh viên
33141020956
33141020952
33141021137
33111023748
I.
trên thực tế, bí mật thương mại không thể tách khỏi trí tuệ của người lao động, người lao
động là người đồng sở hữu, nắm giữ những tài sản trí tuệ này, là người ít có khả năng
hoặc không có chủ định sử dụng tài sản này vào việc làm lợi cho mình.
Khi người lao động bị đối xử một cách không bình đẳng sẽ có thể dẫn đến họ tiết lộ bí
mật thương mại cho các công ty đối thủ để nhận phần tiền thêm hoặc họ sẽ sử dụng bí
mật thương mại vào việc tách ra lập công ty riêng. Khi đó hoạt động kinh doanh của công
ty sẽ gặp khó khăn.
Chìa khoá để giải quyết vấn đề bảo vệ bí mật thương mại nằm ở việc cải thiện mối quan
hệ với người lao động mà yếu tố then chốt là tạo ra một bầu không khí đạo đức trung
thực. Ở đó, người chủ đối xử đàng hoàng với nhân viên xác định đúng mức độ đóng góp,
xác định đúng chủ quyền đối với các ý tưởng sẽ mang lại sự bảo vệ các bí mật thương
mại có kết quả hơn là dựa vào pháp luật ở đó người lao động thực sự cảm thấy rằng
những tài sản của doanh nghiệp cũng là của họ chứ không phải là của riêng ông chủ, như
vậy họ sẽ tự giác có ý thức bảo mật thông tin của doanh nghiệp.
2. Các loại thông tin thường được nhắc đến trong bí mật kinh doanh
Bí mật kinh doanh: Bí mật kinh doanh (hay còn được biết đến là bí mật thương mại)
là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả
năng sử dụng trong kinh doanh.
Theo định nghĩa trên của Luật Sở hữu trí tuệ, những thông tin được coi là bí mật
kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện:
-
Không là hiểu biết thông thường;
-
Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm
giữ thông tin đó lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng nó;
Ngày nay, vấn đề bảo hộ kinh doanh đang được các doanh nghiệp hết sức quan
tâm do nhiều yếu tố. Trong đó, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên
các đối thủ chắc chắn không hề muốn chia sẽ thông tin cho nhau. Hơn nữa, khi mà người
lao động có quyền tự do lựa chọn và thay đổi nơi làm việc, sẽ có khả năng rất cao là họ
mang theo thông tin đến nơi làm việc mới mà thông thường là các đối thủ cạnh tranh của
công ty cũ. Cuối cùng, bản thân các thông tin bí mật không phải là giải pháp kỹ thuận nên
không thể nào bảo hộ được dưới danh nghĩa sáng chế; và cũng không thể giải trình công
khai để đăng ký bảo hộ do tinh bảo mật của thông tin.
Với bí mật kinh doanh, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đọat theo quy
định của pháp luật. Những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh quyền đối với bí mật
kinh doanh bao gồm: tiếp cận, thu nhập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách
chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp; tiết lộ, sử dụng thông tin
thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh; vi phạm
hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm
tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh; tiếp cận, thu thập thông tin
thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi ngừời này làm thủ tục quy định của pháp
luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại
các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục
đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.
Phương thức bảo vệ:
Khi phát hiện có chủ thể “đánh cắp” hoặc bộc lộ trái phép bí mật kinh doanh của mình;
chủ sở hữu bí mật kinh doanh có thể yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi và bồi
thường thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm; hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có biện
pháp xử lý như phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện, khoản lợi nhuận có được do thực
hiện hành vi pham… hay các biện pháp khác theo quy định của pháp luật về cạnh tranh
và sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, dù các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có áp dụng các biện pháp luật định
để xử lý các hành vi xâm phạm đến bí mật kinh doanh; thì thiệt hại do hành vi vi phạm
thông tin cần bảo mật…
-
Đánh dấu tài liệu: xây dựng hệ thông đánh dấu tư liệu thống nhất và nâng cao
hiểu biết của nhân viên để tránh vô ý bộc lộ thông tin.
-
Cách ly và bảo bộ về mặt vật lý: có thể thực hiện các biện pháp như nộp lưu có
khóa riêng biệt; kiểm soát truy cập; xé nhỏ thông tin; kiểm tra giám sát thường
xuyên
-
Cách ly và bảo hộ dữ liệu điện tử: như kiểm soát truy cập; mã hóa, xây dựng
tường lửa; giám sát kiểm tra dữ liệu đi và đến…
-
Hạn chế sự tiếp cận của công chúng với cơ sở: kiểm tra việc ra vào của khách;
tiến hành theo dõi di chuyển của khách trong công ty…
-
Đối với các bên thứ ba: lập hợp đồng bảo mật, hạn chế tiếp cận chỉ theo nhu cầu
cần phải biết…
-
chế thường có hiệu lực 20 năm). Do đó, thời hạn bảo hộ có thế là vô hạn, miễn là
bí mật đó không bị bộc lộ với công chúng;
-
Bí mật thương mại không cần các chi phí đăng ký (mặc dù sẽ có các chi phí cao
liên quan đến việc giữ thông tin bí mật, bao gồm việc áp dụng các biện pháp bảo
vệ bằng công nghệ);
-
Bí mật thương mại có hiệu lực ngay lập tức;
-
Bảo hộ bí mật thương mại không cần thực hiện các thủ tục như bộc lộ thông tin
cho cơ quan chính phủ.
-
Tuy nhiên, có một số nhược điểm nhất định trong việc bảo hộ thông tin kinh
doanh dưới hình thức bí mật thương mại, đặc biệt khi thông tin thỏa mãn các điều
kiện bảo hộ của sáng chế. Ví dụ:
+ Nếu bí mật thương mại nằm trong một sản phẩm cải tiến, người khác có thể
kiểm tra, nghiên cứu và phân tích chúng (ví dụ, phân tích ngược sản phẩm) để
tìm ra bí mật thương mại và hoàn toàn có quyền sử dụng sau đó. Thực tế, bảo
hộ sáng chế dưới dạng bí mật thương mại không tạo ra độc quyền ngăn cấm
bên thứ ba sử dụng thương mại sáng chế. Chỉ có bằng độc quyền sáng chế và
giải pháp hữu ích mới có thể tạo ra loại độc quyền như vậy;
+ Một khi bí mật thương mại được công bố công khai thì bất kỳ ai đều có thể
Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó
không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
2. Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh:
Khác với nhãn hiệu, sáng chế hay chỉ dẫn địa lý,… quyền sở hữu công
nghiệp đối với bí mật kinh doanh được hiển nhiên xác lập mà không cần phải
đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà
không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào. Bởi vậy, một bí mật kinh
doanh có thể được bảo hộ vô thời hạn.
Và vì không đăng ký nên doanh nghiệp không cần phải công khai thông
tin về bí mật kinh doanh, giúp doanh nghiệp phần nào yên tâm hơn trong việc bảo
vệ bí mật của mình.
3. Quyền sở hữu bí mật kinh doanh
Căn cứ Điều 751, 752 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày14/06/2005:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh thuộc về tổ chức, cá
nhân có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực
hiện việc bảo mật thông tin đó, bao gồm khai thác, sử dụng bí mật kinh doanh; và
cho phép hoặc cấm người khác tiếp cận, sử dụng, tiết lộ bí mật kinh doanh.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ
sở có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và sự bảo
mật thông tin đó.
3.1. Quyền chủ sở hữu bí mật kinh doanh
Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức,cá nhân có được bí mật kinh
doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Bí
mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được
trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của
bên thuê hoặc bên giao việc,trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
luôn bị áp lực cải tiến sản phẩm của mình nếu không sẽ gặp rủi ro đánh mất thị
trường của mình vào tay đối thủ cạnh tranh. Do đó các doanh nghiệp luôn tìm
cách để nỗ lực phát triển những sản phẩm mới và tốt hơn. Thay vì dồn toàn bô
năng lực của mình vào phát triển công nghệ của mình thì họ chọn giải pháp sử
dụng công nghệ của người khác một cách hợp pháp như chuyển giao bí mật kinh
doanh thông qua một hình thức là hợp đồng.
Tại khoản 2 điều 9 Nghị định 54/2000/ND-CP đã quy định việc chuyển
giao quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được thực hiện dưới
hình thức hợp đồng bằng văn bản, trong đó bên giao phải ghi rõ bí mật kinh
doanh được chuyển giao. Trong trường hợp các bên thoả thuận chỉ chuyển giao
quyền sử dụng bí mật kinh doanh thì bên nhận có nghĩa vụ thực hiện các biện
pháp bảo mật cần thiết theo yêu cầu của bên giao.
5. Về hành vi vi phạm bí mật kinh doanh:
Luật cạnh tranh quy định các hành vi vi phạm bí mật kinh doanh như sau:
-
Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện
pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
-
Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ
sở hữu bí mật kinh doanh;
-
Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ
bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của
kinh doanh bị coi là bất chính khi người thực hiện hành vi đã:
+ Chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh
doanh đó
+ Vi phạm hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa
gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật
•
Tiết lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh:
Doanh nghiệp có bí mật kinh doanh hợp pháp có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin
đó. Việc doanh nghiệp đã để lộ cho người khác biết bí mật kinh doanh của doanh
nghiệp khác biểu hiện qua các tình huống sau:
-
Không được phép của chủ sở hữu
-
Vi phạm hợp đồng bảo mật của chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa gạt ,
lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật
-
Theo luật cạnh tranh, cho dù với động cơ hay mục đích gì , hành vi tiết lộ bí mật
kinh doanh chỉ cần có đủ 2 tình huống trên sẽ bị coi là cạnh tranh không lành
mạnh
•
Sử dụng bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác
đ) Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh
doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi quy định tại các
điểm a, b, c và d khoản này;
e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 128 của Luật này.
2. Người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này
bao gồm chủ sở hữu bí mật kinh doanh, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng
bí mật kinh doanh, người quản lý bí mật kinh doanh.
Hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm bí mật kinh doanh
Căn cử Điều 31 nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định như sau:
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành
vi sau đây:
a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện
pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
b) Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở
hữu bí mật kinh doanh;
c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo
mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu
bí mật kinh doanh đó;
d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này
làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành
sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử
dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến
kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Sử dụng bí mật kinh doanh để sản xuất và lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên
phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên;
trực tuyến từ Hàn Quốc. Thẩm phán của vụ kiện Apple- Samsung cũng đã phải mất 21
tiếng đồng hồ để đưa ra phán quyết cuối cùng. Kết quả là Samsung bị xử thua, buộc phải
bồi thường cho nhà sản xuất iPad, iPhone số tiền là 1 tỷ USD. Trong khi đó, Apple được
xử trắng án và không phải chi trả bất kỳ một khoản tiền nào cho hãng Hàn Quốc.
Ông Manuel Ilagan cho biết, vụ kiện này hoàn toàn không thiên vị. Thẩm phán của vụ
kiện giữa Samsung và Apple được người đứng đầu bồi thẩm đoàn giúp đỡ kỹ càng để
hiểu hơn về quá trình xử lý các bằng sáng chế. Một khi bạn đã quyết định Samsung vi
phạm bằng sáng chế thì rất dễ để 'bắt lỗi' các sản phẩm của họ. Giống như thiết kế bên
ngoài vậy, nếu bạn cho rằng công ty này vi phạm thiết kế viền máy trên màn hình phẳng
thì bạn sẽ chỉ chăm chăm vào các sản phẩm có viền máy khách cụ thể hơn về phạm vi và
điều kiện bảo hộ.
(Nguồn: vnexpress.net)
Vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh tại Việt Nam đang còn bỏ ngỏ thị trường trong và ngoài
nước, việc ăn cắp bí mật kinh doanh diễn ra phổ biến và khá tinh vi. Thương hiệu, nhãn
hiệu của Việt Nam bị đánh cắp cả.
Các chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong nước cũng chưa
thực sự nghiêm khắc (chủ yếu sử dụng biện pháp hành chính, dân sự). Ngoài ra vấn đề
bảo vệ thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế còn chưa được các doanh nghiệp chú
trọng.
2. Đề xuất giải pháp:
Nước ta đang tập trung đối với một số quyền sở hữu trí tuệ như bản quyền, nhãn hiệu
hang hóa, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…Để hội nhập kinh tế quốc tế pháp luật Việt
Nam cần hoàn thiện hơn về bảo hộ quyền sở hữu trong bí mật kinh doanh, một số đề xuất
như sau:
-
Quy định cụ thể hơn về phạm vi và điều kiện bảo hộ, đưa ra các tiêu chí mang
tính chuẩn mực để xác định đối tượng được bảo hộ được thuận lợi và chính xác.