1
2
LI CAM OAN
đại học Thái Nguyên
TRNG I HC NễNG LM
Tụi xin cam oan rng: õy l cụng trỡnh nghiờn cu do tụi trc tip
thc hin cựng vi s cng tỏc giỳp ca PGS. TS. Nguyn Th Kim Lan v
cỏc ng nghip ti b mụn Ký Sinh trựng, B mụn Hoỏ Sinh - Min dch Vin Thỳ y Quc gia. Cỏc s liu, hỡnh nh v kt qu trong lun vn l trung
Hong Minh c
thc v cha tng c cụng b trong bt k mt cụng trỡnh no khỏc. Mi
s giỳp cho vic thc hin lun vn ó c cm n v cỏc thụng tin trớch
NGHIấN CU TèNH HèNH NHIM GIUN TRếN
NG TIấU HểA CA CHể NUễI H NI V
BIN PHP PHếNG TR
dn trong lun vn u c ch rừ ngun gc.
Tỏc gi lun vn
Hong Minh c
Chuyờn ngnh: Thỳ Y
Mó s: 60.62.50
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Giám đốc Viện Thú y, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, PGS. TS. Phan Địch
Lân, PGS. TS. Phạm Sỹ Lăng, Thạc Sĩ Nguyễn Thế Hùng, Bác sỹ Đỗ Tuấn
Cương, Bác sỹ Đặng Xuân Sinh cùng toàn thể các thày cô giáo trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn.
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................. …………..1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................. …………..2
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài ....................................................... …………..2
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ....................................................... …………..2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................ 26
Chƣơng 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 32
2.1. Đối tượng, vật liệu và địa điểm nghiên cứu ........................................... 32
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 32
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 33
2.4. Phương pháp sử lý số liệu ...................................................................... 39
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .................................................... 42
Tác giả luận văn
3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hoá của chó ở Hà Nội.... 42
3.1.1. Thành phần loại giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội .. 42
3.1.2. Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó qua kiểm tra phân ............................... 44
Hoàng Minh Đức
3.1.3. Cường độ nhiễm giun tròn ở chó qua kiểm tra phân ....................... 46
B¶ng 3.2. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội......... 44
B¶ng 3.3. Cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội .... 46
B¶ng 3.4. Tỷ lệ và Cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà
3.2.6. Độ an toàn của thuốc tẩy................................................................. 68
Nội ................................................................................................................................. 48
3.2.7. Biện pháp phòng trị ........................................................................ 71
B¶ng 3.5. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội ............... 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
B¶ng 3.6. Tỷ lệ nhiễm giun tròn theo tuổi của chó nuôi ở Hà Nội ................... 51
1. Kết luận .................................................................................................... 72
B¶ng 3.7. Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó theo mùa vụ ....................................... 54
2. Đề nghị ..................................................................................................... 74
B¶ng 3.8. Tỷ lệ nhiễm giun tròn theo tính đặc biệt của chó ............................ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 75
B¶ng 3.9. Biều hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun tròn .............................. 58
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hoá theo tuổi chó ................. 53
A. caninum
Ancylostoma caninum
T. canis
Toxocara canis
T. leonina
Toxascaris leonina
T. vulpis
Trichocephalus vulpis
ẢNH 1. Xuất huyết niêm mạc ruột non ...................................................... 61
>
Lớn hơn
ẢNH 2. Niêm mạc ruột bình thường ............................................................ 61
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
2
MỞ ĐẦU
kháng. Từ đó, các vi khuẩn trong đường ruột có cơ hội trỗi dậy gây hội chứng
tiêu chảy nặng hơn và làm chết chó nếu không được điều trị kịp thời.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, chó được con người thuần hóa và coi như là người bạn gần
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
gũi, thân thiện. Chó dễ nuôi, trung thành với chủ, các giác quan rất phát
“ Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đƣờng tiêu hoá của chó nuôi ở
triển, thông minh, nhanh nhẹn và có tính thích nghi cao với điều kiện sống
Hà Nội và biện pháp phòng trị”.
khác nhau. Do vậy, chó được nuôi phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, phục
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của
ta đã xác định được 26 loài giun, sán ký sinh ở chó, trong đó có 16 loài giun tròn.
một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá của chó, đồng thời là những
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh của chó chưa được quan tâm đúng mức,
khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở Hà Nội và các địa
đặc biệt là bệnh do ký sinh trùng gây nên, trong đó có nhiều loài giun tròn ký
phương khác.
sinh ở đường tiêu hoá gây tác hại lớn đối với chó. Giun ký sinh lấy chất dinh
dưỡng, hút máu, tiết độc tố và chất chống đông máu. Bệnh âm ỉ, kéo dài làm
- Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh
giun tròn đường tiêu hóa, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn.
vật chủ mất máu suy dinh dưỡng, gầy yếu, rối loạn tiêu hoá, giảm sức đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngành Nemathelminthes, Huxley, 1856
( ký sinh ở dạ dày, ruột chó)
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Họ Anisakidae Skrjabin và Karokhin, 1945
Phân lớp: Enoplia Chitwood, 1933
Giống Toxocara Stiles, 1905
Bộ Trichocephalida Skrjabin và Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
(ký sinh ở dạ dày, ruột non chó)
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Bộ Spirurida Chitwood, 1933
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Phân bộ Spirurina Railliet, 1914
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus vulpis (Froelich, 1789)
Liên họ Spiruroidea Railliet et Henry, 1915
Họ Spiruridae Oerley, 1885
Loài Strongyloides canis Brumpt, 1922
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
6
1.1.2. Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn ký sinh ở đƣờng tiêu
có răng nhỏ, thực quản hình trụ, đặc biệt giữa thực quản và ruột có đoạn
hoá chó
phình to tạo thành “dạ dày giả” của giun.
Con đực dài 50 - 90 mm, đầu có cánh dài, hẹp, hơi giống mũi giáo có 2
1.1.2.1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo
gai giao cấu bằng nhau dài 0,75 - 0,95 mm.
- Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859)
Là loài giun tròn nhỏ, thân hình sợi chỉ, màu vàng nhạt, đoạn trước cong
về phía lưng, bao miệng mỗi bên có 2 răng 3 chạc lớn, cong vào phía trong,
vân ngang, đầu hơi cong về mặt bụng, nang miệng hình cầu, có một đôi răng
Giun có kích thước lớn, con đực dài 45-75 mm, thực quản chiếm 3/4
không phân nhánh. Thực quản dài 0,62 - 0,69 mm. Túi sinh dục phát triển,
chiều dài cơ thể. Đuôi giun đực thường cuộn tròn về phía trong, mang một gai
các nhóm sườn đều chung một gốc, sau đó mới phân tách. Gai sinh dục bằng
giao hợp rất dài (8,31- 11,1 mm).
nhau, dài 1,05-1,30 mm, phần cuối thon nhỏ dần.
Con cái dài 62 -75 mm, thực quản dài 42 -56,3 mm, âm hộ nằm về
Con cái dài 7,3 - 9,6 mm, đầu cong về mặt bụng. Âm hộ cách mút đuôi
2,65-3,04 mm. Đuôi hình nón, mút đuôi có gai nhọn, dài 0,005 mm. Trứng
hình ô van, kích thước 0,040 - 0,30 mm.
phía sau của đoạn cuối thực quản. Trứng có hình cái thùng, có nắp ở hai đầu,
dài 0,083 - 0,93 mm và rộng 0,037- 0,40 mm.
- Loài Uncinaria stenocephala (Railiet,1884).
Giun có màu vàng nhạt, hai đầu hơi nhọn, túi miệng hình phễu, có các mảnh
- Loài Toxocara canis (werner 1782)
Loài Toxocara canis là loài giun tròn có kích thước khá lớn, màu vàng
kitin sắc, mặt trong của túi miệng có 2 đôi răng hình bán nguyệt đối xứng.
Giun trưởng thành ký sinh ở thực quản, thành dạ dày, đôi khi còn thấy ở
trùng di chuyển tới chỗ lồi lõm của đất và tụ lại từng đám ở những chỗ râm
động mạch chủ. Giun có màu đỏ, miệng hình 6 cạnh, không có môi, thực
mát và có độ ẩm thích hợp. Từ chỗ ban đầu, ấu trùng di chuyển trong phạm vi
quản hẹp, phần trước là cổ ngắn, ở gai cố có vòng thần kinh.
10-20 cm. Trong khi di chuyển, ấu trùng có khuynh hướng leo lên cao, có thể
Con đực dài 30-54 mm, hai gai giao hợp không bằng nhau, đuôi xoắn,
có cánh đuôi, 4 đôi gai nhỏ phía trước hậu môn, một gai lớn trước huyệt
tới 2 m. Ấu trùng ít chui xuống đất, nhưng nếu ở đất cát, ấu trùng có thể chui
xuống sâu 1 m, đất mùn chui xuống sâu 30cm, đất sét chui sâu 15 cm. Nói
Con cái dài 54 - 80 mm, âm hộ nằm phía trước thân, gần cuối thực
chung, từ điểm di chuyển ban đầu, ấu trùng thường di chuyển ở bề mặt của
quản. Trứng rất nhỏ, hình elíp 0,035 - 0,039 x 0,014 - 0,023mm, trứng có
đất. Thời gian sống của ấu trùng thay đổi tuỳ thuộc điều kiện của môi trường,
chứa ấu trùng.
ấu trùng có thể tồn tại ngoài tự nhiên từ vài tuần tới 1 tháng. Nhưng nếu trong
- Qua da: ấu trùng cảm nhiễm xâm nhập qua da vào hệ thống tuần hoàn
thành ấu trùng cảm nhiễm sau 6 - 7 ngày. Ấu trùng gây nhiễm dài 0,59 - 0,69
đến tim, phổi, xuyên qua phế nang vào phế quản. Khi vật chủ ho, ấu trùng lên
mm, có màng bọc bên ngoài và chứa 30 - 34 tế bào ruột. Ấu trùng có hướng
hầu và được nuốt xuống đường tiêu hoá, từ đó phát triển thành giun trưởng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
10
thành và ký sinh ở ruột non. Thời gian phát triển đến giai đoạn trưởng thành
từ 14-16 ngày. Giun trưởng thành có thể sống trong cơ thể ký chủ từ 43100 tuần.
- Loài Uncinaria stenocephala (Railiet,1884)
Các loài giun tròn thuộc họ Ancylostomatidae đều phát triển trực tiếp.
Giun trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài. Trứng và ấu trùng có sức
(1957) đã chứng minh bằng thực nghiêm khi gây nhiễm ấu trùng Uncinaria
trưởng thành hút nhiều máu, răng 6 móc được cấu tạo bằng chất kitin cắm sâu
stenocephala qua miệng, sau 24 giờ đã thấy có trong niêm mạc dạ dày và tá
vào niêm mạc ruột gây tổn thươmg niêm mạc, đồng thời giun còn tiết chất
tràng của chó. Sau thời gian ngắn ở niêm mạc, những ấu trùng này lại chui
kháng đông máu, giúp giun móc dễ hút máu. Độc tố và sản vật của giun làm
vào ruột, lột xác trở thành ấu trùng giai đoạn 4 và đạt tới giai đoạn trưởng
hồng cầu giảm, bạch cầu toan tính tăng.
thành sau 13- 20 ngày.
- Loài Ancylostoma braziliense (Faria, 1910)
+ Qua da: khi nghiên cứu cảm nhiễm qua da, Kolevatova A.L (1957) đã
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài. Ở môi trường bên ngoài, sau 20 giờ tới một vài ngày, nếu gặp điều
kiện thuận lợi, phôi bào trong trứng phát triển tới dạng ấu trùng. Ấu trùng
thoát ra khỏi trứng, qua 2 lần lột xác thành ấu trùng cảm nhiễm và xâm nhập
vào ký chủ theo 2 con đường:
đã chuyển vào hệ thống tuần hoàn của chó. Theo tác giả, khi nhiễm qua da,
con đường di chuyển bình thường theo hệ thống tuần hoàn của chó, nhiều
nằm trong vỏ trứng. Khi xâm nhập vào đường tiêu hoá của chó qua thức ăn,
cảnh như nhiệt độ và độ ẩm, ấu trùng phát triển trong trứng, sau 25 -26 ngày
nước uống. Ấu trùng cảm nhiễm phá vỡ vỏ và chui ra bắt đầu quá trình di
trở thành trứng có khả năng cảm nhiễm. Chó ăn phải trứng cảm nhiễm cùng với
hành trong cơ thể ký chủ. Ấu trùng xuyên qua niêm mạc ruột, vào máu, theo
thức ăn và nước uống, ấu trùng nở ra sẽ chui sâu vào niêm mạc ruột già và tiếp
hệ thống tuần hoàn đến gan, về tim, lên phổi vào khí quản, lên miệng rồi trở
tục phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian phát triển của Trichocephalus
lại ruột non, tiếp tục phát triển ở niêm mạc ruột non và trở thành giun trưởng
vulpis đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể chó khoảng 30 - 107 ngày
thành gây bệnh cho chó. Một số ấu trùng sau khi vào phổi tiếp tục theo hệ
(Skrjabin và cs, 1963) [20].
thống tuần hoàn về các tổ chức cư trú làm thành kén nhưng vẫn có khả năng
- Loài Spirocerca lupi (Rudolphi, 1809)
gây nhiễm nếu các đông vật cảm nhiễm khác ăn phải. Ấu trùng còn qua hệ
phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng thích hợp sẽ phát triển
ký chủ dự trữ, ấu trùng được giải phóng khỏi đường tiêu hoá của ký chủ dự
thành ấu trùng cảm nhiễm, ấu trùng vẫn nằm trong trứng. Khi chó nuốt phải
trữ, chúng xuyên qua thành dạ dày, di hành trong hệ tuần hoàn, đến động
ấu trùng vào ruột, ấu trùng phá vỡ vỏ chui vào niêm mạc ruột, qua tĩnh mạch
mạch chủ, ở đó khoảng 3 tuần. Sau 10-12 tuần, ấu trùng di hành đến thực
cửa rồi vào gan, đi qua tâm nhĩ phải, xuống tâm thất phải, qua động mạch
quản, tạo thành kén và phát triển đến dạng trưởng thành. Thời gian hoàn
phổi vào phổi, vào phế nang, lên yết hầu, xuống thực quản rồi trở về ruột non.
thành vòng đời từ 5 - 6 tháng.
Ở đây tiếp tục phát triển qua 3 lần lột xác nữa để trở thành giun trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời từ 55-72 ngày (Skrjabin và cs, 1963) [20].
1.1.3. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn đƣờng tiêu hoá của chó
Nghiên cứu dịch tễ học cho ta cơ sở phòng trị bệnh ký sinh trùng có
- Loài Trichocephalus vulpis (Froelich, 1989)
hiệu quả. Sự phát triển của ký sinh trùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
đời, ấu trùng bắt đầu hoạt động và quay về đường tiêu hoá và phát triển thành
Chó và hầu hết các loài thú ăn thịt họ chó (Canidae) đều nhiễm một số
giun trưởng thành. Do vậy, chó con chưa đầy 1 tháng tuổi đã nhiễm giun móc,
loài giun tròn (Nematoda) như: giun đũa (Toxocara canis, Toxascaris
giun đũa. Chó trưởng thành nhiễm ít hơn, do có sức đề kháng với ký sinh
leonina), giun móc (Ancylostoma caninum, Uncinaria stenocephala), giun tóc
trùng. Mặt khác, tuổi thọ của ký sinh trùng có hạn. Kolevatova (1959) cho
Trichocephalus vulpis.
biết: nếu chó có miễn dịch với giun móc thì nó có khả năng tống phần lớn
Theo Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê (1977), chó ở Việt
giun này ra khỏi cơ thể.
Skrjabin và Petrov (1977)[20] cho biết: ở chó lớn, bệnh do Toxocara
Nam nhiễm 16 loài giun tròn.
Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều thấy rằng: chó cũng như thú
ăn thịt khác bị nhiễm giun nặng ở giai đoạn còn non và nhẹ hơn ở giai đoạn
trưởng thành (Trịnh Văn Thịnh, 1963)[25], Đoàn Văn Phúc, Phạm Văn
canis ít thấy hơn so với chó non, điều đó nói lên rằng: chó trưởng thành có
Toxocara canis do vòng đời phát triển của loại này qua bào thai.
thứ 7 - 8. Chó trưởng thành 2- 3 tuổi ít thấy nhiễm và 4 tuổi trở lên thì chỉ gặp
William và Menning (1978) điều tra sự nhiễm Toxocara canis ở các lứa
tuổi khác nhau của chó, tác giả cho biết: chó dưới 1 năm tuổi tỷ lệ nhiễm
45%, trên 1 năm tuổi (20%).
trong những trường hợp đặc biệt.
Phạm Văn Khuê và cs, (1993)[6] cho biết: chó con từ 1-3 tháng tuổi đã
thấy nhiễm 5 loài giun, một số loài như: giun đũa, giun móc tỷ lệ nhiễm cao,
Chó con nhiễm giun nặng (đáng chó ý là giun đũa, giun móc) vì cơ thể
Toxocara canis 57,1%, chó 7-12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm Toxocara canis
chó non sức đề kháng yếu với mầm bệnh, dễ mẫn cảm với các loài giun. Mặt
(14,8%), chó trên 12 tháng tuổi không nhiễm loại này. Tỷ lệ nhiễm
khác một số loài (giun đũa, móc) truyền cho chó non ngay từ khi còn trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
tháng 10, đó là mùa nóng ẩm, mưa nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho trứng
cho 3 chó hai năm tuổi, cả ba chó đều không bị bệnh khi nuôi dưỡng tốt.
giun móc phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Khi chó nhiễm ấu trùng qua
Nhưng chó bị mắc bệnh ngay sau khi giảm tiêu chuẩn vitamin A trong thức
ăn. Chó và các loài thú ăn thịt trưởng thành khác ít bị nhiễm Toxocara canis,
điều này chứng tỏ rằng: chó trưởng thành có sức đề kháng với bệnh và được
duy trì khi được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt.
Phạm Sĩ Lăng(1985)[10] cho biết: chó Nhật, Becger, Tây Ban Nha, Fok
từ 1-3 tháng tuổi nhiễm giun móc 62,1%; 3-6 tháng tuổi (90,7%), Toxocara
canis là 14,6%, Toxascaris leonina là 85,4%. Tỷ lệ nhiễm của chó con còn
phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng chăm sóc, điều kiện môi trường bị ô nhiễm,
mất vệ sinh, ẩm thấp thì tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chó cao, có thể từ 30 - 60 %.
Qua kết quả nghiên cứu thực tế của các tác giả, tỷ lệ nhiễm giun tròn
đường tiêu hoá qua các lứa tuổi ở chó khác nhau.
Những ấu trùng này lưu lại một thời gian ở phổi và bắt đầu vào đường tiêu
hoá sau 6 -9 giờ.
Tuy nhiên, chó con thường bị nhiễm nặng trong những tháng nóng ẩm từ
mùa hè sang mùa thu.
1.1.4. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun tròn đƣờng tiêu hoá chó
1.1.4.1. Biểu hiện lâm sàng
Khi nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, các tác giả đều cho thấy: bệnh xảy
ra ở thể cấp và mãn tính. Tuỳ theo số lượng giun và sức đề kháng của chó mà
biểu hiện lâm sàng nặng hay nhẹ khác nhau.
+ Thể cấp tính: thường xảy ra ở chó non, sức đề kháng yếu, chó hay nôn
Hội chứng viêm ruột không những do tác động của độc tố giun móc mà
còn do các vi khuẩn gây bênh đường ruột như: E.coli, Salmonella có sẵn trong
Kolevatova (1959), Brumpt (1949) cho biết: chó nôn dữ dội là do tác
động cơ giới của giun bám vào tá tràng, tạo các vết tổn thương làm ruột tăng
ống tiêu hoá tác động vào những vết thương do giun móc bám vào để hút máu
gây ra.
Lapage (1968)[48] nhận xét: chó bị bệnh giun móc biểu hiện thiếu máu
nhu động gây nôn (dẫn theo Skrjabin K.I 1977) [20].
Phạm Sĩ Lăng (1985)[10] quan sát 64 chó nghiệp vụ và chó cảnh bị
đặc thù, ở ruột non chó, giun móc nhanh chóng bám vào thành ruột hút máu,
nhiễm giun móc cấp tính thấy biểu hiện lâm sàng đặc trưng là: nôn mửa
tạo các vết thương ở nhung mao ruột, làm cho các vết thương luôn rỉ máu.
91,1%, bỏ ăn hoặc ăn ít 87,7%, ỉa chảy 84,3%, chảy máu ruột 98,3%, thân
Thời gian hút máu tới lúc no khoảng 100-250 phút. Giun cái hút máu nhiều
nhiệt tăng do viêm ruột kế phát 35,9%. Chó chết sau 2-3 ngày nếu không
hơn giun đực. Một giun móc trưởng thành hút của ký chủ 0,84ml máu trong
được điều trị kịp thời.
Trichocephalus vulpis xuyên sâu vào niêm mạc ruột già để hút chất dinh
Văn Thịnh 1963)[25].
Theo Ngô Huyền Thuý (1996) [34], chó biểu hiện gày còm, thiếu máu,
niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, rối loạn tiêu hóa, ỉa ra máu. Chó chết với tỷ lệ
cao 62-85% do rối loạn chất điện giải, hạ huyết áp, trụy tim mạch. Chó 2- 6
tháng tuổi nôn mửa liên tục, mồm có nhiều nước dãi, nhiều con nôn ra cả giun
đũa Toxocara canis, có những cơn đau bụng vật vã, kêu rên dãy dụa (do
nhiễm nhiều giun đũa).
+ Thể mãn tính:
Thể này thường thấy ở chó lớn, triệu chứng lâm sàng giống như thể cấp
tính, nhưng thể hiện với mức độ nhẹ hơn và thời gian kéo dài. Một tháng sau
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
20
khi nhiễm ấu trùng, chó thể hiện hội chứng thiếu máu, chảy máu ruột. Nhưng
Trong quá trình ký sinh, giun móc tiết ra độc tố và độc tố này hấp thu
sau vài tháng, triệu chứng này giảm dần, chó chỉ còn hiện tương gầy còm, thể
thoảng lên cơn co rật, giẫy dụa, chảy nước dãi. Chó 3 tháng tuổi nhiễm giun
đũa có biểu hiện viêm phúc mạc, xoang bụng tích nước. Thời kỳ ấu trùng di
Phạm Sĩ Lăng và cs (1999)[14] quan sát thấy 6 chó con 45 ngày tuổi có
biểu hiện triệu chứng này, khi được tẩy giun, bình quân mỗi chó thải ra 48
giun đũa trưởng thành.
hành qua phổi gây viêm phổi, tắc ống dẫn mật.
Theo Kolevatova AL (1959): trong điều kiện được nuôi dưỡng tốt thì sau
một thời gian nhất định, chó có thể tự khỏi bệnh và phục hồi sức khoẻ.
Ngô Huyền Thuý (1996)[34] cho biết: chó biểu hiện nôn khan, phân
lỏng, thỉnh thoảng có màng nhày, lẫn máu màu cà phê hay màu mận chín, có
trường hợp phân chó thành khuôn nhưng cuối bãi phân có máu lẫn màng nhày
ruột, chó ăn ít, thỉnh thoảng bỏ ăn, gày yếu, bụng to, đi lại siêu vẹo. Nếu chó
được chăm sóc tốt thì thể trạng được phục hồi dần. Ancylostoma caninum là
một trong những giun tròn có sức gây bệnh nặng cho chó do hai yếu tố cơ bản
là tác động cơ học và tiết độc tố. Giun có bao miệng phát triển lại được trang
Phạm Sĩ Lăng và cs, (1989)[10] cho biết: hội chứng viêm ruột cấp và
mãn tính cũng thấy rõ ở chó với các triệu chứng như: nôn mửa, ỉa chảy, phân
tanh khắm. Chó con 1- 2 tháng tuổi ỉa phân trắng xám, lỏng, đau bụng, rên rỉ,
lăn lộn, có con nôn ra giun và ỉa ra giun, chó có hội chứng thần kinh như đi lại
run rẩy, loạng choạng giống như trạng thái thần kinh của bệnh care, chỉ khác
là không tăng nhiệt độ. Chó trưởng thành bị nhiễm giun chỉ thể hiện gầy còm,
thỉnh thoảng nôn khan và ít biểu hiện triệu chứng lâm sàng như chó con.
Trường hợp chó nhiễm nhẹ (số lượng Toxascaris leonina ít), thường không có
biểu hiện bệnh lý. Nếu chó nhiễm nặng, số lượng giun có thể đến vài trăm con
trong ruột non chó thì bệnh lý thể hiện rõ. Phạm Sĩ Lăng(1985) [10] tẩy giun
đũa Toxascaris leonina trưởng thành với số lượng nhiều có thể gây tắc ruột và
thương khối u cứng, kích thước bằng hạt đậu đến quả trứng vịt, trong khối u
thủng ruột non của chó.
chứa nhiều chất mủ lỏng và có nhiều giun quấn lại với nhau thành từng búi.
Trịnh Văn Thịnh (1963) nhận xét: ấu trùng giun móc khi chui qua da gây
1.1.5. Phòng trị bệnh giun tròn đƣờng tiêu hoá chó
tổn thương lớp biểu bì và tổ chức liên kết dưới da, làm con vật bị ngứa và
* Điều trị bệnh:
viêm da. Ấu trùng giun đũa, giun móc còn gây những tổn thương ở phổi, phế
Ngày nay, có rất nhiều loại hoá dược đã được nghiên cứu ở trong và
nang khi chóng di hành. Giun móc tiết độc tố phá vỡ hồng cầu, làm máu khó
ngoài nước được sử dụng để điều trị và phòng bệnh giun sán cho gia súc và
đông, gây tổn thương niêm mạc, mạch máu ruột. Đó là nguyên nhân gây xuất
gia cầm. Trong số đó có những loại thuốc dễ sử dụng có hiệu lực cao, an toàn,
huyết kéo dài.
thể tẩy được nhiều loại giun tròn ở chó, mèo với liều 60-100mg/kg TT, hiệu
phổi ở chó non do quá trình di hành của ấu trùng Toxocara canis, hoặc giun
lực đạt 93% (Phan Địch Lân, Phạm Sĩ Lăng, Đoàn văn Phúc, 1989)[16].
đũa trưởng thành chui vào túi mật phá hoại chức năng hoạt động của các cơ
1.1.5.3. Levamisol
quan này dẫn đến gan bị tổn thương sưng to, màu vàng úa, viêm nát.
Phạm Văn Khuê và cs (1993)[6] nghiên cứu tình hình nhiễm Spirocerca
Ở liều 10mg/kgTT dùng 2 lần trong 14 ngày có hiệu quả tẩy trừ giun
tròn chó (Arundel, H.J, 2000)[39].
lupi ở Hà Nội cho biết: tỷ lệ nhiễm là 14,2%, giun thường tạo thành những tổn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
24
1.1.5.9. Levamisol injectable
Là thuốc trị giun tròn. Chế phẩm là dung dịch trong, chứa Levamisol
hydroclorit với các chất làm ổn định và các chất bổ sung để chế phẩm thích
tháng một lần.
hợp cho việc tiêm. Thuốc phân tán nhanh trong cơ thể, phổ hoạt lực rộng với
1.1.5.6. Fenbendazol
các loài giun tròn dạng trưởng thành và chưa trưởng thành [36]
Nghiên cứu ở Mỹ, Burke và cs, (1982) nhận xét: thuốc Fenbendazol có
1.1.5.10. Albendazol
khả năng chống lại giun tròn, liều 50mg/kgTT, dùng liên tục trong 3 ngày(dẫn
Là dẫn xuất của Imidazol, thuộc nhóm Benzimidazol.
theo Arundel, H.J 2000) [39].
Tính chất: thuốc ở dạng bột màu trắng, không tan trong nước, có thành
1.1.5.7. Disophenol
phần hóa học là 5n - propionilthio- benzimidazol carbonnatmethyl.
Nghiên cứu ở Australia, Arundel (2000)[39] cho biết: thuốc Disophenol
liều 10mg/kgTT có hiệu quả tẩy trừ cao đối với loài Ancylostoma caninum và
http://www.lrc-tnu.edu.vn
http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
26
Praziquantel là dẫn chất của pyrazinisoquinolone. Thuốc dựa trên đặc
tính làm co cứng, tê liệt cơ và phá hủy vỏ của giun sán. Thuốc được dung nạp
tốt và không gây tác dụng phụ.
quanh chuồng, ủ phân bằng vôi bột để diệt trứng giun và ấu trùng, diệt ký chủ
trung gian và các loài gặm nhấm là ký chủ dự trữ.
- Cho chó ăn uống đảm bảo vệ sinh, đầy đủ cả về lượng lẫn chất để giúp
Pyrantel: công thức hoá học 1,4,5,6 - tetrahydro - metyl - (thienyl) vinyl
pirimidine, thuốc ở dạng tatrat được hấp thu nhanh, đạt nồng độ hữu hiệu
trong huyết tương sau 2-3 giờ, thuốc có tác dụng đối với các loài giun tròn.
* Phòng bệnh
Phòng chống các bệnh giun sán đường tiêu hoá cho động vật nói
chung, các loài chó và thú ăn thịt nói riêng, Skrjabin và Petrov (1963)[20],
Lapage (1968)[48] đã đề ra một số biện pháp phòng bệnh:
- Kiểm tra định kỳ, đối với chó con một tháng một lần, đối với chó
chó con vật có sức đề kháng chống lại bệnh tật nói chung và bệnh ký sinh
trùng nói riêng.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
- Diệt ký chủ trung gian và các động vật gặm nhấm khác.
(1938) đã phát hiện ra loài Ancylostoma braziliense ký sinh ở ruột non chó,
Một số tác giả trong nước như Đỗ Hài (1972)[2], Phan Địch Lân, Phạm
Ancylostoma caninum ký sinh ở chó Sài Gòn, Huế và Bắc Bộ.
Sĩ Lăng (1989)[16], Phạm Văn Khuê, Đoàn Văn Phúc (1993)[6] đề ra một số
biện pháp phòng bệnh giun sán cho chó như sau:
- Sử dụng thuốc tẩy giun sán định kỳ đối với chó nhiễm giun: 3 tháng tẩy
một lần bằng các loại thuốc Piperazinadipate, Mebenvet, Mebendazol.
- Thực hiện vệ sinh Thú y, tẩy uế chuồng nuôi 1 lần/tháng bằng thuốc
sát trùng Crêzin 1%, đun nước sôi dội chuồng, vệ sinh khu vực xung
Công tác điều tra cơ bản về giun sán ở chó đã được các tác giả nghiên
cứu hệ thống và liên tục với những phương pháp và kỹ thuật kinh điển sử
dụng cho ký sinh trùng học. Đó là các tác giả: Trịnh Văn Thịnh (1963),
Đặng Văn Ngữ (1963-1974), Bùi Lập (1965), Phạm Sĩ Lăng (1985), Phan
Địch Lân, Đoàn Văn Phúc, (1989), Phạm Văn Khuê (1993), Ngô Huyền
Thuý (1996).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
14,2%
giun đũa có giảm, nhưng chó lớn tỷ lệ nhiễm giun móc là 100% và tồn tại cho
đến khi chó già và chết. Tác giả cho biết, chó mẹ nuôi con nhiễm giun tóc
93.7%, giun đũa 73,7%, giun móc 100%.
Trịnh Văn Thịnh (1978)[23] cho biết: chó nhiễm 11 loài giun tròn gồm:
Toxocara canis, Toxascaris leonina, Ancylostoma caninum, Strongyloides sp,
Trichocephalus
sp,
Dirofilaria immitis,
Uncinaria
stenocephala,
Dirofilaria repens,
Ancylostoma
braziliense,
Dipetallonema dracunculoides,
Spirocerca lupi.
Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê (1977)[38] cho biết: chó
Ngô Huyền Thuý và cs, (1994)[31] xét nghiệm phân chó ở Hải Phòng và
Đào Huyền Giang (1995) xét nghiệm phân chó Nhật, chó Fok, chó lai và
nhiễm 16 loài giun tròn.
Phạm Sĩ Lăng (1985)[10] xét nghiệm 1718 mẫu phân chó và cho biết, tỷ
chó nội, cho biết cả 4 giống chó đều nhiễm 2 loài giun Toxocara canis từ
15,39 % - 20% và Toxascaris leonina từ 30,7% - 37,5 % (dẫn theo Ngô
lệ nhiễm giun móc Ancylostoma caninum là 74,8%.
Phạm Sĩ Lăng (1993)[12] mổ khám 23 chó chết và xét nghiệm phân của
574 chó cảnh ở vườn thú Thủ Lệ, đã phát hiện 5 loài giun tròn ký sinh ở chó
Huyền Thuý, 1996) [34].
Ngô Huyền Thuý (1996)[34] xét nghiệm mẫu phân chó nuôi tại Hà Nội
thấy nhiễm 12 loài thuộc 12 giống giun sán, mổ khám 516 chó thấy tỷ lệ
với tỷ lệ nhiễm:
Ancylostoma caninum
72 %
nhiễm giun tròn, sán dây, sán lá, lần lượt là 98,5%, 36,8% và 10,4%, trong đó
Toxocara canis
20,4 %
tỷ lệ nhiễm giun móc Ancylostoma caninum là cao nhất 70,5% - 81,65%, tỷ lệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
http://www.lrc-tnu.edu.vn
29
30
Lê Hữu Nghị và cs (2000)[19] kiểm tra 130 chó ở thành phố Huế, cho
biết tỷ lệ nhiễm Toxocara canis là 58,46%.
Houdemer (1938) đã thấy ở Việt Nam loài giun móc Ancylostoma
braziliense ở ruột non chó, loài Ancylostoma caninum của chó ở Sài gòn, ở
Từ thống kê trên cho thấy, chó ở nước ta nhiễm nhiều loài giun tròn, trong
Huế và ở Bắc bộ (dẫn theo Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978).
đó số lượng loài ký sinh ở đường tiêu hoá là phổ biến. Những loài giun tròn
Kolevatova A.l (1957) đã chứng minh bằng thực nghiệm quá trình xâm
gây tác hại nhiều cho chó và khả năng lây sang người là Toxocara canis,
nhập của ấu trùng, những tác động bệnh lý của hai loài Ancylostoma caninum,
đời phát triển của Toxascaris leonina.
Leiz năm (1856) tìm thấy giun chỉ Dirofilaria immitis ký sinh ở tim chó.
(dẫn theo Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978).
Watkins và Havey (1942) đã tìm thấy ở ruột non chó, cáo vùng tây nam
nước Anh và vùng Shorophier loài Toxocara canis (dẫn theo Ngô Huyền
Thuý, 1996).
Những năm gần đây, nhiều tác giả ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ và
trên thế giới đã công bố những kết quả về tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó.
Coebenberg (1977) kiểm tra 387 chó ở Mỹ cho biết tỷ lệ nhiễm
Frohlich (1798) phát hiện trong manh tràng của chó có loài giun
Trichocephalus vulpis, sau đó được Skrjabin và Orlov (1957) nghiên cứu sâu
hơn về đặc điểm và vòng đời phát triển của loài giun này.
Năm 1884, Railliet phân loại và tìm thấy loài giun Uncinaria
stenocephala gây ra bệnh Ancylostomatosis và được Petrov A.M chỉ ra vòng
Toxocara canis là 18,9%, Toxascaris leonina 18,9%.
Miloyet (1978) kiểm tra 474 chó, tỷ lệ nhiễm Toxocara canis 26,6%,
Toxascaris leonina 2,3%.
Mile và Hansbory (1982) kiểm tra 1720 chó tại Leipzia (Đức) cho biết tỷ
lệ nhiễm Toxocara canis 5,4%, Toxascaris leonina 38%.
đời và đường xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể vật chủ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Owen (1835) phát hiện ra giun bao Trichinella ở chó.
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu phân của 457 chó các loại và ở các lứa tuổi khác nhau (dùng để
Ancylostoma caninum là 50,1%.
Aguilar và cs (2005)[40] đã mổ khám ruột non của 120 chó ở thành phố
Mexico, các tác giả phát hiện 102 chó bị nhiễm giun sán, trong đó 75 chó
nhiễm Ancylostoma caninum, chiếm tỷ lệ 62,5%. Giun đũa Toxocara canis
nhiễm phổ biến ở chó non và chủ yếu nhiễm vào mùa khô.
Tại Braxin, DeCastro và cs (2005)[43] kiểm tra phân chó ở những luống
hoa, cỏ hướng ra phía bờ biển của Praia Grande, Sao paulo cho biết: tỷ lệ
nhiễm Toxocara canis là 1,2%.
xét nghiệm trứng giun tròn, mổ khám 116 chó).
- Máu chó mắc bệnh giun móc qua xét nghiệm phân (10 mẫu) và không
mắc bệnh (10 mẫu).
- Bệnh phẩm (ruột non) của chó bị bệnh giun móc để xác định bệnh tích
đại thể và vi thể.
- Kính hiển quang học có gắn máy ảnh, lamen, lam kính, bộ ống hút
hồng cầu, bạch cầu, huyết sắc kế shali, buồng đếm Newbauer, thuốc nhuộm
Hematoxylin - eosin. Dung dịch pha loãng hồng cầu, bạch cầu, cồn tuyệt đối,
dung dịch HCL 0,1N, dung dịch nước muối bão hoà, các hoá chất và dụng cụ
thí nghiệm khác.
- Thuốc phòng trị bệnh giun tròn: Albendazol, Ivermectin, Levamisol, Sanpet.
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Bộ môn Ký sinh trùng, Bộ môn Hoá sinh - Miễn dịch - Viện Thú y Quốc
Gia, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
Thời gian thực hiện: 10/2006 - 10/2007
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn ở chó tại Hà Nội
Cách tiến hành: tách riêng từng phần của ống tiêu hoá, buộc lại. Sau đó
- Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó theo tính biệt.
mổ khám dọc theo đường tiêu hoá (thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già) để
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh giun tròn đƣờng
kiểm tra bệnh tích, tìm giun tròn ký sinh và đếm số lượng từng loại giun
tiêu hoá của chó
tròn/cá thể chó để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm.
- Tỷ lệ và những biểu hiện triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh giun tròn.
2.3.3. Phƣơng pháp sử lý, bảo quản và định danh các loài giun tròn ký
- Bệnh tích đại thể và vi thể ở cơ quan tiêu hoá của chó bị bệnh giun móc.
sinh ở chó
- Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của chó bị bệnh giun móc so với
Thu thập toàn bộ giun tròn đường tiêu hoá. Giun được làm chết tự nhiên
chó khoẻ.
trong nước lã, sau đó rửa sạch bằng nước cất, bảo quản trong dung dịch
Tài nguyên sinh vật.
2.3.4. Phƣơng pháp kiểm tra phân
hoặc lấy trực tiếp từ trực tràng, để trong lọ nhựa có nắp, có nhãn ghi các
Các mẫu phân đều được xét nghiệm bằng phương pháp phù nổi
thông tin: loại chó, tuổi, tính biệt, thời gian, địa chỉ, trạng thái phân và các
Fulleborn với dung dịch muối NaCl bão hoà, quan sát dưới kính hiển vi ở
biểu hiện lâm sàng của chó (những thông tin này cũng được ghi vào sổ nhật
độ phóng đại x100.
ký đề tài), việc xét nghiệm phân được thực hiện trong ngày lấy mẫu.
- Mẫu máu: lấy máu chó khoẻ và chó bị bệnh giun móc ở tĩnh mạch
- Cách tiến hành phương pháp phù nổi Fulleborn:
Lấy khoảng 5 gram phân chó cho vào cốc sạch, cho khoảng 50-60 ml
khoeo chân sau (1ml /con) đựng trong ống nghiệm có chất chống đông máu.
dung dịch nước muối bão hoà, dùng đũa thuỷ tinh nghiền nát và khuấy đều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Nếu có 1 - 3 trứng và chó không có biểu hiện lâm sàng:
cường độ nhiễm nhẹ
chết. Quan sát bằng mắt thường và kính lúp để xác định bệnh tích ở thực
(+)
+ Nếu có 4- 6 trứng và chó chưa có biểu hiện lâm sàng:
cường độ nhiễm trung bình (++)
2.3.10. Phƣơng pháp xác định bệnh tích vi thể do giun móc gây ra
thương do giun móc gây ra.
(+++)
+ Nếu có >10 trứng và chó có biểu hiện lâm sàng rất rõ rệt:
cường độ nhiễm rất nặng
quản, dạ dày, ruột non, ruột già, chụp ảnh vùng có bệnh tích điển hình.
- Thu thập bệnh phẩm: lấy phần bệnh phẩm đường tiêu hoá có nhiều tổn
+ Nếu có 7- 10 trứng và chó có biểu hiện lâm sàng:
cường độ nhiễm nặng
- Mổ khám những chó bị nhiễm giun tròn đường tiêu hoá và một số chó
(++++)
- Cố định bằng dung dịch formol 10%.
+ Rửa nước12-24 giờ (rửa dưới dòng nước chảy nhẹ để trôi hết formol)
+ Vụ hè - thu: từ tháng 4 - tháng 9
phần, glyxerin 1 phần, 1ml hỗn hợp trên pha trong 15 ml nước cất).
+ Vụ đông - xuân: từ tháng 10 - tháng 3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Cắt và dán mảnh: cắt bệnh phẩm trên máy cắt Microtom, độ dày 3-
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
37
38
+ Nhuộm tiêu bản bằng phương pháp Hematoxilin- eosin.
Dùng ống hút bạch cầu hút máu đến vạch 0,5, sau đó hút dung dịch pha
+Gắn lamen bằng baume Canada, dán nhãn và đọc kết quả dưới kính hiển vi
loãng đến vạch 11 (pha loãng 20 lần), các thao tác tiếp theo giống như thao
+ Chụp ảnh những biến đổi vi thể dưới kính hiển vi.
Dùng ống hút pha loãng hồng cầu (ống Thoma), hút máu đến vạch 0,5,
dùng bông lau sạch đầu ống hút, rồi tiếp tục hút dung dịch pha loãng đến vạch
101 (pha loãng 200lần) đảo nhẹ cho đều. Trước khi cho máu đã pha loãng vào
đếm, bỏ 2-3 giọt đầu. Đếm số lượng hồng cầu ở 5 ô trung bình (4 ô ở góc và 1
ô ở giữa). Mỗi ô trung bình có 16 ô con. Đếm hồng cầu theo hình chữ chi, chỉ
đếm những hồng cầu ở bên trong, cạnh trên, bên phải ô con.
+ Cách tính:
có màu nâu. So màu với ống chuẩn để tìm lượng hemoglobin.
+ Tiến hành:
Cho dung dịch HCl 1% vào ống đo đến vạch 10, dựng ống hút, hút máu
đến vạch 20. Dùng bông lau sạch những vết máu ngoài ống. Cho ống hút
xuống tận đáy ống đo và thổi nhẹ máu xuống ống, hút lên, thổi xuống nhiều
lần để rửa sạch máu trong ống hút, rồi trộn đều. Để 10 phút, rồi dùng ống hút
nước cất nhỏ từ từ vào ống đo, vừa nhỏ vừa khuấy đều đến khi màu của ống
đo tương đương màu của ống chuẩn thì dừng lại đọc kết quả trên cột số. Đó là
Gọi số lượng hồng cầu đếm được ở 5 ô trung bình là M, thì số hồng cầu
trong 1 mm3 máu là: M/5 x 25 x 10 x 200 = M x 10.000.
số lượng gram huyết sắc tố trong 100ml máu.
- Xác định công thức bạch cầu theo phương pháp Tristova: làm tiêu
- Đếm số lượng bạch cầu:
bản máu, cố định bằng cồn 99%, nhuộm màu bằng Hematein- eosin, soi
Máu được pha loãng trong ống hút bạch cầu, dung dịch pha loãng bạch
kính hiển vi, đếm số lượng từng loại bạch cầu, từ đó xác định tỷ lệ (%)
nghiên cứu trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện và cs (2002)[24], sử dụng
phần mềm của chương trình excel.
+ Nếu vẫn thấy trứng nhưng số lượng bình quân trên một vi trường giảm
X1 + X2 + X3......Xn
- Số trung bình X
rõ rệt thì xác định thuốc có hiệu lực nhưng chưa triệt để .
Số chó không bị phản ứng
Độ an toàn của thuốc (%) =
=
=
n
x
n
+ Nếu thấy số lượng trứng bình quân trên một vi trường không giảm so
với trước khi tẩy thì xác định thuốc không có hiệu lực đối với giun tròn.
- Độ lệch chuẩn S X
2.3.13. Xác định độ an toàn của thuốc
Độ an toàn được đánh giá bằng kết quả theo dõi trạng thái cơ thể, sự
Số chó nhiễm
Số chó kiểm tra
- n: dung lượng mẫu
- So sánh mức độ sai khác: tTN
x 100
(Trường hợp n
Chƣơng 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
giữa 2 số trung bình.
+ Nếu ứng với mức sác xuất P > 0,05: hai số trung bình khác nhau
không rõ rệt.
3.1. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN TRÕN CỦA CHÓ Ở
HÀ NỘI
+ Nếu ứng với mức sác xuất P < 0,05: hai số trung bình khác nhau rõ
rệt, với độ tin cậy 95%.
3.1.1. Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đƣờng tiêu của chó nuôi ở Hà Nội
Để xác định bệnh do giun tròn đường tiêu hoá của chó nuôi ở Hà Nội.
+ Nếu ứng với mức sác xuất P
+
+
4
Hoàn Kiếm
+
+
+
+
4
Ba Đình
+
+
+
+
4
+
+
4
Thanh Xuân
+
+
+
+
4
Tây Hồ
+
+
+
+
4