Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại một số xã thuộc huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn và sử dụng thuốc hanmectin 25 trong điều trị - Pdf 13



1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có hơn 75% dân số làm nghề nông nghiệp, trong đó ngành chăn
nuôi chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nghề chăn nuôi
lợn có một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp vì: nó cung cấp
nguồn thực phẩm có giá trị cao cho con người (100g thịt lợn có 367 Kcal và
22 g protein); cung cấp phân bón cho trồng trọt (1kg lợn thịt có thể thải 2,5 -
4 kg phân/ngày đêm); cung cấp sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế
biến. Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, đàn lợn nước ta đạt 34,8 triệu con
và có thể xuất khẩu thịt lợn, nước ta đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất như con giống; thú y; thức ăn. Tuy nhiên ngành chăn nuôi
luôn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp,
trong đó có bệnh ký sinh trùng. Điều kiện khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều của
nước ta là môi trường thuận lợi để bệnh ký sinh trùng phát triển. Đàn lợn
thường bị nhiễm ký sinh trùng với cường độ nặng, đặc biệt là bệnh giun tròn
đường tiêu hóa. Bệnh không diễn ra nhanh và mạnh như bệnh truyền nhiễm
nhưng lại âm thầm làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng phát triển kém, giảm sức
đề kháng từ đó làm giảm năng xuất và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi.
Tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía Bắc với phương thức chăn nuôi
lạc hậu, chủ yếu là chăn nuôi tận dụng trong các hộ gia đình. Do vậy công tác
vệ sinh thú y trong chăn nuôi còn kém nên khả năng nhiễm bệnh cao, đặc biệt
là bệnh giun tròn đường tiêu hóa.
Để đánh giá tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn và có cơ sở
khoa học đề xuất biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc
huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn và sử dụng thuốc Hanmectin - 25 điều trị”. 3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn
2.1.1.1. Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn trong hệ thống phân
loại động vật
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [16], ký sinh trùng phân bố rất rộng trong
thiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau. Có số lượng loài
phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài. Giun sán gồm
đại diện của 13 lớp: Lớp sán lá gần 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000 loài, lớp
sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai gần 500 loài.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], ở lợn cho đến nay đã phát hiện
được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng
ký sinh. Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ
lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột
lợn do Fascioloposis buski … Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn sống ở các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến
quá trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ
15 - 20% so với lợn không bệnh.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] cho biết: Lớp giun tròn thuộc ngành
giun tròn Nemathelminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện
sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu. Phần lớn giun tròn sống tự
do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán ký
sinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn.
Hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hóa lợn được
sắp xếp theo vị trí như sau:

Phân bộ Ascaridida Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linnacus, 1758
Giống Ascaris Linnaeus, 1758
Loài Ascaris suum Goeze, 1782
Bộ Spirurida Chitwood, 1933
Phân bộ Camallaninia Chitwood, 1936
Họ Gnathostomatidae Railliet, 1895
Giống Gnathostoma Owen, 1836
Loài Gnathostoma doloresi (Tubangui, 1925)
Loài Gnathostoma hispidium (Fedtschenko, 1977) 5
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] , hiện nay đã biết hơn 5000
loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1000 loài giun sống tự
do, hơn 3000 loài giun sống ký sinh. Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều
tới thú y gồm 8 bộ phụ:
+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)
+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Strongylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
+ Bộ phụ giun chỉ (Filariata)
+ Bộ phụ Dioctophymata
Chu Thị Thơm và cs (2006) [34], Phan Lục và cs (2006) [20] cho biết:
Đến nay đã biết giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3000 loài sống ký sinh
nhưng giun tròn ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau:
+ Bộ phụ giun kim
+ Bộ phụ giun đũa

(Tubangui, 1925)
Loài Gnathostoma hispidium
(Fedtchenko, 1977)
Giun tròn ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người, động vật chủ yếu gồm
các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliadae, Strongyloidida, Oxyurida,
Ascaridida, Spirurida (Nguyễn Thị Lê, 1998) [18].
2.1.1.3. Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun tròn đường tiêu hóa lợn
Theo Phan Lục và cs (2006) [20] cho biết giun tròn thuộc lớp
Nematoda, ngành Nemathelminthes: Cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu
thon nhỏ dần, hoặc hình ống phân thùy (xoăn mề gà), dài từ 0,1mm đến 1m
(có loại Placenronema gigantisima dài 8m). Giun tròn gồm nhiều loại, sống
tự do và sống ký sinh ở động vật, thực vật (cây trồng).
Đầu giun thường có môi, gai, xoang miệng. Đuôi giun cái thường nhọn,
thẳng, đuôi giun đực thường cong. Một số loài giun tròn có túi đuôi. Cơ thể
giun thường bao bọc bằng lớp vỏ ngoài (cutin) dày. Trên lớp vỏ này có những
vân ngang, dọc, giác, móc và các cấu tạo phụ khác. Thành phần của lớp vỏ
gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn, chịu đựng tốt với hóa chất, dịch
tiêu hóa và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh của giun. Lớp vỏ
ngoài gồm nhiều lớp. Những giun ký sinh đường tiêu hóa gồm 7 - 10 lớp (lớp
vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến trong, lớp 7
hình bazan, màng bazan, lớp nhiều thớ sợi, màng kép bazan). Những giun ký
sinh ở hệ hô hấp gia cầm không vượt quá 5 lớp vỏ ngoài.
Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di
chuyển được. Sau lớp cơ, có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất
của giun. Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang
cơ thể chứa các khí quan.
* Đặc điểm hình thái giun dạ dày

trước thân.
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt
bụng, đuôi giun cái thẳng. Giun đực có hai gai giao hợp bằng nhau, khoảng
cách 1,2 - 2 mm không có túi giao hợp.
Theo Đào Trọng Đạt (1995) [2], trứng giun đũa hình ovan, vỏ dầy, bề
mặt nhăn nheo, màu vàng, trong có nhân màu vàng thẫm. Kích thước từ 45 -
85 μm x 35 - 55 μm. Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời
phát triển của giun.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] mô tả: Trứng giun đũa hình bầu
dục hơi ngắn, kích thước 0,056 - 0,087 x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp
vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh dán, nhấp nhô làn sóng.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8]: Trứng có phôi màu
vàng nâu kích thước 50 - 70µ x 40 - 60µ vỏ dày (4 lớp vỏ).
Trứng không phôi: Hình bầu dục 80 - 90µ x 44µ có thể có hoặc không
có lớp vỏ abumin dày bọc bên ngoài.
* Đặc điểm hình thái của giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] mô tả: Giun lươn sống ký sinh ở
ruột lợn, giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm. Đuôi ngắn, âm hộ ở vào nửa
sau của thân giun, trứng uốn khúc. Trứng hình bầu dục, màu trắng, kích thước
0,045 - 0,055 mm x 0,026 - 0,035 mm, trong trứng có ấu trùng.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết: Tác nhân gây bệnh giun lươn
ở Việt Nam là hai loài giun lươn thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột
non của lợn có hình thái sau:
Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Ký sinh ở ruột
non lợn. Giun đực có hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi 0,7
mm. Giun cái dài 2,1 - 4,2 mm rộng 0,04 - 0,08 mm. Lỗ sinh dục ở 1/3 phần
sau cơ thể cách nút đuôi là 0,36 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ống mỏng
xuất phát gần lỗ sinh dục,một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng
còn lại hướng phía đuôi. Tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giun giống hình
trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm.

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [6], Phan Lục và cs (2006) [20] , thì
loài Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn
nhỏ không có cánh đầu. Có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to gai cổ ở hai
bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, có túi đuôi, hai gai 10
giao hợp dài 1 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15
mm, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết, trứng giun kết hạt hình ovan,
kích thước 0,056 - 0,071 x 0,032 - 0,045 mm.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8]: Oesophagostomum
dentatum. Ký sinh ở ruột già lợn không có cánh đầu. Túi miệng nông, có 9 tua
ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản.
Giun đực dài 8 - 9mm x 0,14 - 0,37mm có túi đuôi. Sườn bụng song song
nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với ria mép của túi đuôi. Ba sườn hông
bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước tách rời 2 sườn kia, còn sườn
hông giữa và sau song song nhau, sườn lưng trong lại chia thành hai nhánh,
có hai gai giao hợp dài 1,00 - 1,14mm.
Giun cái dài 8 - 11,3mm, đuôi dài 0,117 - 0,374mm. Âm hộ ở trước hậu
môn, cách hậu môn 0,208 - 0,388mm. Âm đạo rộng về phía trước dài 0,1 -
0,15mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng.
Trứng: 70 - 74µ x 40 - 42µ, gồm 8 - 16 hạt (trong vỏ trứng)
2.1.1.4. Đặc điểm cấu tạo của giun tròn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] : Lớp ngoài là biểu bì bằng
giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọc hoặc vân chéo. Một số loài giun tròn
có những chỗ biểu bì phình to gọi là cánh (cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một
số giun đực có cánh đuôi). Một số loài giun có gai chồi và các bộ phận phụ
khác có tác dụng cảm giác, vận động và bám vào ký chủ. Dưới lớp biểu bì là
lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt. Trong cùng là lớp tế bào cơ có hình sợi,

(vị trí tùy loại khác nhau). Sau khi giao phối xong, giun cái đẻ trứng hay ấu
trùng theo phân hoặc bằng đường khác ra ngoài. Trong trứng chứa phôi bào
hình quả dâu hoặc chứa ấu trùng.
+ Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: Bị tiêu giảm vì sống trong môi trường
yếm khí.
2.1.1.5. Vòng đời của giun tròn
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], đa số giun tròn đẻ trứng, một số
loài đẻ ấu trùng. Trứng được bao bọc trong nhiều lớp vỏ, vỏ ngoài phẳng hoặc
lồi lõm, ở một số loài trứng có nắp ở hai cực. Trứng hoặc ấu trùng của giun
tròn được thải ra môi trường ngoài cùng với phân, đờm, nước tiểu và nước
mắt của gia súc.
Theo Phan Lục và cs (2006) [20], trứng sau khi được thụ tinh, trong
trứng tiếp tục phát triển từ một phôi bào thành nhiều phôi bào, hình quả dâu,
hình ấu trùng giun và hình thành ấu trùng giai đoạn I, sau đó lột xác lần 1
thành ấu trùng giai đoạn II, sau đó lột xác 2 lần thành ấu trùng giai đoạn III, 12
sau lột xác giai đoạn 3 thì ấu trùng giai đoạn IV được hình thành, sau lột xác
lần 4, ấu trùng biến thành giun tròn dạng trưởng thành, ký sinh trong vật chủ.
Lần lột xác 3,4 thường xảy ra trong vật chủ cuối cùng.
Căn cứ vào đặc điểm quá trình phát triển, giun tròn được chia làm hai dạng:
+ Giun tròn phát triển trực tiếp (Giun tròn địa ốc): Vòng đời phát triển
của những loài giun này không cần vật chủ trung gian. Trứng hoặc ấu trùng
sau khi được thải trừ từ vật chủ ra môi trường ngoài, tiếp tục phát triển, lột
xác đến giai đoạn gây nhiễm (ấu trùng giai đoạn III), và nhiễm trực tiếp cho
vât chủ. Giun tròn phát triển trực tiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đũa, giun tóc, giun kim. Quá trình
phát triển theo sơ đồ sau:
Dạng trưởng thành→ trứng→ trứng gây nhiễm

, pH
Dạng trưởng thành
(ở vật chủ cuối cùng)
Thoát vỏ
trứng
Xâm nhập vào vật chủ cuối cùng lột xác 13
máu. Khi vật chủ trung gian (côn trùng) hút máu, ấu trùng A1 xâm nhập vào
vật chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng A2, A3 (ấu trùng gây nhiễm).
Khi côn trùng là vật chủ trung gian hát máu, ấu trùng A3 xâm nhập vào vật
chủ cuối cùng và phát triển thành giun trưởng thành.
Ngoài các dạng trên, giun xoắn (Trichinella spiralis) có vòng đời phát
triển rất đặc biệt. Giun cái đẻ ấu trùng ở niêm mạc ruột vật chủ. Ấu trùng xâm
nhập vào hệ tuần hoàn và di hành về các cơ, tạo thành ấu trùng gây nhiễm. Vì
thế, vật chủ cuối cùng và vật chủ trung gian là cùng một động vật nhiễm
Trichinella spiralis.
* Vòng đời của giun dạ dày lợn
Theo Bùi Lập và cs (1979) [38], thì trứng Gnathostoma theo phân ra
ngoài sau 9 - 10 ngày đã nở ra ấu trùng, ấu trùng này có thể sống trong nước
20 - 30 ngày. Để tiếp tục phát triển thì ấu trùng này phải được bọ nước ăn
phải. Sau khi vào cơ thể bọ nước, ấu trùng Gnathostoma chủ động chui vào
xoang cơ thể, sau 5 ngày lột xác và vào ngày thứ 10 - 12 thì đạt đến giai đoạn
trưởng thành. Trong vòng phát triển của G.hispidium có thể có ký chủ dự trữ
là cá và ếch nhái. Như vậy lợn nhiễm bệnh bằng hai con đường: Khi uống
nước chứa bọ nước bị cảm nhiễm hay ăn phải ký chủ dự trữ (cá, ếch) có chứa
ấu trùng cảm nhiễm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] thì ký chủ trung gian là loài giáp
xác thuộc họ Cyclopidae .Trứng theo phân ra ngoài tùy theo điều kiện nhiệt

hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu
trùng vào phổi. Khi tới phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng
này từ mạch máu phổi chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch
lên hầu, rồi được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun
trưởng thành. Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần, trong khi di hành một
số ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não …
Vòng di chuyển của giun đũa lợn là vòng di chuyển từ gan - phổi - ruột.
Giun đũa hình thành vòng đời là 54 - 62 ngày, tuổi thọ của giun đũa
không quá 7 - 10 tháng, giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian.
Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, bằng cách tiết dịch
tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân.
Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 - 10 tháng. Nhưng nếu điều kiện sống bất
lợi (ký chủ sốt cao) thì tuổi thọ giun ngắn hơn.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8] cho biết: Trứng theo
phân lợn ra ngoài (trứng có phôi) gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp
Ascaris suum
(Ký sinh ở ruột non lợn)
Trứng
Ấu trùng
(có sức gây nhiễm)
Ấu trùng
Phổi<-Gan<-Máu<-
Niêm mạc ruột
Phân
t
0
, A
0
, pH


tiêu hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, vào phổi cũng giống
như trên.
Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc non khoảng 5 - 9 tháng. 16
Phạm Sỹ Lăng (2006) và cs [11] cho biết, giun sống trong hoặc dưới
lớp niêm mạc ruột non. Giun cái sống ký sinh và sinh sản đơn tính. Giun đực
và giun cái sống tự do và thực hiện giao cấu ngoài ký chủ. Sự cảm nhiễm của
vật chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng chui qua
da. Sau khi vào cơ thể gia súc mang thai gây nhiễm cho bào thai trước khi
sinh. Ký sinh trùng còn có thể xâm nhập vào cơ thể vật nuôi sơ sinh qua bú
sữa đầu.
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu về phổi, đi vào các phế nang, gây
ho và tiết dịch. Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành mất
khoảng 9 ngày. Sự phát triển của chúng theo hai con đường:
Một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể
vật chủ mà không cần thụ tinh. Trứng thải qua phân ra ngoài rồi phát triển
thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III.
Hai là vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng
phát triển thành ấu trùng các giai đoạn, các ấu trùng này phát triển thành giun
đực và giun cái trưởng thành. Chúng có thể sống ngoài cơ thể vật chủ. Trứng
được thụ tinh, nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật
chủ nuốt vào cơ thể, giai đoạn này thực hiện trong vòng 10 ngày.
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1985) [33] cho biết: Trong cơ thể lợn,
giun cái ký sinh đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài. Giun lươn phát triển theo
hai cách: Trực tiếp và gián tiếp. Trong điều kiện, độ ẩm và nhiệt độ như nước
ta, từ trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm, thời gian cần khoảng 24 - 36
giờ (phát triển trực tiếp) hoặc từ 2 - 4 ngày (phát triển gián tiếp). Ấu trùng
cảm nhiễm xâm nhập vào cơ thể lợn hoặc qua da, hoặc qua đường tiêu hóa.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], giun tóc phát triển vòng đời
không cần vật chủ trung gian. Giun cái đẻ trứng trong ruột già của vật. Trứng
theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ 18 - 30ºC, ẩm độ 80 -
85%) sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày.
Lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua thức ăn, nước uống sẽ bị nhiễm giun.
Trứng cảm nhiễm vào ruột lợn phát triển thành giun trưởng thành cần 30 ngày.
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1985) [33] cho biết: Chu kỳ sinh học
gồm hai giai đoạn: một giai đoạn ở ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu
trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triển
thành giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ.
Trứng
Ấu trùng
(có sức gây nhiễm)
nhggggagggggggâygggn
hnhinhinhiễm)
Ấu trùng
Phân
t
0
, A
0
, pH

Gia
súc
nuốt
Thọc sâu đầu vào niêm mạc ruột

T
richocephalus suis
Thời gian hoàn thành vòng đời 24 - 43 ngày.
Trứng
Ấu trùng kì I
Ấu trùng kì II
Ấu trùng kì III
t
0
, A
0
, pH
Gia súc nuốt
Oesophagostomum
dentatum
(ruột già, kết tràng)
Phân
Ấu trùng kì IV
(trong u kén ở thành ruột)
Ấu trùng kì V
(phát triển trong xoang ruột) 19
2.1.1.6.Sức đề kháng của ấu trùng giun tròn.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], trứng giun đũa có sức đề
kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày trong điều kiện tự nhiên sống được 1- 2

Ấu trùng O.dentatum có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở - 19ºC đến
- 29ºC qua 10 ngày vẫn sống và chết cũng để ở - 19ºC đến - 29ºC đến 31
ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm. Ấu trùng
rất nhạy cảm với khô ráo. 20
2.1.2. Bệnh giun tròn ở đường tiêu hoá lợn
2.1.2.1. Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn.
Theo Trương Lăng và cs (2002) [14], cho biết tỷ lệ nhiễm G.hispidium
là khá phổ biến, lên đến 30 - 40%. Mức độ cảm nhiễm nặng đã thấy 42 giun
trưởng thành bám vào niêm mạc dạ dày và khoảng 100 ấu trùng nằm trong
lớp cơ của thành dạ dày.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], giun đũa phân bố rộng khắp thế
giới nguyên nhân chính là do vòng đời của giun đũa rất đơn giản, truyền trực
tiếp và sức đề kháng của trứng giun rất cao.
Theo Phan Lục và cs (2006) [21], lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệ
cao, cường độ lớn ở lứa tuổi 3 - 5 tháng. Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun cao
hơn nuôi nhốt. Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun cao
hơn so với lợn đầy đủ dinh dưỡng. Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức
đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun theo
lứa tuổi của lợn như sau: Lợn dưới 2 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 46,9%; Lợn 3 - 7
tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 72,4%; Lợn trên 8 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 73,3%. Lợn
con có tỷ lệ nhiễm giun thấp; ngược lại, đối với lợn lớn, khi ấu trùng nhiễm
vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén. Thời gian sống
của Oesophagostomum dentatum ở cơ thể lợn từ 8 - 10 tháng.
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], điều tra mổ khám lợn ở 7 tỉnh
miền Bắc và miền Trung kết quả như sau: Tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa từ 13,2 -
43,55% với cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con/lợn. Tỷ lệ nhiễm

10 tháng. Quá trình truyền lây giun này còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
(nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…). Ở mỗi vùng, khi gặp điều kiện thích hợp trứng
phát triển thành ấu trùng gây nhiễm phải trên dưới một tuần, khi nhiệt độ 9
0
C
thì trứng ngừng phát triển, khi nhiệt độ 35
0
C thì trứng bị chết. Ngoài ra,
truyền lây bệnh này còn liên quan đến tình hình chăn thả. Nếu thường xuyên
chăn thả trên bãi chăn đã bị ô nhiễm mầm bệnh thì gia súc rất dễ nhiễm phải
giun này.
Theo Bùi Lập (1979) [38], ở miền bắc Việt Nam tỷ lệ nhiễm giun dạ
dày ở lợn rất cao: 63,9%.
Theo Đoàn Thị Phương và cs (2010) [25] : Trứng và ấu trùng giun lươn
phát tán cả khu vực nền chuồng, xung quanh chuồng nuôi; vườn, bãi trồng
cây thức ăn cho lợn do hoạt động tưới phân tươi cho cây.
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [34], thì lợn ngày càng lớn tỷ lệ
nhiễm giun kết hạt ngày càng cao (lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 46,9%, lợn 22
trên 8 tháng tuổi nhiễm 73,7%). Bệnh thấy ở nhiều nơi chăn nuôi không đảm
bảo vệ sinh.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12]: Điều tra các lò sát sinh TP. Hồ
Chí Minh và Đà Lạt, Lương Văn Huấn (1994) đã thấy bệnh giun dạ dày do
G.hispidium là một bệnh khá phổ biến ở lợn, tỷ lệ nhiễm 30 - 40%. Khí hậu
ấm áp thuận tiện cho sự sống và phát triển của trứng và ấu trùng; mưa nhiều
và kéo dài, nhiệt đọ môi trường trung bình 25ºC. Các ấu trùng khu trú trong
lớp cơ của dạ dày nên khi khám thịt không thấy được.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12], cho biết: Lợn con mắc bệnh

lợi của môi trường.
2.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh của giun tròn ở đường tiêu hoá lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết: Bệnh ký sinh
trùng ở đường tiêu hoá của lợn thường tiến triển ở thể mãn tính. Vì vậy, các
triệu chứng biểu hiện thường không rõ ràng và thường bị các triệu chứng khác
che lấp, nên người ta thường ít quan tâm. Vì vậy, con vật nhiễm bệnh thường
gieo rắt ra bên ngoài, lây lan từ con này sang con khác, làm cho mầm bệnh có
điều kiện phát sinh. Những con mắc bệnh thì cơ thể gầy còm, thiếu máu, giảm
sức đề kháng. Sở dĩ, có tác hại này là do bốn tác động sau của ký sinh trùng
đến cơ thể vật chủ.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết:
* Tác động cơ giới:
Phần nhiều ký sinh trùng đều gây những biến loạn cơ giới ở những cơ quan
mà ký sinh trùng ký sinh, biểu hiện: Gây sung huyết, xuất huyết, rách loét.
Những ký sinh trùng có kích thước lớn, ký sinh với số lượng nhiều thường
gây tắc, thủng và vỡ các khí quan hình ống như: ruột, ống mật, mạch máu.
Nhiều ký sinh trùng còn có giác bám, móc làm rách, thủng, tróc niêm mạc,
xuất huyết, phá hoại các tổ chức, gây xuất huyết.
Phần lớn ấu trùng của ký sinh trùng khi xâm nhập vào vật chủ đều có quá
trình di hành qua nhiều khí quan và gây tổn thương cho các khí quan này.
* Tác động chiếm đoạt: Ký sinh trùng nuôi dưỡng bản thân bằng cách
chiếm đoạt một phần dinh dưỡng của vật chủ, hút máu vật chủ. Tác động này
diễn ra liên tục bởi nhiều ký sinh trùng nên làm vật chủ gầy, yếu, thiếu máu.
* Tác động đầu độc: Một số ký sinh trùng tiết độc tố, mặt khác còn đào
thải ra các sản vật của quá trình trao đổi chất làm cho vật chủ bị trúng độc.
Tác hại của các chất độc này tùy pha phát triển của ký sinh trùng, ở giai đoạn
ấu trùng gây tác hại nhiều hơn ở giai đoạn ở giai đoạn trưởng thành. 24

Nếu làm rách ruột thì lợn chết đột ngột. Giun có thể chui lên dạ dày, thực
quản, ra, mồm hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở. 25
+ Bệnh giun tóc ở lợn:
Giun tóc có phần đầu nhỏ, dài, phần này cắm sâu vào niêm mạc ruột
gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ. Trong
quá trình sống, giun tóc tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc.
Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất
huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy
+ Bệnh giun kết hạt ở lợn:
Ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những hạt (u kén). Những
hạt này thường bị mưng mủ do ấu trùng giun mang vi khuẩn vào gây nên.
Giun trưởng thành hút máu ký chủ và ăn các tế bào niêm mạc ruột già
làm cho con vật bị mất máu, loét niêm mạc gây rối loạn tiêu hoá nặng.
Giun tiết độc tố gây trúng độc cho ký chủ làm cho gia súc non chậm
lớn, gia súc trưởng thành giảm khả năng sản xuất.
+ Bệnh giun dạ dày ở lợn:
Theo Bùi Lập và cs (1979) [38], giun Gnathostoma bám chắc và bám
rất sâu vào thành dạ dày hay thực quản lợn. Vì thế trên bề mặt tương mạc của
thực quản hay dạ dày thường có thể thấy những chỗ u. Giun dựa vào những
cấu tạo kitin của đầu và cutin ở thân phá hủy niêm mạc dạ dày, dẫn đến viêm
cấp sau thành viêm dạ dày mãn tính.
2.1.2.3. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
* Đối với bệnh giun đũa lợn:
+ Triệu chứng: Bệnh giun đũa có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở
lợn con từ 2 - 4 tháng tuổi. Giun đũa gây bệnh do tác động cơ giới, độc tố tác
hại đến cơ thể lợn và chiếm đoạt chất dinh dưỡng, Triệu chứng chính của
bệnh là viêm ruột, bần huyết và gầy dần, có triệu chứng thần kinh ở lợn con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status